Pages

Wednesday, September 23, 2026

A Dậu

 


(Ảnh Minh họa) 

Nhà tôi cách ngôi trường làng có bốn căn nhà khác, đó là những căn nhà của bác tám Toán, ông bảy Đời, ông năm Phận, anh xã Chênh, những căn nhà kia đều là cột tre, vách lá. Riêng có nhà anh xã Lý Quốc Chênh là cột gỗ thao lao, vách đóng bổ kho, mái lợp ngói móc. Nhà của cha tôi tuy cột gỗ, nhưng vách lá mái lá, vì ở vùng nước nổi nên mấy căn nhà trên là nhà sàn, trừ nhà ông bảy Đời nền đất như nhiều căn nhà khác.

 

Khi đi học vở lòng, tôi theo chú qua bên kia sông học trường làng khác, do chú tôi làng trưởng giáo, rồi chiến tranh xảy ra chú tôi bỏ trường về tỉnh, trường gần nhà các thầy giáo theo Thanh Niên Tiền Phong bỏ trường, bỏ lớp cho nên tôi bị thất học vài năm.

Sau đó, một người cháu gọi ông Phủ là ông cố, vốn là con của một thầy giáo dạy ở trường tỉnh, lấy ngôi trường làng mở lớp dạy tư, tôi theo học lớp học nầy, nhưng thầy giáo ấy tôi chỉ gọi là Chú Hai, chớ không bao giờ gọi là thầy, vì chú ấy với cha tôi đều là cháu cố của ông Phủ, lại nữa trước kia khi tôi lên ba, lên bốn nhà chú cách nhà tôi chỉ có một căn nhà khác.

Đến giờ ra chơi của học trò vào buổi sáng hay buổi chiều, chú Hai thường hay đến nhà tôi uống nước trà, bàn chuyện thời sự với cha tôi. Vài năm sau, tôi với vài học trò của chú, cùng đi thi tại trường tỉnh, năm đó tôi đậu bằng Sơ đẳng Tiểu học. 

 

Rồi chú ấy xin được làm thầy giáo, ở tỉnh lại phân bổ thêm một người thầy giáo nữa, thế là trường làng tôi có hai thầy dạy học trò, thay vì tôi được xuống tỉnh học, nhưng vì nhà không đủ sức nuôi, nên cha mẹ tôi cho tôi tới trường đi học một buổi sáng, buổi chiều ở nhà phụ giúp việc nhà, chờ thuận tiện cho tôi xuống tỉnh học tiếp.

Trường có thêm thầy giáo, hơn nữa học trò đi học khỏi phải đóng tiền, nên nhiều phụ huynh cho con em tới trường, cô tôi có đứa cháu ngoại cũng được mẹ cháu cho tới trường, nó rủ thêm một đứa bạn cùng xóm đi học, bạn của nó là con của chú chệt ở sát cạnh nhà cô tôi, chú ấy ai cũng gọi là chú chệt Soạn, còn tôi gọi là chú Tư vì là hàng xóm của cô tôi.

Chú Tư và thím tư, người không quen biết mới nhìn biết ngay là khách trú, chú cũng như thím, không rõ từ đâu tới, mua đất đai và cất nhà bên cạnh nhà cô tôi, nói tiếng Việt rành nhưng giọng còn lơ lớ, chú thím có 2 cô con gái, cô gái lớn chắc hơn tôi bốn năm tuổi, tên là A Muối, tôi gọi là chị Muối, cô gái kế nhỏ hơn tôi một vài tuổi, tên là A Dậu, chắc cả hai sinh ra tại Việt Nam, nên nói tiếng Việt chẳng khác chi người Việt.

Cháu tôi ở nhà bà ngoại là cô tôi, nhà cô ấy và chú thím Tư ở đầu cù lao, gần ngôi chợ làng, từ đó cách trường học chừng bốn cây số ngàn.

Trường học thầy giáo dạy ngày hai buổi, nhiều học trò nhà ở xa trường, đi học phải mang theo thức ăn, buổi trưa ăn cơm tại trường, còn cháu tôi và A Dậu đến nhà tôi ăn trưa, có khi leo lên võng đưa kẻo kịt rồi ngủ trưa một giấc, cho đến khi nghe tiếng trống trường báo hiệu giờ học buổi chiều, hai cô bé mới thức dậy vội vàng rửa mặt, ôm vở tới trường.

Vào những dịp Tết hay có giỗ quảy ở nhà cô tôi, tôi thường đến dự, khi chị Muối được gia đình gả đi lấy chồng, A Dậu không còn đi học nữa, nên sang nhà cô tôi phụ giúp nấu nướng hay dọn mâm cỗ, tôi vẫn được gặp A Dậu trông cô xinh đẹp và thùy mị, e lệ mỗi khi chạm mặt tôi.

Một lần vào dịp Tết, tôi đi chúc Tết cô tôi, A Dậu cũng sang phụ dọn ăn, nhân khi không có ai, A Dậu đang cầm mỗi tay một dĩa thức ăn, mang đến cho tôi để tôi mang ra dọn ở bàn, khi A Dậu đến gần tôi liền vịn hai vai A Dậu và đặt lên gò má ửng hồng của nàng một cái hôn, A Dậu phản ứng nhẹ nhàng:

- Đừng anh!

Rồi tôi đi học và xa gia đình. Mấy năm sau, nghe nói A Dậu đã lập gia đình, nhiều năm sau nữa chú thím Tư Soạn mất, đất nhà của chú bán cho người khác, từ đó tôi không nghe ai nói về chị Muối và A Dậu. Rồi cô tôi cũng mất, mỗi khi về quê tôi không có nhiều thì giờ để đi thăm con cháu của cô tôi, tuy nhiên thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ tới A Dậu, hình ảnh cô xẩm nhỏ duyên dáng ở trong lòng tôi.

Gần đây, trong một dịp về quê, tôi phải đi phà qua sông để thăm gia đình người em cô cậu, lúc mới bước xuống phà tôi thấy một người đàn bà trộng tuổi, nhìn tôi không e ngại, khi tôi đứng yên chỗ, phà từ từ rời bến, người đàn bà ấy bước đến bên tôi hỏi:

- Xin lỗi! Anh có phải là anh của chị Út Lan không ?

Tôi ngạc nhiên, không trả lời ngay, nhìn người đàn bà để moi trong trí xem có gặp bà ta lần nào chưa ? Bà ta tuy có tuổi, nhưng dáng người thon gọn, mặc một bộ bà ba vải đắt tiền màu nhã, tóc cắt ngắn chấm vai, uốn dợn cho tôi đoán ngay bà ta người đứng đắn, gia đình khá giả ở thôn quê, là ai ? Tôi đành chịu, nhưng đoán biết vai vế nhỏ hơn, nên tôi đáp lời:

- Dạ phải! Tôi là anh của Út Lan. Nhưng xin lỗi cô là ai ? Biết tôi mà tôi chưa nhận ra được cô !

Cô ta không mừng khi biết rõ tôi, lại có cử chỉ và giọng nói hờn trách:

- Phải rồi ! Anh không nhớ em cũng phải !

- Xin lỗi ! Cho tôi hỏi lại lần nữa, cô là ai ?

Cô ta ngập ngừng đáp:

- Em … là .. A Dậu đây !

Tôi không còn bình tỉnh, đưa cả hai tay nắm vai cô ta, nói to:

- A Dậu!

Tiếng gọi của tôi làm cho vài người đứng gần, ngạc nhiên nhìn về phía chúng tôi, tôi lấy lại bình tỉnh, bỏ tay khỏi hai vai A Dậu nói:

- Không ngờ hôm nay lại được gặp cô !

- Em cũng vậy !

- Giờ cô đi đâu ?

- Em mới được tin, thằng con út của em nằm ở bệnh viện dưới tỉnh, nên em liền phải đi xuống đó thăm nó.

- Tôi đi với cô nghe ?

- Chi vậy anh ?

- Lâu ngày mới gặp, để có thì giờ nói chuyện nhiều hơn.

- Hồi đó em chờ đợi anh, từ khi em có gia đình em vẫn thầm mong có ngày gặp lại, nhưng nhà em đã bán, cô anh bà Tám đã mất, từ đó em nghĩ sẽ không bao giờ gặp lại, không ngờ hôm nay em còn được gặp anh.

A Dậu nói đến đó, phà cập bến, mọi người rộn rịp lên bờ. Tôi đi theo A Dậu, chưa kịp nói thêm điều chi, cô đã lên tới đường rồi bước lên chiếc xe đò. Khi tôi lên bờ, xe từ từ lăn bánh, tôi kịp nhìn thấy A Dậu đã ngồi trong xe, nhìn lại vẫy tay chào.

Tôi đứng bên vệ đường ở bến phà nhìn theo xe, một câu hỏi tự dưng nổi lên xâm chiếm tâm hồn tôi: Sao dung ruổi gặp lại A Dậu làm chi, khuấy động mặt hồ sau mấy mươi năm yên tĩnh ?!   

10-II-2015








Tuesday, September 22, 2026

Bằng Cấp ngày xưa

Thỉnh thoảng đến nhà bạn bè thấy trên tường treo những bằng cấp BA, BS hay MA, MS và Ph D thấy mà nhớ đến những ngày xưa đi học và những mảnh bằng có được.

Tôi không phải thuộc loại lười, nhưng không được chuyên cần lắm, chỉ thuộc dạng trung bình mà thôi. Khi tôi học năm Đệ Tứ tại Trường Kỹ Thuật Cao Thắng, Kỷ sư Cao Thanh Đảnh, tốt nghiệp Kỷ sư Công nghệ ở Pháp về trường làm Hiệu Trưởng, ông chọn học lọc học sinh từ giỏi cho đến yếu kém chia thành 5 lớp A, B, C, D, E. Năm trước tôi từ Đệ Ngũ D được xếp vào Đệ Tứ A. Năm đó, tôi thi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp Kỹ thuật.

 

 

Sau khi đậu Trung Học Kỹ Thuật Đệ Nhất Cấp, được theo học Đệ Nhị Cấp, tôi được xếp vào lớp Đệ Tam A, cùng là lớp những học sinh giỏi, hạnh kiểm tốt.

Đến năm Đệ Nhị, nay tương đương lớp 11, phải thi lấy bằng Tú Tài I cũng gọi là Tú Tài phần thứ nhất, có bằng nầy mới được lên lớp Đệ Nhất, tương đương với lớp 12 của Trung học phổ thong ngày nay.

Ngày xưa lên Đệ nhị cấp gồm các lớp Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất, tương đương với lớp 10, lớp 11, lớp 12 ngày nay. Chia làm những ban chuyên môn sau đây: Ban A là khoa học thực nghiệm chuyên học về Vạn vật dễ theo học ngành Y, Dược. Ban B là khoa học tự nhiên, chuyên học về Toán, Lý Hóa. Ban C chuyên học về Văn chương. Ban D chuyên học về cổ ngữ. Cuối cùng là Kỹ thuật.

Thi Tú Tài phần I hay II, đều có 2 kỳ thi mỗi năm, thi rớt kỳ I, được thi lại kỳ II. Năm tôi học Đệ nhị niên khóa 1961-1962. Tôi nộp đơn thi Tú Tài Kỹ thuật và Phổ thông. Năm đó, tôi thi rớt cả 4 kỳ thi.

Niên học sau 1962-1963, tôi phải học lại, không còn được học lớp A mà phải xuống học tới lớp E. Năm nầy, tôi phải cố gắng học, vì nếu thi rớt sẽ phải bị động viên đi học trường Hạ sĩ quan Đồn Đế ở Nha Trang. Cho nên niên học nầy tôi phải cố gắng, nên đậu hạng Bình Thứ.

Năm học sau, dù đậu hay rớt khi đã có bằng Tú Tài phần I đều được đi học Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tôi có cố gắng và cũng đi học luyện thi vào Trường Kỷ sư, nhưng chỉ đậu Tú Tài II hạng Thứ.

Thi vào Trường Kỷ sư Công nghệ Phú thọ. Lúc đến giờ đi thi môn dễ nhất cho học sinh kỹ thuật như tôi là môn Kỷ nghệ họa, nay gọi là Vẽ kỹ thuật, đạp xe máy không nổ, đưa ra tiệm thợ sửa không được, trễ giờ thi bỏ thi.

Buổi chiều Hoàng Thanh, con trai của Nghị sĩ Hoàng Thế Phiệt, bạn cùng lớp ghé nhà hỏi, sao tôi bỏ thi, tôi kể lại chuyện xe không nổ máy, anh ta bèn mượn dụng cụ dũa, cưa của tôi, để hôm sau thi xưởng. Hoàng Thanh Thi đỗ theo học Kỷ sư Cng nghệ Phú Thọ, ra trường được học bổng đi Pháp rồi chuyển sang đi Đức, nay sinh sống ở tiểu bang Maryland, Mỹ.

Năm đó, tôi dự thi vào Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Phú Thọ, sau 1972 chuyển thành Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức, tuyển 10 người, tôi đậu hạng 12, tức là người dự khuyết thứ 2. Cuối cùng khóa đó chỉ có 6 người theo học mà thôi, nhiều người vừa thi đậu vào Kỷ sư Công nghệ, vừa thi đậu vào Sư Phạm Kỹ thuật, nên họ theo học Kỷ sư. Tuy nhiên có anh Nguyễn Văn Bài lại chọn học Sư Phạm Kỹ Thuật và anh Nguyễn Mạnh Hoạt lại được học bổng đi Pháp, nên anh đi du học ở Pháp, nay sinh sống tại thành phố Nante ở miền Nam xứ Pháp.

Tốt nghiệp Sư Phạm không có phát bằng, chỉ có chứng chỉ. Năm nào đó đồng môn Trịnh Như Tích, về trường Sư Phạm trong khi chờ đợi bổ nhiệm đi trường khác, anh tự làm và cấp cho tôi một cái chứng chỉ, gọi là để kỷ niệm. Bởi vì sau khi mãn khóa, được Sự Vụ Lệnh đi trình diện nơi trường mình sẽ dạy, sau đó được hợp thức hóa bằng Nghị Định của Bộ Giáo Dục bổ nhiệm, do ông Tổng hay Bộ Trưởng ký tên, nên không ai quan tâm đến vấn đề bằng cấp nầy.

Tôi cũng đã gìn giữ mấy chục năm qua những bằng cấp mình đã có, nhưng tôi thích nhất là cái bằng Sơ Đẳng Tiểu Học.

Hồi nhỏ, đi thi ở trường tỉnh Long Xuyên, gia đình cho đi thi, cũng như cho tôi đi chơi cho biết, từ nhà quê ra tỉnh lỵ chỉ có 1 mình, tạm ở nhà người quen ở Cái Sơn đi thi. Ngày kêu Résulta (kết quả) Tôi đậu mà không nghe xướng danh mình, chỉ nghe tên thằng em Chú Bác, nên nghĩ rằng đã rớt, do vậy bị gán cho tên Bùi Kiệm và Tô Võ vì ở nhà có chăn bầy dê ! Tuần sau, anh tôi đi học ở tỉnh về, báo cho biết tôi đã thi đậu và năm sau cũng chính anh lãnh bằng mang về. Còn nữa, vì Đệ nhị thế chiến, mới có 5, 6 tuổi ở nhà quê tôi đã bị thất học. Sau đó đi học lại, học trường tư, năm 1950 thi đậu bằng Sơ Học, người ta có bằng để đi học, còn tôi có bằng lại bị thất học 4 năm. Đến năm 1954, mới được đi học lại. Năm 1956, học đứng hạng nhứt trong lớp, năm đó được miễn thi bằng Tiểu Học.

Được đi Trại Hè Học Sinh tại Vũng Tàu 3 tuần lễ không phải đóng tiền.

Có bằng Tiểu Học, thi tuyển vào Trung Học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc, tranh đua trên 2 ngàn thí sinh, tuyển lấy 300 thí sinh, tôi đậu thứ 51 mặc dù làm trật hết 2 bài toán đố. Năm nầy tôi cũng thi tuyển vào Trung học Kỹ thuật Cao Thắng tranh đua với 3 ngàn thí sinh, tôi chỉ làm trúng có 1 bài Toan đố, tôi cũng đậu hạng 132/250 thí sinh tuyển vào. Nhờ vậy, tôi mới được lên Sàigòn ăn học.

Sau khi Tốt Nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật, ra Trường đi dạy học tại Trung học Kỳ Thuật Banmêthuột rồi bị động viên đi khóa SVSQTB Thủ Đức năm 1968, ra trường năm 1969, ra đơn vị thuộc Tiểu Đoàn 21 Tiếp Vận, căn cứ tại Sóc Trăng, nhưng được chỉ định làm Trung Đội Trưởng Sửa Chữa, đóng quân tại Thị xã Cà Mau, sau đó về làm Trung đội Trưởng Hậu Cứ đóng quân tại TĐ 21 Tiếp Vận tại Sóc Trăng. Tháng 5 năm 1969 được biệt phái về dạy học lại tại THKT Banmêthuột, đến tháng 10 năm 1970 được thuyên chuyển về THKT Nguyễn Trường Tộ, Sàigòn. Đến tháng 10 năm 1974 được chỉ định làm Hiệu Trưng THKT Nguyền Trường Tộ.

Tháng 5 năm 1969 được biệt phái về dạy học lại tại THKT Banmêthuột, đến tháng 10 năm 1970 được thuyên chuyển về THKT Nguyễn Trường Tộ, Sàigòn. Đến tháng 10 năm 1974 được chỉ định làm Hiệu Trưởng THKT Nguyền Trường Tộ. Cấp bậc sau cùng trong quân ngũ là Trung Úỵ ngành Quân Cụ, chuyên môn Quân Xa và Vũ Khí.

Trong thời gian được chuyển về Sàigòn, tôi ghi danh học thêm ở Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn của VĐH Vạn Hạnh.

Đến năm 1973 tôi lấy bằng Cử Nhân Văn Chương tại đây.


Tôi đã học Cao Học Năm Thứ Nhất, đang tiếp tục học năm thứ 2 thì sự kiện Miền Nam Giải Phóng năm 1975, tôi đành gát việc học lại, đi Học Tập Cải Tạo, rồi đi diện HO sang Hoa Kỳ năm 1991, sang đây cơm áo gạo tiền, lo cho gia đình, nên không thể tiếp tục học thêm mặc dù có cặp sách đến Trường học được mấy mùa.

Cuối đời nhìn lại, việc thi cử của tôi không mấy tốt đẹp, làm chi mà có vai trò Trưởng thì chỉ được vài tháng là đi chỗ khác chơi.

Bổ túc 22092026









Monday, September 21, 2026

Thử tìm hiểu Lễ phục và Quốc phục nước ta

 Thử tìm hiểu Lễ phục và Quốc phục nước ta

Áo dài các nguyên thủ quốc gia mặc ở Hội nghị APEC tại VN năm 2006

Quần áo riêng biệt người Việt chúng ta mặc, có thể gọi đó là Việt phục, những áo quần nào mà chúng ta mặc những chỗ trang nghiêm hay chốn công đường gọi là quốc phục, mặc cho những buổi lễ lớn hay tế tự gọi là lễ phục. Lễ phục của vua chúa có triều phục, quan lại có phẩm phục, quân lính có nhung phục, thường dân có lễ phục như mũ ô sa, áo giao lĩnh, hia ủng vải tất cả đều màu thâm.

Vì sao áo dài, được cho là quốc phục nước ta, vì áo dài từ những vị nguyên thủ quốc gia cho chí người dân nam cũng như nữ đều mặc giống nhau.

Chúng ta thấy hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu mặc áo dài, đội khăn đóng bên cạnh bà Từ Cung và các hoàng tử, công chúa.

Tổng thống Ngô Đình Diệm mặc áo dài khăn đóng:

Quốc trưởng Phan Khắc Sửu mặc áo dài khăn đớng:

Tưởng cũng nên tìm hiểu về nguồn gốc quốc phục. Theo sách sử ký chép thì người Văn Lang, tổ tiên dân tộc việt, mặc áo gài về bên tả (Tả nhiệm), đến thế kỷ thứ nhất sau khi chúng ta bị Bắc thuộc, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu, nên ngày nay chúng ta thấy áo cài về tay phải. Do vậy chưa ai rõ nguồn gốc đích thực của chiếc áo dài, chỉ biết rằng thủy tổ của nó, vốn làm bằng da thú và lông chim, qua các hình khắc trên mặt trống đồng Đông Sơn (2000 - 3000 năm trước Tây Lịch). Quần áo được tả trên trống có các loại như: áo hai vạt ngắn, áo hai vạt dài, váy, khố...Họ đội nhiều loại mũ, tết các kiểu tóc khác nhau.

Trống Đồng Đông Sơn

Hình người mặc y phục trên mặt trống đồng Đông Sơn

 

Hình người mặc y phục trên mặt trống đồng Ngọc Lũ

Theo truyền thuyết, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng, trang sức thật lộng lẫy khi cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân nhà Hán.

Cũng tương truyền, do tôn kính Hai Bà, phụ nữ Việt Nam tránh mặc áo hai tà nên  thay bằng áo tứ than, với bốn thân áo tượng trưng cho bốn bậc sinh thành (của hai vợ chồng). Vả lại, khi đó kỹ thuật còn thô sơ, vải được dệt thành từng mảnh khổ nhỏ nên phải ghép bốn mảnh lại mới may đủ một áo, gọi quen là áo tứ thân. Áo gồm hai mảnh đằng sau chắp lại giữa sống lưng (gọi là sống áo), mép của hai mảnh được nối vào nhau và dấu vào phía trong. hai mảnh trước được thắt lên và để thòng xuống thành hai tà áo ở giữa, nên không phải cài khuy (cúc, nút) khi mặc. Bình thường, gấu áo được vén lên, chỉ khi có đại tang (tang chồng hay cha mẹ) mới thả xuống và mép vải để lộ ra ngoài thay vì dấu vào trong. Đấy là hình ảnh chiếc áo dài tứ thân mộc mạc, khiêm tốn.

Áo tứ thân, nón quai thao

Sau khi xua quân đánh đuổi quân Hai Bà, tướng Mã Viện áp đặt một chế độ cai trị hà khắc nhằm đồng hóa nền văn hóa Việt. Hơn 1000 năm dưới sự đô hộ của Trung Hoa, chiếc áo dài, áo tứ thân cũng nỗi trôi theo mệnh nước nhưng không bao giờ bị xóa bỏ. Áo tứ thân vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là miệt quê, cho đến ngày hôm nay.

Dưới thời chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765), Theo Lê Quí Đôn Phủ biên tạp lục, ông đã hiểu dụ dân chúng áp dụng y phục khác với Trung quốc và Nam Bắc thống nhất nhau, nội dung như sau:

"Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng chỉ tuân theo quốc tục, nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cỡi biên, trong ngoài như nhau, chính trị và phong tục cũng nên thống nhất. Nếu cọ̀n có người mặc quần áo kiểu người khách (Trung quốc, TTB chú) thì nên đổi theo thể chế của nước nhà. Đổi may y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa, duy có quan chức thì mới cho dùng xen the, là, trừu, đoạn, còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng nhất thiết không được quen thói cũ dùng càn. Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mớ. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được. Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh chàm hoặc vải đen, hay vải trắng tùy nghi. Còn các bức viền cổ và kết lót thì đều theo như điều hiểu dụ năm trước mà chế dùng."

Sách Đại Nam thực lục tiền biên cũng có chép: "Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục". Trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương Đào Duy Anh viết: " Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương nam bắt dân gian cải cách y phục. Theo giáo sĩ Koffler thì chúa bắt bỏ lối quần áo thô bỉ của người đàng ngoài, mà châm chước theo lối quần áo của ngưòi Tàu. Có lẽ từ bấy giờ người đàn bà đàng trong bắt đầu mặc áo cài khuy và mặc quần, mà không mặc áo thắt vạt và mặc váy như người đàng ngoài nữa.  Đời Minh Mệnh có lệnh cho đàn bà đàng ngoài phải mặc quần, nhưng chỉ những người giàu sang ở thành thị tuân theo,chứ ở nhà quê thì đến nay đàn bà cũng vẫn mặc váy."

……..

Đàn ông đàng trong cũng như ở đàng ngoài  đều búi tóc và chit khăn; đàn bà ở đàng ngoài thì bao tóc hoặc chít khăn, còn ở đàng trong thì họ búi tóc và trùm khăn. (NXBVHTT, 2006, trang 187)

Vào thời vua Gia Long (1802 1819), chiếc áo dài tứ thân được biến cải thành áo ngũ thân, rất phổ thông trong giới quyền quý và dân thành thị. Áo ngũ thân cũng dược may như áo tứ thân, nhưng vạt áo bên phải phía trước chỉ được may bằng một thân vải, còn vạt áo bên trái được may bằng hai thân vải như vạt áo đằng sau. Ngoài ra, áo năm thân có khuy áo như đàn ông, lúc mặc có thể cài khuy như áo dài ngày nay hoặc thắt vạt như áo tứ thân. Về ý nghĩa, bốn thân áo chính tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và thân thứ năm (vạt con) tượng trưng cho người mặc áo; năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo Khổng Giáo: Nhân (lòng thương người, nhân từ), Lễ (biết trên, dưới), Nghĩa (nghĩa khí), Trí (sự sáng suốt, trí tuệ), Tín (uy tín). Rõ ràng, chiếc áo dài ngũ thân diễn đạt nhân sinh quan của Việt Nam nhưng không khỏi sự ảnh hưởng của Trung Hoa qua nhiều năm đô hộ.

Khi triều đình Huế ký hòa ước Patenôtre nhượng quyền cai trị nước vào tay Pháp năm 1884, văn hóa Tây Phương bắt đầu du nhập vào Việt Nam, đi đôi với việc dạy chữ Quốc Ngữ thay chữ Nho. Cuộc sống bỗng biến đổi theo đà đua đòi của văn hóa Tây Phương, nhất là ở những đô thị lớn.

Sau khi chính phủ Pháp mở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, một lô cải cách cho chiếc áo dài truyền thống đã được một số người có tâm huyết với chiếc áo dài đưa ra. Các màu nâu, đen thường được thay bằng bằng các sắc màu tươi sáng hơn, gây sôi nổi trong dư luận quần chúng thời ấy. Năm 1934, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã khích động phong trào cải cách: "...Các nhà đạo đức thường nói: Quần áo chỉ là những vật dụng để che thân thể ta khỏi bị gió mưa, nắng lạnh, ta chẳng nên để ý đến cái đẹp, cái sang của nó làm gì...Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân, song nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước. Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của người nước họ, ta cũng đủ hiểu...."

Trong thập niên 1930, Cát Tường đưa ra thị trường kiểu áo dài mới Le mur. Kiểu Le mur được vẽ theo kiểu áo đầm Tây Phương với nối vai và tay phồng, cổ lá xen, cài khuy trên vai, mặc với quần trắng, đeo bóp, che dù, v.v...

Áo dài tay phồng, dựa theo áo Le Mur (cổ lá sen)

Sau đó, họa sĩ Lê Phổ cải tiến áo Le mur và mẫu áo dài này được hoan nghênh trong Hội chợ Nữ Công Đà Nẵng. Đây là một kết hợp giữa áo Le mur và áo tứ thân, rất gần gũi với chiếc áo dài tân thời ngày nay: nối vai và tay không phồng lên, cổ kín, cài nút bên phải, thân ôm sát người, hai tà áo mềm mại bay lượn. Áo dài Lê Phổ được may bằng vải màu mặc với quần trắng, tóc búi lỏng hay vấn trần hoặc vấn khăn nhung. trong suốt gấn 30 năm sau đó chiếc áo dài Việt Nam không thay đổi bao nhiêu, ngoại trừ cổ áo, gấu áo, và eo áo: cổ áo thì lúc cao, lúc thấp, lúc rộng, lúc hẹp; gấu áo thì lúc vén cao, lúc hạ thấp; eo áo thí lúc nhỏ lúc to. Những thay đổi này đi đôi với những thay đổi nho nhỏ cũa chiếc quần phụ nữ: chân què qua đáy giữa, lưng quần thắt giải rút rồi tới giây thung, gài nút, và sau cùng là dùng phẹc mo tuya (fermeture), ống quần thì lúc rộng lúc hẹp theo thị hiếu thẩm mỹ của từng giai đoạn một.

Áo dài nhấn eo

Áo dài hở cổ của Bà Ngô Đình Nhu

Mãi đến đầu thập niên 1960, nhà may Dung Đakao ở Sài Gòn đưa ra một kiểu áo dài mới: áo dài tay raglan mặc với quần xéo. Vì tay áo và thân áo được nối xéo góc khoảng 45 độ, kiểu áo dài raglan này tránh được những đường nhăn hai bên nách và vai (so với kiểu áo Lê Phổ). Chiếc quần xéo may bằng vải mềm, được xếp xéo góc khi cắt, có hông ôm sát người và hai ống lòa xòa dài qua mắt cá chân giúp cho nữ giới có những bước đi tha thước qua đôi guốc ẩn hiện dưới hai ống quần.

Áo dài Raglan

Áo dài Mini

Sau áo dài raglan là áo dài mini raglan, vốn là áo raglan may với tà áo cao gọn ghẽ. kiểu mini raglan này được các nữ sinh Sài Gòn ưa chuộng mãi cho đến cuối tháng Tư 1975.

Cảm thấy muốn tiến xa hơn, một số nhà may tại Sài Gòn đã tung ra thị trường kiểu áo dài ba tà gốm một vạt sau và hai vạt trước. Cổ áo cao, có khuy cài từ cổ xuống eo. Áo ba tà được mặc với quần ống voi, thứ quần dài có ống rộng thùng thình. Kiểu áo này không ưa chuộng cho lắm vì không thích hợp với bản chất ôn nhu cũa nữ giới Việt Nam. (Theo tài liệu Mạng)

Theo những tài liệu trên, chúng ta thấy đàn ông đàn bà xưa đều búi tóc, sau chịu ảnh hưởng của Pháp, những người tân học cắt tóc ngắn vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do búi tóc nên phải chít khăn, bao tóc hay trùm khăn.

Về phái nữ búi tóc hay chit khăn, chúng ta thấy như bà Nam Phương hoàng hậu:

Một phụ nữ vào đầu thế kỷ 20

Các thiếu nữ bao tóc:

 

Ngày nay phái nữ hầu hết không còn để tóc dài, nên không có búi tóc, chit khăn, cho nó khỏi xõa ra, vướng víu khi làm công nọ, việc kia. Khi đám cưới phái nữ đội khăn đóng, nếu chỉ có 12 vòng tượng trưng cho “Thân gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu” : Công, hầu, khanh, tướng. Sĩ, nông, công, thương. Ngư, tiều, canh, mục. Có người cho đó là 12 con giáp, có người cho là 12 nhân duyên của đạo Phật, hai lý giải sau không đúng với 12 bến nước của nhà Nho, hoặc vì muốn cho đẹp người ta làm nhiều vòng hơn như khăn đóng của Nam Phương Hoàng hậu.

Nam Phương Hoàng Hậu

Về phía nam giới người ta cũng chit khăn như ông Phan Thanh Giản:

hay anh hùng Đề Thám đất Yên Thế:

hoặc những anh nho sinh:

Nho sinh trong phim Lều Chõng

Để cho tiện khỏi phải chit khăn mất thì giờ, người ta dùng khăn đóng, vua cũng như dân:

Vua Khải Định

Hoàng đế Bảo Đại

Sĩ Tải Pétrus Trương Vĩnh Ký

 

Khăn đóng người ta làm hoặc là có 7 vòng, hoặc là có 5 vòng, loại bảy vòng được giải thích đó là theo nghĩa “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” còn năm vòng có nghĩ là “Ngũ thường: Nhân, nghĩ, lễ, trí, tín”, dưới cùng những vòng đó khăn đóng của vua Khải Định hay Bảo Đại chỉ là một vạch ngang chữ  一 “nhất” còn của Trương Vĩnh Ký chữ 入(nhập), hình trên đây chữ 人(nhân), những chữ ấy đều có ý nghĩa là bậc trên cùng, thay Trời trị dân, nhập hay đi vào đạo nghĩa làm người, còn chữ nhân là đạo làm người, phải giữ ngũ thường.

Áo dài đàn ông có 5 nút, đó cũng là biểu tượng cho giềng mối Ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Về màu sắc, vua hay quyến thuộc nhà  vua mặc màu vàng nên được gọi là “hoàng tộc”, màu đỏ thường để cho những vị thần thờ ở tôn miếu, những nhà quyền quý thì mặc gấm, lụa là màu sắc, còn những người thường mặc màu thâm, màu trắng dành để mặc khi có tang.

Với áo dài khăng đóng chúng ta thấy phái nữ mặc rất đẹp, đáp ứng được thị hiếu về nét đẹp của nữ phái sang trọng, thướt tha. Những năm 60, các nữ sinh Sàigòn mặc áo dài trắng cỡi xe Vélo-Solex đen, cài vạt áo ở phía sau, chạy xe gió tung tà áo là dấu ấn khó quên nét đẹp Sàigòn xưa.

Hình ảnh gợi nhớ xưa hơn một thời Sàigòn với xe thổ mộ, hình ảnh chiếc áo dài thước tha của thập niên 40, 50 thế kỷ trước.

Nhưng về phái nam có người chê, cho rằng nó không có nét đẹp. Chúng tôi trộm nghĩ quốc phục nam có thể không đẹp, nhưng chắc chắn là không xấu, hơn nữa một cập tân hôn mặc áo dài, khăn đóng, làm cho buổi lễ cưới tăng thêm mỹ quan, đầy ý nghĩa.

Khăn đóng Nam, nên may 5 vòng và có chữ nhân ở dưới, khăn đóng nữ nên may 12 vòng hoặc làm nhiều vòng hơn và ở dưới cùng có 2 cánh hoa như hiện nay.

Áo dài khăn đóng tượng trưng cho quốc hồn, quốc túy của dân tộc. Cho nên bản sắc đó chúng ta cần phải gìn giữ và hảnh diện vì nó biểu hiện cho “Bốn nghìn năm văn hiến” tiền nhân ta đã để lại. Nó là quốc phục được mặc trong những dịp lễ quan trọng có tánh cách cỗ truyền như lễ Cưới, Hỏi, Tết, cho nên đương nhiên nó cũng là Lễ phục vậy.