Pages

Friday, July 24, 2026

Mấy dấu thư hương

Phạm Quốc Bảo.

Lời mở đầu: Trước hết, xin mạn phép được ghi nhận ở đây rằng kể từ mấy năm nay khi tôi bước vào lớp tuổi 80, trong những người bạn cũ thường gặp gỡ có hai nhân vật là anh Đào Ngọc Phong, cùng học ban Triết Tây, và một bạn cùng thời Văn Khoa nhưng học ban khác là anh Nguyễn Thanh Sơn, người có ký ức về các sự kiện đã qua đặc biệt nhớ vào chi tiết, đâu vào đó. Cả hai nhân vật này đã thường bổ túc một số chi tiết để nội dung bài dưới đây được chính xác và phong phú hơn. Trân trọng cảm ơn.

Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Tư năm 2026, tôi nhận được điện thư (email) của chị

Phạm Minh Tâm [1] ở bên Úc Đại Lợi gửi qua. Chị vốn là một trong những thân hữu cũ cùng học tại Văn Khoa Sài Gòn từ mấy năm đầu thập niên 1960. Cho đến nay, nhóm này họa hiếm chỉ còn lại chừng độ bốn năm người định cư rải rác ở

Pháp - Úc - Hoa Kỳ.

Thi thoảng trong năm khi có một vài sự kiện nào xem ra đánh động tâm tư tới những vấn đề cần trao đổi, chị Tâm mới liên lạc để chia xẻ với bằng hữu, trong đó có tôi. Lần này, điện thư của chị có tiêu đề "chữ nghĩa"; tôi xin chép ra đây mấy ý chính, như một cách mào đầu câu chuyện mà tôi muốn đề cập tới trong bài này:

"... Email vừa gửi đã quên chia sẻ chút chuyện vui về chữ nghĩa bên nhà bây giờ: Họ cứ tỉnh bơ theo nhau dùng mà bất phân nghĩa lý. Chẳng hạn, chữ thập niên và thập kỷ.

- Thập niên là khoảng 10 năm giữa hai mốc thời gian cố định...Chẳng hạn, thập niên 1990 hay 90 là từ năm 1991 đến năm 1999.

- Thập kỷ là 10 thế kỷ. Từ điển cả Hán lẫn Việt xưa nay đều không có chữ “thập kỷ” này dùng theo nghĩa là khoảng thời gian 10 năm. Vậy mà bây giờ người ta khơi khơi bắt chước nhau thành thói quen viết mới, bỏ chữ “thập niên” thay bằng “thập kỷ”... Anh Phạm Quốc Bảo ơi, nhớ thầy Nghiêm Toản quá. May mà Thầy không còn để bị chứng kiến cái ông tiến sĩ này giảng

(Hình 01 Thuhuong)

Chữ “hoài” theo ông “giáo mác” này dạy đúng là phải ... bị chửi hoài-hoài ... (Chú hình của chị Phạm Minh Tâm)

Ngoài ra, tôi cũng mới đọc đâu đó một bài “khảo cứu sưu tầm”, nêu tên một tác-giả a, b, c, đ... nào đó với danh hiệu “nữ nhà văn” ...Trách gì cách đây ít lâu có bà Nguyễn Thị Tịnh Thy, nghe nói đang dạy Đại-học Sư-phạm Huế, đã phải viết bài “Hãy cứu lấy tiếng Việt”...Song thực tế với các loại lãnh đạo và trí-thức ( kiểu như nêu ở trên) ấy thì trời cứu cũng chẳng được nữa là!"

* Cọ sát & phản ứng.

Hằng ngày mà đọc được điện thư nào của mấy thân hữu cũ cùng một thời học với nhau một cách hiếm hoi còn sót lại đến giờ, tôi quý lắm. Lần này cũng vậy, nhân dịp nhận được điện thư của chị Tâm tôi cũng muốn khề khà , như nhấp một ngụm trà đậm, để tâm tình thoải mái thổ lộ:

Những sai khác đại loại như hai điểm chị Tâm muốn chia xẻ ở trên, thực ra tôi nghĩ rằng chị ấy cũng đã chứng kiến quá nhiều lần rồi, bây giờ đến lúc bực bội quá thì chị phải bật thành cái cớ để gián tiếp thăm hỏi bạn hữu mà thôi. Có lẽ vậy nên điện thư chị gửi cho tôi mới có nội dung như thế.

Là người tiếp nhận, tôi đồng ý với phương thức và thái độ phản ứng của chị. Thực ra hiện tượng xử dụng sai khác về chữ nghĩa đại loại như thế đã thường xuyên xuất hiện liên tục trên mạng lưới truyền thông cả nửa thế kỷ qua, giữa các cộng đồng người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Nhưng điểm đáng lưu ý ở đây là thực tế chứng minh rằng những phản ứng xem ra nhiều khi quá gay gắt và được biểu lộ qua những từ ngữ thô tục đến độ..., cá nhân tôi cho rằng không nên như vậy: Thứ nhất là chẳng tạo nên được một lợi ích gì cho ai, nếu không muốn nói là phản ứng như thế chỉ lộ ra những giới hạn về hiểu biết - yếu kém về tư cách của vị thế người phản ứng; hơn nữa, còn đào sâu thêm hố ngăn cách không thể giải tỏa nổi trong giao tiếp giữa người với người, nói chung.

Cuộc sống của bất cứ dân cư nào trên thế giới này cũng luôn thường xuyên sinh động: Mọi sự - mọi vật theo lẽ thường hằng, dù muốn hay không, bắt buộc phải biến đổi, cả ở không gian lẫn trong thời gian. Rồi khi thay đổi như vậy, mọi thứ còn được điều chỉnh bằng chính thực tế ứng dụng để có thể tồn tại trong xã hội và đời sống dân cư, khiến hiện tượng nào không phù hợp, không được đa số chấp nhận nữa thì sẽ tự khắc thui chột đi, hoặc sẽ trực tiếp lại thay đổi bằng cách nào đó để có thể lưu trữ lại.

* Được cớ khêu gợi tâm tình.

Nhưng có một điểm quan trọng ở đây là cái câu chị Tâm viết: "...nhớ thầy Nghiêm Toản quá." Một nhắc nhớ gồm chỉ có mấy chữ này nhưng tức khắc trở nên căn cớ đột nhiên ' bứt dây động rừng' khiến ký ức đã được ấp ủ trong tiềm thức của tôi từ lâu, bây giờ chúng cứ thế mà liên tiếp bật dậy, linh hoạt - sống động tuôn trào ngập tràn cả tâm tư của tôi lúc này.

"...thầy Nghiêm Toản?" Cá nhân tôi thì chỉ được nghe nhắc đến tên thầy chứ chưa hề được trực tiếp học thầy...Nhưng dù cho tình cờ mà nghe chị ấy nhắc tới tên thầy, tôi lại như thấy ra rằng chị ấy muốn nhắc đến cả một thời chúng tôi cùng học ở phân khoa này; trong ấy có cả những năm Dự Bị Văn Khoa lẫn các chứng chỉ như Văn Chương Quốc Âm và Văn Minh Việt Nam mà thầy Nghiêm Toản là một trong những giáo sư đã từng giảng dạy ở phân khoa này. Nếu quả như tôi đoán đúng như vừa thổ lộ ở trên thì niên khóa bắt đầu học ở phân khoa này, ai cũng phải trải qua năm dự bị. Tôi cũng vậy, không khác. Tôi đã ghi danh theo ban Triết để được chính thức chấp thuận vào học tập tại trường này... Và tức khắc, tôi nhớ liền đến linh mục Larre, giáo sư gốc người Pháp. Đặc biệt là ông thầy Larregiảng bằng tiếng Pháp mà lại được cho dạy Hán văn ở năm dự bị, thời tôi theo học. Và vị phụ tá giáo sư Larre lại là ông Trần Đức Rật [Nghe nói đúng lúc ấy ông Rật đang được linh mục Larre đỡ đầu để làm tiểu luận cấp cao học.] Đặc biệt hơn nữa, suốt niên học ấy, giáo sư Larre chỉ một mực chọn những bài thơ thuộc dòng Đường Thi, suốt từ đời Tùy cho đến triều đại Thanh bên Trung Hoa để dạy Hán văn!

* Mấy nét chấm phá

Nhưng đấy chỉ là sự hiện mở đầu để ký ức tôi bật ra về những nét riêng biệt của những vị giáo sư khác mà tôi đã được thụ huấn thời ấy mà hiện còn đọng lại sắc nét trong kỷ niệm của riêng tôi. Những nét này làm như khi có dịp va chạm tới thì tự nhiên chợt hiện ra vài chi tiết; có khi chỉ là một hình tượng đơn giản với vài câu chú thích mà thôi. Chẳng hạn như:

- Cụ Tú Riễm [2], cái lưng cụ đã gù. Cụ thường bước từ xe xích lô đạp đến đậu ngay trước cửa bước qua thềm là vào tới sảnh đường của khuôn viên trường.

- Hình ảnh vị khoa bảng xưa còn xót lại với trang phục luôn luôn khăn đống – áo the đen dài của cụ Nghè ( tiến sĩ) Nguyễn Sĩ Giác. Cụ đã được người con cả (trông thoáng qua chúng tôi tạm đoán ra người con này của cụ còn lớn tuổi hơn nhiều so với đa số bọn sinh viên nhóc chúng tôi lúc ấy) chở tới trường, lúc thì bằng xe mobilette, cũng có lúc chỉ bằng xe đạp...

Chưa hết! Ký ức tôi còn lưu trữ những nét khá thú vị và rõ nét về các vị giáo sư khác nữa. Chẳng hạn:

- Thi sĩ Đông Hồ dạy chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm có dáng dấp thư sinh nho nhã, bao giờ cũng ăn mặc complê - cravát tề chỉnh và dường như cũng là một trong những vị giảng viên rất hiếm hồi ấy đến trường bằng xe hơi nhà.

Gia đình ông có một tiệm sách lấy tên là Yểm Yểm Thư Quán. Sinh viên chúng tôi đến thăm bao giờ cũng phải đợi gần nửa tiếng đồng hồ: Ông bận bộ quốc phục - áo the - khăn mũ , ra ngồi bàn thấp có sẵn bộ ấm tách trà đâu vào đó rồi mới chịu tiếp chúng tôi!

- Học giả Vương Hồng Sển dạy chứng chỉ Văn Minh Việt Nam. Ông kể chuyện về

những kinh nghiệm sống động của đời ông rất hấp dẫn bọn sinh viên trẻ chúng tôi, đặc biệt là mỗi khi đề cập đến đồ cổ xưa và sách xưa. Ông sống với vợ là bà Năm Sađéc, một kịch sĩ nổi tiếng thời ấy, tại một nhà vườn rộng xum xuê cây trái trên đường Lê Quang Định bên Gia Định. Sinh viên thường được mời tới nhà ông chơi cả ngày, ăn bánh canh giò heo do bà Năm Sa Đéc tự tay nấu đãi, vừa tản bộ quanh khu vườn vừa nghe ông lan man kể những chuyện thời ông làm thư ký tòa tỉnh ở miền Nam, hoặc chuyện ông thường gặp may mắn thu thập được nhiều đồ cổ giá trị không ngờ...

* Những tia sáng chợt lóe lên Tuy nhiên, cũng có những giáo sư khi được nhắc đến thì chỉ còn sót lại trong ký ức của tôi một vài chi tiết mơ hồ; nhưng không ít vị lại có những chi tiết vô cùng quan trọng lắng đọng trong trí nhớ của cá nhân tôi. Chẳng hạn như:

- Giáo sư Trần Văn Toàn đã giảng dạy môn Duy Vật Biện Chứng Thuyết của Karl

Marx nhưng ông đã sớm rời trường, độ năm 1965 (?) và nghe nói ông được sang

dạy ở một đại học thuộc quốc gia Ma Rốc (Morocco, phía đông bắc Phi Châu), rồi

sau đó không trở lại dạy nữa.

- Ở chứng chỉ Triết Trung Hoa, hai vị giáo sư có những chi tiết đặc biệt mà cá nhân tôi còn nhớ đến tận bây giờ:

Thứ nhất là linh mục Bửu Dưỡng. Nghe nói rằng mấy chục năm trước đấy vị giáo sư này chuyên giảng dạy các môn luận lý - đạo đức - siêu hình tại các khóa huấn luyện linh mục trong hệ thống nhà dòng Thiên Chúa giáo. Nhưng thời tôi học thì linh mục Bửu Dưỡng đặc biệt lại sang dạy sách Đại Học (thuộc bộ Tứ Thư: Đại Học - Trung Dung - Luận Ngữ - Mạnh Tử). Theo như ông thổ lộ rằng tâm nguyện ấp ủ từ lâu của ông là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ chúng tôi những suy tư của ông về nền triết học Đông phương. Chính nhờ tâm tình này mà tôi đã bỏ ra một niên khóa để lấy thêm 2 chứng chỉ Triết Trung Hoa và Triết Ấn Độ cho có được cơ hội xin làm cao học Triết Đông Phương.

Thứ nhì là giáo sư Nguyễn Văn Ba. Ông vốn tốt nghiệp bác sĩ tại Pháp nhưng về sống tại Sài Gòn. Lúc dạy chúng tôi, ông đang làm chủ một tiệm thuốc bắc (lâu quá rồi tôi quên mất tên tiệm) nằm trên đường Phan Đình Phùng, khúc giữa hai đường Lê Văn Duyệt và Cao Thắng. Vào độ giữa thập niên 1960, một khu được phép xây cất thành khu biệt thự gọi là Làng Đại Học tại vùng đất phía bên trái dọc theo xa lộ Biên Hòa - vừa qua nhà máy xi măng Hà Tiên, nếu đi từ hướng Gia Định xuống Biên Hòa, thuộc quận ngoại thành Thủ Đức. Vừa qua hai đợt Việt Cộng xóa giao ước để tấn công (gọi là Tổng tấn công) vào dịp Tết Mậu Thân, vào khoảng độ tháng năm - tháng sáu gì đấy, năm 1968, trên đường đi dạy học về, tôi tình cờ gặp thầy Nguyễn Văn Ba đang đứng ngó lơ trước cửa hiệu thuốc bắc mà ông đã chuyển nhượng lại cho con trai ông làm chủ, từ vài năm trước đó. Tôi vội dừng xe tạt vào kính cẩn chào thầy. Ông bảo tôi vào uống cà phê với ông tại một tiệm ăn Tàu cạnh đấy. Khi nghe tôi thắc mắc: Đại khái đã lớn tuổi lại còn đang loạn lạc mà sao cụ không chịu ở nhà mà lại ra đứng phất phơ giữa nơi phố xá ồn ào náo nhiệt này? Ông ngần ngừ một lát rồi nhẹ giọng tâm sự rằng phải tạm lánh xuống ở đây cả tháng rồi vì giáo sư Nguyễn Văn Kiết ( tốt nghiệp cao học Triết ở Sorbonne - Pháp, đã từng dạy chúng tôi trong chứng chỉ Triết Tây, hiện cũng đang ở trong cùng khu đại học Thủ Đức) đã ngỏ lời rủ ông cùng bỏ Sài Gòn theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nhân dịp này nhưng ông đã không đồng ý bằng cách chỉ yên lặng mà né tránh đi xuống ở dưới phố thị Sài Gòn cho yên thân.

20 tháng Năm 2026

Chú giải:

[1] Phạm Minh Tâm, tác giả cuốn " Còn Ai Giữa Mênh-Mông Đời Mình", Báo Thời Luận Hoa Kỳ xuất bản năm 2023.

[2] Theo như tài liệu để lại giải thích, việc thi cử thời quân chủ xưa ở Việt Nam gồm ba đợt:Thi Hương được tổ chức ở các vùng miền, thí sinh đậu được gọi là Tú Tài. Thi Hội tại kinh thành, ai qua được là đậu bậc cử nhân. Thi Đình do nhà vua quyết định cho đậu ba cấp tiến sĩ: Trạng Nguyên - Bảng Nhãn (Nhỡn) - Thám Hoa; sau này không còn phân cấp như thế nữa, chỉ còn danh hiệu Tiến sĩ và Phó bảng mà thôi. Chẳng hạn như cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng, một trong những vị chủ trì phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội. Trường hợp có những thí sinh đi thi mà chỉ đậu tú tài, 2 lần đậu tú tài thì dân gian gọi là ông "Tú Kép", đi thi 3 lần trở lên mà chỉ đậu được tú tài thì gọi là "Tú Đụp".

Phạm Quốc Bảo.

Phạm Quốc Bảo.

Lời mở đầu: Trước hết, xin mạn phép được ghi nhận ở đây rằng kể từ mấy năm nay khi tôi bước vào lớp tuổi 80, trong những người bạn cũ thường gặp gỡ có hai nhân vật là anh Đào Ngọc Phong, cùng học ban Triết Tây, và một bạn cùng thời Văn Khoa nhưng học ban khác là anh Nguyễn Thanh Sơn, người có ký ức về các sự kiện đã qua đặc biệt nhớ vào chi tiết, đâu vào đó. Cả hai nhân vật này đã thường bổ túc một số chi tiết để nội dung bài dưới đây được chính xác và phong phú hơn. Trân trọng cảm ơn.

Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Tư năm 2026, tôi nhận được điện thư (email) của chị

Phạm Minh Tâm [1] ở bên Úc Đại Lợi gửi qua. Chị vốn là một trong những thân hữu cũ cùng học tại Văn Khoa Sài Gòn từ mấy năm đầu thập niên 1960. Cho đến nay, nhóm này họa hiếm chỉ còn lại chừng độ bốn năm người định cư rải rác ở

Pháp - Úc - Hoa Kỳ.

Thi thoảng trong năm khi có một vài sự kiện nào xem ra đánh động tâm tư tới những vấn đề cần trao đổi, chị Tâm mới liên lạc để chia xẻ với bằng hữu, trong đó có tôi. Lần này, điện thư của chị có tiêu đề "chữ nghĩa"; tôi xin chép ra đây mấy ý chính, như một cách mào đầu câu chuyện mà tôi muốn đề cập tới trong bài này:

"... Email vừa gửi đã quên chia sẻ chút chuyện vui về chữ nghĩa bên nhà bây giờ: Họ cứ tỉnh bơ theo nhau dùng mà bất phân nghĩa lý. Chẳng hạn, chữ thập niên và thập kỷ.

- Thập niên là khoảng 10 năm giữa hai mốc thời gian cố định...Chẳng hạn, thập niên 1990 hay 90 là từ năm 1991 đến năm 1999.

- Thập kỷ là 10 thế kỷ. Từ điển cả Hán lẫn Việt xưa nay đều không có chữ “thập kỷ” này dùng theo nghĩa là khoảng thời gian 10 năm. Vậy mà bây giờ người ta khơi khơi bắt chước nhau thành thói quen viết mới, bỏ chữ “thập niên” thay bằng “thập kỷ”... Anh Phạm Quốc Bảo ơi, nhớ thầy Nghiêm Toản quá. May mà Thầy không còn để bị chứng kiến cái ông tiến sĩ này giảng

(Hình 01 Thuhuong)

Chữ “hoài” theo ông “giáo mác” này dạy đúng là phải ... bị chửi hoài-hoài ... (Chú hình của chị Phạm Minh Tâm)

Ngoài ra, tôi cũng mới đọc đâu đó một bài “khảo cứu sưu tầm”, nêu tên một tác-giả a, b, c, đ... nào đó với danh hiệu “nữ nhà văn” ...Trách gì cách đây ít lâu có bà Nguyễn Thị Tịnh Thy, nghe nói đang dạy Đại-học Sư-phạm Huế, đã phải viết bài “Hãy cứu lấy tiếng Việt”...Song thực tế với các loại lãnh đạo và trí-thức ( kiểu như nêu ở trên) ấy thì trời cứu cũng chẳng được nữa là!"

* Cọ sát & phản ứng.

Hằng ngày mà đọc được điện thư nào của mấy thân hữu cũ cùng một thời học với nhau một cách hiếm hoi còn sót lại đến giờ, tôi quý lắm. Lần này cũng vậy, nhân dịp nhận được điện thư của chị Tâm tôi cũng muốn khề khà , như nhấp một ngụm trà đậm, để tâm tình thoải mái thổ lộ:

Những sai khác đại loại như hai điểm chị Tâm muốn chia xẻ ở trên, thực ra tôi nghĩ rằng chị ấy cũng đã chứng kiến quá nhiều lần rồi, bây giờ đến lúc bực bội quá thì chị phải bật thành cái cớ để gián tiếp thăm hỏi bạn hữu mà thôi. Có lẽ vậy nên điện thư chị gửi cho tôi mới có nội dung như thế.

Là người tiếp nhận, tôi đồng ý với phương thức và thái độ phản ứng của chị. Thực ra hiện tượng xử dụng sai khác về chữ nghĩa đại loại như thế đã thường xuyên xuất hiện liên tục trên mạng lưới truyền thông cả nửa thế kỷ qua, giữa các cộng đồng người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Nhưng điểm đáng lưu ý ở đây là thực tế chứng minh rằng những phản ứng xem ra nhiều khi quá gay gắt và được biểu lộ qua những từ ngữ thô tục đến độ..., cá nhân tôi cho rằng không nên như vậy: Thứ nhất là chẳng tạo nên được một lợi ích gì cho ai, nếu không muốn nói là phản ứng như thế chỉ lộ ra những giới hạn về hiểu biết - yếu kém về tư cách của vị thế người phản ứng; hơn nữa, còn đào sâu thêm hố ngăn cách không thể giải tỏa nổi trong giao tiếp giữa người với người, nói chung.

Cuộc sống của bất cứ dân cư nào trên thế giới này cũng luôn thường xuyên sinh động: Mọi sự - mọi vật theo lẽ thường hằng, dù muốn hay không, bắt buộc phải biến đổi, cả ở không gian lẫn trong thời gian. Rồi khi thay đổi như vậy, mọi thứ còn được điều chỉnh bằng chính thực tế ứng dụng để có thể tồn tại trong xã hội và đời sống dân cư, khiến hiện tượng nào không phù hợp, không được đa số chấp nhận nữa thì sẽ tự khắc thui chột đi, hoặc sẽ trực tiếp lại thay đổi bằng cách nào đó để có thể lưu trữ lại.

* Được cớ khêu gợi tâm tình.

Nhưng có một điểm quan trọng ở đây là cái câu chị Tâm viết: "...nhớ thầy Nghiêm Toản quá." Một nhắc nhớ gồm chỉ có mấy chữ này nhưng tức khắc trở nên căn cớ đột nhiên ' bứt dây động rừng' khiến ký ức đã được ấp ủ trong tiềm thức của tôi từ lâu, bây giờ chúng cứ thế mà liên tiếp bật dậy, linh hoạt - sống động tuôn trào ngập tràn cả tâm tư của tôi lúc này.

"...thầy Nghiêm Toản?" Cá nhân tôi thì chỉ được nghe nhắc đến tên thầy chứ chưa hề được trực tiếp học thầy...Nhưng dù cho tình cờ mà nghe chị ấy nhắc tới tên thầy, tôi lại như thấy ra rằng chị ấy muốn nhắc đến cả một thời chúng tôi cùng học ở phân khoa này; trong ấy có cả những năm Dự Bị Văn Khoa lẫn các chứng chỉ như Văn Chương Quốc Âm và Văn Minh Việt Nam mà thầy Nghiêm Toản là một trong những giáo sư đã từng giảng dạy ở phân khoa này. Nếu quả như tôi đoán đúng như vừa thổ lộ ở trên thì niên khóa bắt đầu học ở phân khoa này, ai cũng phải trải qua năm dự bị. Tôi cũng vậy, không khác. Tôi đã ghi danh theo ban Triết để được chính thức chấp thuận vào học tập tại trường này... Và tức khắc, tôi nhớ liền đến linh mục Larre, giáo sư gốc người Pháp. Đặc biệt là ông thầy Larregiảng bằng tiếng Pháp mà lại được cho dạy Hán văn ở năm dự bị, thời tôi theo học. Và vị phụ tá giáo sư Larre lại là ông Trần Đức Rật [Nghe nói đúng lúc ấy ông Rật đang được linh mục Larre đỡ đầu để làm tiểu luận cấp cao học.] Đặc biệt hơn nữa, suốt niên học ấy, giáo sư Larre chỉ một mực chọn những bài thơ thuộc dòng Đường Thi, suốt từ đời Tùy cho đến triều đại Thanh bên Trung Hoa để dạy Hán văn!

* Mấy nét chấm phá

Nhưng đấy chỉ là sự hiện mở đầu để ký ức tôi bật ra về những nét riêng biệt của những vị giáo sư khác mà tôi đã được thụ huấn thời ấy mà hiện còn đọng lại sắc nét trong kỷ niệm của riêng tôi. Những nét này làm như khi có dịp va chạm tới thì tự nhiên chợt hiện ra vài chi tiết; có khi chỉ là một hình tượng đơn giản với vài câu chú thích mà thôi. Chẳng hạn như:

- Cụ Tú Riễm [2], cái lưng cụ đã gù. Cụ thường bước từ xe xích lô đạp đến đậu ngay trước cửa bước qua thềm là vào tới sảnh đường của khuôn viên trường.

- Hình ảnh vị khoa bảng xưa còn xót lại với trang phục luôn luôn khăn đống – áo the đen dài của cụ Nghè ( tiến sĩ) Nguyễn Sĩ Giác. Cụ đã được người con cả (trông thoáng qua chúng tôi tạm đoán ra người con này của cụ còn lớn tuổi hơn nhiều so với đa số bọn sinh viên nhóc chúng tôi lúc ấy) chở tới trường, lúc thì bằng xe mobilette, cũng có lúc chỉ bằng xe đạp...

Chưa hết! Ký ức tôi còn lưu trữ những nét khá thú vị và rõ nét về các vị giáo sư khác nữa. Chẳng hạn:

- Thi sĩ Đông Hồ dạy chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm có dáng dấp thư sinh nho nhã, bao giờ cũng ăn mặc complê - cravát tề chỉnh và dường như cũng là một trong những vị giảng viên rất hiếm hồi ấy đến trường bằng xe hơi nhà.

Gia đình ông có một tiệm sách lấy tên là Yểm Yểm Thư Quán. Sinh viên chúng tôi đến thăm bao giờ cũng phải đợi gần nửa tiếng đồng hồ: Ông bận bộ quốc phục - áo the - khăn mũ , ra ngồi bàn thấp có sẵn bộ ấm tách trà đâu vào đó rồi mới chịu tiếp chúng tôi!

- Học giả Vương Hồng Sển dạy chứng chỉ Văn Minh Việt Nam. Ông kể chuyện về

những kinh nghiệm sống động của đời ông rất hấp dẫn bọn sinh viên trẻ chúng tôi, đặc biệt là mỗi khi đề cập đến đồ cổ xưa và sách xưa. Ông sống với vợ là bà Năm Sađéc, một kịch sĩ nổi tiếng thời ấy, tại một nhà vườn rộng xum xuê cây trái trên đường Lê Quang Định bên Gia Định. Sinh viên thường được mời tới nhà ông chơi cả ngày, ăn bánh canh giò heo do bà Năm Sa Đéc tự tay nấu đãi, vừa tản bộ quanh khu vườn vừa nghe ông lan man kể những chuyện thời ông làm thư ký tòa tỉnh ở miền Nam, hoặc chuyện ông thường gặp may mắn thu thập được nhiều đồ cổ giá trị không ngờ...

* Những tia sáng chợt lóe lên Tuy nhiên, cũng có những giáo sư khi được nhắc đến thì chỉ còn sót lại trong ký ức của tôi một vài chi tiết mơ hồ; nhưng không ít vị lại có những chi tiết vô cùng quan trọng lắng đọng trong trí nhớ của cá nhân tôi. Chẳng hạn như:

- Giáo sư Trần Văn Toàn đã giảng dạy môn Duy Vật Biện Chứng Thuyết của Karl

Marx nhưng ông đã sớm rời trường, độ năm 1965 (?) và nghe nói ông được sang

dạy ở một đại học thuộc quốc gia Ma Rốc (Morocco, phía đông bắc Phi Châu), rồi

sau đó không trở lại dạy nữa.

- Ở chứng chỉ Triết Trung Hoa, hai vị giáo sư có những chi tiết đặc biệt mà cá nhân tôi còn nhớ đến tận bây giờ:

Thứ nhất là linh mục Bửu Dưỡng. Nghe nói rằng mấy chục năm trước đấy vị giáo sư này chuyên giảng dạy các môn luận lý - đạo đức - siêu hình tại các khóa huấn luyện linh mục trong hệ thống nhà dòng Thiên Chúa giáo. Nhưng thời tôi học thì linh mục Bửu Dưỡng đặc biệt lại sang dạy sách Đại Học (thuộc bộ Tứ Thư: Đại Học - Trung Dung - Luận Ngữ - Mạnh Tử). Theo như ông thổ lộ rằng tâm nguyện ấp ủ từ lâu của ông là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ chúng tôi những suy tư của ông về nền triết học Đông phương. Chính nhờ tâm tình này mà tôi đã bỏ ra một niên khóa để lấy thêm 2 chứng chỉ Triết Trung Hoa và Triết Ấn Độ cho có được cơ hội xin làm cao học Triết Đông Phương.

Thứ nhì là giáo sư Nguyễn Văn Ba. Ông vốn tốt nghiệp bác sĩ tại Pháp nhưng về sống tại Sài Gòn. Lúc dạy chúng tôi, ông đang làm chủ một tiệm thuốc bắc (lâu quá rồi tôi quên mất tên tiệm) nằm trên đường Phan Đình Phùng, khúc giữa hai đường Lê Văn Duyệt và Cao Thắng. Vào độ giữa thập niên 1960, một khu được phép xây cất thành khu biệt thự gọi là Làng Đại Học tại vùng đất phía bên trái dọc theo xa lộ Biên Hòa - vừa qua nhà máy xi măng Hà Tiên, nếu đi từ hướng Gia Định xuống Biên Hòa, thuộc quận ngoại thành Thủ Đức. Vừa qua hai đợt Việt Cộng xóa giao ước để tấn công (gọi là Tổng tấn công) vào dịp Tết Mậu Thân, vào khoảng độ tháng năm - tháng sáu gì đấy, năm 1968, trên đường đi dạy học về, tôi tình cờ gặp thầy Nguyễn Văn Ba đang đứng ngó lơ trước cửa hiệu thuốc bắc mà ông đã chuyển nhượng lại cho con trai ông làm chủ, từ vài năm trước đó. Tôi vội dừng xe tạt vào kính cẩn chào thầy. Ông bảo tôi vào uống cà phê với ông tại một tiệm ăn Tàu cạnh đấy. Khi nghe tôi thắc mắc: Đại khái đã lớn tuổi lại còn đang loạn lạc mà sao cụ không chịu ở nhà mà lại ra đứng phất phơ giữa nơi phố xá ồn ào náo nhiệt này? Ông ngần ngừ một lát rồi nhẹ giọng tâm sự rằng phải tạm lánh xuống ở đây cả tháng rồi vì giáo sư Nguyễn Văn Kiết ( tốt nghiệp cao học Triết ở Sorbonne - Pháp, đã từng dạy chúng tôi trong chứng chỉ Triết Tây, hiện cũng đang ở trong cùng khu đại học Thủ Đức) đã ngỏ lời rủ ông cùng bỏ Sài Gòn theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nhân dịp này nhưng ông đã không đồng ý bằng cách chỉ yên lặng mà né tránh đi xuống ở dưới phố thị Sài Gòn cho yên thân.

20 tháng Năm 2026

Chú giải:

[1] Phạm Minh Tâm, tác giả cuốn " Còn Ai Giữa Mênh-Mông Đời Mình", Báo Thời Luận Hoa Kỳ xuất bản năm 2023.

[2] Theo như tài liệu để lại giải thích, việc thi cử thời quân chủ xưa ở Việt Nam gồm ba đợt:Thi Hương được tổ chức ở các vùng miền, thí sinh đậu được gọi là Tú Tài. Thi Hội tại kinh thành, ai qua được là đậu bậc cử nhân. Thi Đình do nhà vua quyết định cho đậu ba cấp tiến sĩ: Trạng Nguyên - Bảng Nhãn (Nhỡn) - Thám Hoa; sau này không còn phân cấp như thế nữa, chỉ còn danh hiệu Tiến sĩ và Phó bảng mà thôi. Chẳng hạn như cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng, một trong những vị chủ trì phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội. Trường hợp có những thí sinh đi thi mà chỉ đậu tú tài, 2 lần đậu tú tài thì dân gian gọi là ông "Tú Kép", đi thi 3 lần trở lên mà chỉ đậu được tú tài thì gọi là "Tú Đụp".

Phạm Quốc Bảo.

Hương Cau Trần Đình Hùng

 Đôi lời Giới thiệu: Long Xuyên là tên tỉnh thời Pháp của tỉnh An Giang, nay là Thị xã. Tỉnh Long Xuyên là quê hương của tôi, tôi biết nó ngày còn bé năm lên 9 tuổi, một mình từ nhà quê xuống tỉnh thi lấy bằng Cao Đẳng Tiểu Học.

 Long Xuyên thuở đó có hai khu vực rỏ rệt, khu chợ búa với phố xá nhà cửa ngăn nắp sạch sẻ, khu hành chánh gồm có Tòa bố (Tòa hành chánh), Bưu Điện, Nhà thương, Trường học, khu này bao bọc bởi sông Hậu giang và sông Đông xuyên. Ở chợ Long xuyên đi bộ chỉ năm phút là tới Cái Sơn hoặc chỗ đèn bốn ngày nay là đã ra ngoại ô rồi.

Mẹ tôi có người dì ở căn phố mé sông Khu hành chánh, cách bến đò qua chợ vài căn phố, cách trường Khuyến Học chừng trăm thước. Hồi còn nhỏ, tôi thấy Long Xuyên nhỏ, khi tôi lớn khôn thì Long Xuyên cũng lớn thêm ra, năm ngoái đi bộ từ ngã tư Xã Bổn về chợ qua Cầu Mới, đi ngang Trung Học Thoại Ngọc Hầu và Trường Nam Tiểu Học thấy dãi nọ liền dãi kia, không còn mương lục lục bình, cầu cá khi tôi đi thi năm 1950, nhà liền nhà, phố liền phố tầng nọ chất lên tầng kia đua nhau mọc.

Tuổi thơ tôi không còn vương lại góc phố, vỉa hè nào ở Long Xuyên ngày nay, bài Hương Cau của Trần Đình Hùng gợi cho tôi nhớ lại nhiều kỷ niệm xưa. Quê hương tôi đó.

Huỳnh Ái Tông

Hương Cau

 Trần Đình Hùng

Trần Đình Hùng ở Long Xuyên

 

Ngày còn bé, tôi "Nam bộ" vô cùng, lớn một chút tôi lại trọ học ở đất phương nam (Long Xuyên)..chời ơi ..tôi được thương yêu theo cách Nam kỳ..mà đến giờ nhắc lại tôi vẫn còn ngây ngất..

 

- Thằng ba dzìa đó hả, cháo ếch tao để phần mày trong nồi, ở "cà ràng" dưới bếp đó..xuống hun lại rồi ăn đi,...( dì Ba hỏi tôi thứ mấy trong gia đình, tôi đáp sau bà chị, từ đó tôi là ..anh Ba Long Xuyên.!.)

 

Phần đi học về ..đói và cảm cái gia vị "tình thương mến thương" của dì Ba..! tôi ăn không cần phải rửa lại cái nồi !

 

Rửa chiếc xe đạp sau cơn mưa

 

Sau này, các món "cháo cao lương mỹ vị"..của nhà hàng khắp ba miền..tôi đều chê..xoàng cả..!

 

Ông là giáo viên trường Trung-Tiễu Học Bán Công Khuyến Học , nuôi cả nhà. Dì ở nhà chăm sóc "thiên đường", nhà dì Ba cạnh ngôi trường này, hằng ngày nghe được tiếng trống vào học. Nhà dì có một mảnh vườn nho nhỏ, cái cổng gỗ và những thanh rào xinh xinh, có một cây cau, khi đơm bông..hương tõa ngát, nhất là ..nhà dì Ba ..có 2 cô con gái tuổi học trò,(và 2 cậu con trai thường rủ tôi..nhậu "cây nhà ..cá vườn !)..

 

- Anh Ba (Hùng), đi Sè gòn...nhớ gom báo..Thời nay, ..Thiếu Nhi, Sách Tuổi MựcTím(tuoi hoc tro) & Sách Vàng (tức chuyện tranh Sì trum, Phan Tân Sỉ Phú-Spirou-). .dzìa cho tụi em đọc đó..!

 

Hai chị em Thảo, Phượng lại lõm bõm biết đàn, những hôm có trăng, dì Ba nấu chè đậu đen, chúng tôi quây quần tưởng thức chè của dì và ca hát..tùm lum nhạc..khổ nỗi..cái giọng ca của tôi ở tông..bê (tức là ..bê tông !) mà luôn cả: không dzô "ăn" nhịp,. Đúng thôi! sở trường của tôi là..Á..á..đoàn ta vzui, nào đi lên, một lòng hăng hái..hi hi..tốp lại anh Ba ! từ khi đó tôi bị ..giới hạn .."cho" hát..dù rất muốn thể hiện ..lòng vui sướng của mình..

 

Xe lôi phương tiện công cộng ở miền Tây

 

- Anh Ba nè..nhạc Trịnh, chỉ biết mỗi bài..rừng núi, mí lại đại bác ru ..không hè , thôi tụi em cho anh nghe bài..ướt mi,..!

 

Năm ấy vào mùa hè đỏ lửa,  tin tức chiến sự dồn dập..lòng dạ tôi để hẳn ở Sài gòn..Đêm tôi ngồi trên cái ghế gỗ ẩm ướt lạnh sau cơn mưa lê thê, ngoài vườn..dì Ba đến bên tôi hồi nào tôi không hay !

 

- Cháu Hùng , định về nhà hả ,..cháu về nói với má..(bà cứ từ từ ..chậm rãi..).. Cây cau nhà dì, đậu hai buồng cau ngon lắm, nói má thích buồng nào dì cho đem về ..cho má..!..luôn cả con gà....dì bắt sẳn..cho má..con ăn..!

 

...

Tới bây giờ, tôi cũng chưa .."tha thứ" cho tôi được...

 

- Thôi, dì Ba, con đi xe đò, rất ngại bận xách gà..mấy nữa,..má con, là người Bắc,..lại không biết..ăn trầu..con không đem gì về đâu dì Ba..!

 

...  Tha thứ cái "tội" ..quá ngây thơ trong trắng (???)..

 

Phải chi..

 

- Dạ, vâng, dạ thưa..con xin...!!!

 

Đi-Về, SG-LX, ..thêm mấy bận, do tôi phải đối phó với cái học kỳ dỡ dang, trả nợ những môn học thi rớt,..đau đáu lo sợ..cái giấy "hoãn dịch" cho năm sau..Chúng tôi gom tiền mướn căn nhà riêng gần trường..để ôn thi cho nốt cái niên khóa ..dầu sôi lửa bõng này..

 

..Tôi chưa hề, băng qua cái cầu Lê Lợi LX ..đến thăm dì, căn nhà xinh đẹp và những cô em " Nam kỳ" thương mến của tôi ..

Đứt phim, tôi cũng đứt luôn Thị xã Long Xuyên, dòng An Giang,..Bắc Vòm Cống,.xe đò Phi Mả,..v..v..

 

Bắc An Hòa đưa ngang chợ Long Xuyên ngày nay

 

Cách đây vài năm, theo lời thúc dục của một người bạn di cư 54, Bắc kỳ rặc, gia đình định cư ..ở Kinh số 2,  Cái Sắn. Ông bạn rời quê ra Thị xã học cùng trường ĐH Hòa Hảo, khác phân khoa..với tôi. Thân cư thê, cậu chịu "cắm rể" với một nàng con gái đất Long xuyên. Anh bạn mời về ăn đám cưới con trai lớn của cậu, tôi có dịp thõa lòng hoài niệm..

 

"...Chiều bữa trước mây về vây bủa
Chiều bữa nọ nắng tàn trên áo lụa
Trời bữa ni Thu úa lá quanh trường
Phố nhỏ nhà ai buồn hỡi buồn hời
Mưa sớm mưa chiều mưa trưa mưa tối
Nẻo cũ đường xưa lá sầu lá đổ
Mấy giòng Thu biền biệt không về.."
(trích từ email NNS)

 

Tôi tìm đến chốn xưa, không còn dấu tích cũ,..ngôi trường  Khuyến Học vẫn còn và khang trang hơn nhưng lại mất cái sân trường vang tiếng guốc đỗ . Cái ngõ hẽm dẫn đến nhà dì Ba bị bịt kín,..khu vực  bờ hồ Nguyễn Du, Bưu điện, Tòa Hành Chánh, rất nên thơ đã quy hoạch , chia năm sẻ bảy..Những căn nhà xây dựng đẹp đẽ..mọc lên..thay đỗi nhiều quá!

 


Tôi không thể nhận diện được cái nhà dì Ba, mấy đứa em Thảo, Phượng của tôi ở đâu trong cái không gian be bé của tỉnh lỵ này..Tôi đi qua, đi lại con đường, và ngôi trường cũ này, hỏi thăm những ông bà mà tôi nhìn thấy có dáng vẻ già cả như tôi hay hơn tôi..đến khi hết hy vọng..thì gặp một anh bạn trẻ..nhìn tôi ..trả lời "chắc cú"..(lý do) anh là bạn "nghệ nhân cây cảnh" của anh trai Thảo, Phượng,.. khi tôi nhắc hỏi về người con trai tật nguyền của dì Ba, có tài vẽ áo dài nổi tiếng ở đất này.


Ông bà ..đã mất đi..liên tiếp, sau ngày giải phóng..Ông không được tiếp tục dạy học, toàn bộ miếng ăn..trông vào đôi cánh tay co rút nhưng tài hoa của ông anh.. Tôi được anh bạn rất duyên may ấy hướng dẫn đến nhà&gia đình từng đứa em..Mừng lắm, chúng tíu tít, kể chuyện,..lấy chồng,..chia khu đất của ông bà, rồi ..bán.. mua.., đứa hiện đang có cửa hàng bán đồ "lưu niệm", đứa làm cô giáo giữ trẻ..mỗi đứa một cơ ngơi, có ăn có để..chỉ trừ có anh Hai H (là anh tật nguyền nói trên..) cố bám cái căn gác nho nhỏ, xoay  cửa hướng khác, trên khu đất của ông bà..


.."suốt ngày chửi xéo..lý thuyết ..cộng sản..! tụi em chịu hết nổi..! "


Dĩ nhiên..khi rời Long Xuyên, rời những kỷ niệm xưa, tôi lại không rời với kỷ niệm ngồi với anh "hai" H bên sân quán cà phê ghế dựa, máy lạnh, nhạc có màn hình phẳng, mới mẻ tiện nghi ..mà 2 anh em cứ chộn rộn, sao không được như xưa.. anh Hai và em ngồi tranh luận bức sơn dầu anh mới sáng tác ở cái hiên mái tre anh làm "xưỡng" vẽ, gió ngoài vườn cứ thoãng đưa vào hương của hoa cau, hoa lài...


tdh






Tình thâm,

 Tình thâm,

Huỳnh Phương Linh

 Đã gần năm giờ chiều nhưng nắng cuối tháng bảy vẫn còn như thiêu đốt trên bãi biển Platanias của đảo Kreta. Bà Phương ngồi dậy, nữa định rũ ông Tính lên phòng tắm rữa và sửa soạn chuẩn bi xuống ăn tối, nhưng nữa lại muốn cứ nằm y như thế.

Ông bà đến đây đã được mười một ngày nên muốn tận hưởng mấy ngày còn lại ở chỗ nầy, nơi có nhiều kỹ niệm đẹp của hai ông bà với gia đình con cái khi chúng còn nhỏ, còn hăng hái hớn hở theo ông bà mỗi năm đi nghỉ hè. 

Bà vừa lay cánh tay của ông Tính thì chợt để ý một bé gái khoảng tám, mười tuổi từ dưới biển lên, đi về hướng bà.

Trong một tích tắc đầu tiên bà chỉ ngạc nhiên vì cháu bé nầy có nét hao hao giống con gái của bà, nhưng bà thật sự sững sờ khi đi ngang bà cháu lột chiếc mũ trùm tóc xuống.

Chiếc mũ bằng cao su ôm chặt đầu, loại để các vận động viên bơi lội xài khi bơi để  giữ tóc, làm giảm bớt sức cản vận tốc bơi. Mũ mầy bó sát nên đồng thời cũng giữ tóc không ướt. Chiếc mũ được gỡ ra thì mái tóc màu nâu sậm gần như đen của đứa nhỏ cũng vừa rơi xõa xuống khiến bà thấy như hụt hơi thở. Tim bà như ngừng đập mất một nhịp. Lạy Trời. Sao mà giống như in như đúc!

-Lên chưa? hay nằm nữa? Còn sớm mà!

Ông Tính đã hỏi khi bị bà lay kêu ông dậy. Không nghe bà trả lời, ông nhìn bà và ngạc nhiên vì đôi mắt gần như hoảng hốt và nét mặt bất thường của bà. Ông lo lắng. Linh tính và kinh nghiệm sống lâu năm với bà cho ông thấy phải có gì bất thường.

Ông nhỏm dậy vói qua nắm tay bà. Bàn tay lạnh ngắt.

-Gì vậy bà?

-Ông kín đáo nhìn đứa con gái của cặp vợ chồng nằm cách mình một cây dù đi.

Ông Tính chậm rãi đeo kiếng mát vào và nhìn theo hướng của bà Phương. Ông nói liền :

-Cặp nầy mới tới theo chuyến bay tối hôm qua. Sáng nay xuống phòng ăn điểm tâm đứa nhỏ nầy có chào tôi lễ phép lắm. Cũng là dân Hòa Lan đó bà.

Bà Phương quay phắt lại:

-Ở Hòa Lan? Chắc không? Có nói chuyện với ông hả?

-Có. Hồi sáng. Lúc bà ghé vô toilet rửa tay. Vô phòng ăn họ đi trước tôi đi sau. Tôi nghe họ nói tiếng Hoà Lan nên khi đứng xếp hàng lấy thức ăn cháu nhỏ chào tôi bằng tiếng Anh, tôi chào lại nó bằng tiếng Hoà Lan nó mừng lắm, líu lo hỏi tôi đủ chuyện.

Bà Phương hỏi mà như muốn khóc:

-Ông có nói chuyện với nó?

-Ờ. Gì vậy bà?

-Ông ráng nhìn kỹ nó đi, coi có thấy gì lạ ở nó không?

Ông Tính nằm trở xuống ghế bố. Ông dùng cuốn sách kê đầu như muốn tìm một thế nằm thoải mái, nhưng thật ra ông sữa thế để quan sát cái tiểu gia đình đóng đô dưới cây dù cách ông mươi thước.

Người chồng cỡ cỡ ngoài bốn mươi. Người vợ chắc trẻ hơn một chút. Cả hai đều trông rất bình thường của một cặp vợ chồng người Hòa Lan. Chỉ thấy có một chút lạ. Con gái họ da trắng bóc, nhưng tóc lại nâu đen như dân Châu Á, vậy thôi. Ông ráng lắm, nhìn tới nhìn lui nhưng không thấy gì nên hỏi bà:

-Có thấy gì đâu! Mà thấy cái gì?

Bà Phương không trả lời. Bà có nghe được ông hỏi gì đâu.

Bà đã đứng dậy.

Bên kia cả ba người  đã rời khỏi cây dù, đi trở lên khách sạn.

Đứa nhỏ vừa đi vừa vung tay say sưa líu lo kể chuyện gì đó như đang vui lắm.

Bà như bị thôi miên, đi theo họ như cái máy, quên cả ông Tính.

Ông Tính kiên nhẫn im lặng đi theo bà từ lúc ở ngoài bãi biển trở vô khách sạn, lẽo đẽo theo bà lên phòng khánh tiết, vô phòng ăn ăn qua loa bữa tối, trở ra biển đi dạo một lát, đi một vòng phố Platanias rồi trở về khách sạn uống cà phê ăn bánh coi tivi…… có đôi ba lần ông hỏi bà vì sao, nhưng bà không nghe không thấy, không còn biết có sự hiện diện của ông.

Bà chỉ nhìn con bé, đi theo con bé. Ông đành lẳng lặng đi theo bà.

Nói cho đúng hơn là hai ông bà âm thầm trà trộn với du khách tấp nập của khách sạn, của phố xá mà đi theo đứa nhỏ và dĩ nhiên là đi theo cả ba má cùa nó lân la khắp nơi cả buổi tối.

Bà chỉ chịu cùng ông trở về phòng khi 3 người kia vào thang máy lên phòng riêng của họ, chắc để ngủ, vì đã khuya rồi.

¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤

Về phòng mình, đóng cửa lại, ông Tính hết hồn khi thấy mặt bà xanh tái. Ông đở bà ngồi xuống salon, rót ly nước đưa bà uống. Ông biết phải là chuyện gì đó lớn lắm. Nhưng biết mình vụng về, ông không dám khuấy động bà. Ông có tới một trăm câu hỏi nhưng không biết bắt đầu hỏi kiểu nào để bà đừng bị sốc thêm, đành kiên nhẫn ngồi bên cạnh chờ.

Bà Phương đứng dậy, rũ ông ra balkon. Gió biển ban đêm mát rượi làm bà tỉnh táo lại.

Bà bắt đầu kể:

– Lâu rồi, khoảng chín, mười năm trước, có một bữa ông đi làm ca tối, mấy mẹ con tôi ở nhà ăn cơm một mình. Trên bàn ăn con An hỏi tôi “Má cho con tặng trứng nghe má” Tôi hỏi “trứng gì?” Nó nói “Con muốn tặng trứng của con cho ngân hàng trứng và tinh trùng” Tôi ngạc nhiên lắm, hỏi tai sao con nói vậy, nó nói nó muốn giúp những người phụ nữ không sanh được con. Tôi cảm động tấm lòng của nó, nên đã ủng hộ nó, khuyến khích nó. Chính tôi đã dẫn nó đi làm chuyện nầy lần đầu tiên. Tôi biết sau đó nó còn tặng thêm vài lần. Nhưng những lần sau nó không cho tôi đi theo, thậm chí không cho tôi biết vì lần đầu tiên đi theo nó, tôi chứng kiến nó bị hành, bị đau đớn tôi nóng ruột quá.

Ông Tính tái mặt, lấp bấp:

– Bà nghi đứa nhỏ hồi chiều…

Bà Phương gật đầu, nước mắt rơi lã chã.

– Ông không thấy nó giống con Mai sao!

Ông Tính im lặng một hồi lâu để nhớ lại gương mặt đứa nhỏ. ông cãi:

– Tôi lại thấy nó giống con Thảo!

– Thì con An với con Thảo có cùng một nét mặt.

Cả hai ông bà không nói gì thêm.  Hai người im lặng cùng nhìn ra biển mà lòng dạt dào thương cảm. Cả hai đều tự biết đêm nay sẽ rất dài. Họ sẽ không sao ngủ được.

Đó là đêm đầu tiên.

Đêm thứ hai cũng không khá gì hơn. Đêm dài đăng đẳng. Nhưng ngày lại qua quá nhanh, không đủ để hai ông bà ngắm đứa nhỏ.

Đêm thứ ba, đêm cuối cùng của hai ông bà trên đảo nầy, khi trở về phòng, bà Phương dịu dàng ôm ông giọng ngọt ngào năn nỉ:

– Ông mà thương tôi ông chìu ý tôi một lần. Sáng mai ông đổi chuyến bay. Mình ở lại thêm vài ngày nghen ông.

Ông Tính cười hề hà:

– Tôi mới là mừng. Tôi muốn vậy từ mấy bữa rồi, chỉ sợ bà tiếc tiền không chịu.

Bà xô ông ra, hứ:

– Đồ khỉ! Ông làm như tôi chỉ biết có tiền!

Không biết vì đã thức hai đêm, hay vì yên tâm còn gần nó thêm vài ngày nữa mà đêm đó hai ông bà ngủ thật ngon.

¤¤¤¤¤¤¤¤¤

Gần trọn buổi sáng hai ông bà phải lo làm giấy tờ đổi chuyến bay.

Xong chuyện đó  thì còn vấn đề chỗ ở. Hai tuần vừa qua ông bà đã ở khách sạn lớn nên tất cả phòng ở đây đã được đặt kín từ lâu rồi. Hai ông bà phải phone vòng vòng tìm khách sạn còn phòng trống.

Check in xong, mọi việc ổn thỏa thì đã gần tới giờ ăn trưa.

Hai ông bà hối hả trở về nhà hàng của khách sạn cũ. Ở phòng lấy thức ăn bà Phương giựt mình khi thình lình mẹ của đứa nhỏ đứng ngay sau lưng bà.

Cô ấy vừa chọn thức ăn vừa vui vẻ hỏi bà:

– Không phải đoàn của ông bà đã lên máy bay trở về Hòa Lan sáng nay sao?

Thấy bà Phương thoáng bối rối ông Tính vội đở lời:

– Chúng tôi gặp bạn cần về gấp nên đã đổi chuyến bay với họ. Chúng tôi là dân hưu trí thì chừng nào về lại không được.

Mẹ của đứa nhỏ có vẻ hơi ngạc nhiên:

– Vậy ông bà vẫn ở khách sạn nầy à?

– Không, chúng tôi ở bên Indigo Mare -Bà Phương đáp. Rồi bà còn thật thà nói thêm- Chỉ có ở đó còn phòng trống.

Thấy bà lỡ lời, ông Tính lật đật khỏa lấp:

– Bả chê bếp bên đó tệ. Bả chỉ quen ăn bên nầy. Chắc bả chịu ông đầu bếp bên nầy rồi.

Ông cười ha hả kéo bà đi tìm bàn ngồi xuống. bằng tiếng Việt ông nhắc chừng bà:

– Bà ráng đừng nói chuyện với họ, coi chừng bà lại lỡ lời. Bà cũng đừng nhìn con nhỏ quá người ta sợ.

Buổi chiều hôm đó cả nhà ba người họ xuống thuyền theo đoàn du lịch của họ ra khơi.

Hai ông bà đành nằm ghế bố chờ họ trở về. Bà Phương bồn chồn bức rức, mắt không thể rời hướng tàu sẽ trở vô.

Chờ đợi. Chờ đợi.

Thời gian chờ đợi sao dài quá! Bà Phương chợt thức tỉnh khi nghĩ tới con gái bà rồi cũng sẽ đau khổ như bà nếu nó biết đến sự hiện hữu của đứa bé. Bà phục nó.

Bà vui lòng lắm vì nghĩ con gái bà còn chín chắn hơn bà khi nó đủ cứng rắn cương quyết không muốn biết gì đến kết quả chuyện hiến trứng.

Gió biển mát rượi, bà miên man suy nghĩ và ngủ thiếp hồi nào không hay.

¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤

Do có ông Tính ở sát bên cạnh nhắc chừng bà, hai ông bà đã được ở bên đứa nhỏ suốt ba ngày cuối, nhìn cháu chạy nhảy vui chơi mà không gây sự chú ý của ba má nó. Ông đã lân la nói chuyện cùng những người đi chung đoàn với gia đình nầy nên biết ngày về của họ.

Bữa ăn chót, bà Phương không tha thiết gì chuyện ăn uống. Bà chỉ cố gắng nhìn đứa nhỏ vì bà sợ không còn cơ hội nào gặp lại nó.

Đêm đó về phòng bà buồn bã vô cùng, nhưng không dám thức khuya.

Bà lo đi ngủ sớm để sáng dậy kip chạy qua bên kia nhìn nó lên xe bus ra phi trường lần cuối.

Hai ông bà chỉnh đồng hồ báo thức rồi nằm yên rán dỗ giấc ngủ thì có tiếng gõ cửa dè dặt.

Bà ngạc nhiên. Ông bà đâu có đặt thức ăn nước uống gì đâu mà có người của khách sạn mang lên.

Ông Tính làm biếng ngồi dậy, bàn trớt:

– Chắc ai nhậu xỉn về gõ lộn cửa phòng.

Vài phút sau, lại có tiếng gõ cửa, mạnh dạn hơn, dứt khoác hơn.

Bà Phương ngồi dậy, khoác áo choàng đi ra mở cửa. Bà sửng sốt vì mẹ của đứa bé đứng đó, trước mặt bà.

Cả hai người đàn bà đều bối rối, nên cả hai đều thấy cám ơn ông Tính đã ra mời khách vào phòng. Ngồi xuống salon, mẹ của đứa nhỏ tự giới thiệu:

-Tôi tên Marie Hansen. Chồng tôi là Frank Hansen và con gái chúng tôi là Emma Hansen. Tôi áy ngại đã đến với ông bà vào lúc nầy. Tôi xin lỗi làm mất giấc ngủ của hai ông bà.

Cả bà Phương và ông Tính đều xua tay lia lịa:

– Ồ không, cô đừng áy náy. Bề nào chúng tôi cũng không ngủ được.

Cô Marie nhìn thẳng vào mắt bà Phương, cố gắng thận trọng nói rõ ý mình:

– Tôi xin phép nói thẳng: Có thể chồng tôi không để ý, nhưng tôi không thể không phát hiện sự quan tâm của hai ông bà suốt cả tuần nay dành cho cháu Emma. Bà đã đoán đúng. Và tôi tin rằng tôi cũng đoán đúng. Cháu Emma là con gái ruột của chồng tôi và do tôi sanh ra, nhưng từ trứng tôi nhận được của một người hảo tâm hiến tặng vì trứng của chính tôi có vấn đề. Xin hỏi, có phải người hiến trứng là con cái nhà ông bà? Tôi đoán vậy vì Emma có nét giống ông.

Bà Phương gật đầu, định nói gì đó nhưng nước mắt rơi lã chã. Bà nghẹn ngào, không nói được. Ông Tính mở computer xách tay, tìm hình của An, con gái của hai ông bà, rồi đẩy máy tới trước Marie.

– Là nó đó bà. Nó tên Lilian Mai An, hai mươi sáu tuổi.

Marie trìu mến nhìn An, đôi mắt long lanh như sắp khóc. Cô bắt đầu kể.

-Tôi vô cùng biết ơn người đã cho chúng tôi một đứa con gái. Ngay từ đầu tôi đã muốn tìm gặp cô ấy để xin được cám ơn, nhưng trên hồ sơ đã có ghi rõ ý người hiến tặng không muốn có quan hệ với người nhận, nên tôi không được cung cấp thông tin gì từ bịnh viện về cô ấy. Tôi xin được hỏi Ông Bà về cô ấy. Tôi sẽ rất quý báu tất cả những điều ông bà cho tôi biết.

– Con gái chúng tôi có sức khoẻ tốt, rất siêng năng, bền bỉ. An chưa lập gia đình. Nó là bác sĩ giải phẫu, và cũng là nhạc sĩ đàn hồ cầm*  (*: cello – violoncelle) .

Marie sáng mắt vội vã tiếp lời:

-Ồ! Emma của chúng tôi thì chơi vĩ cầm* (*: violin – violon). Cháu cũng rất yêu thích bơi lội.

Bà Phương xúc động lắm:

– Thật là huyền diệu! An của chúng tôi cũng là vận động viên bơi lội đó bà à. An còn có hai người chị, cả hai chị của Mai cũng đều là nhạc sĩ vĩ cầm và đều yêu thích bơi lội.

Rồi bà Phương lo lắng.

– Emma của ông bà có bị dị ứng không?

-Thưa không. Cháu có sức khoẻ rất tốt, cháu giống ba cua cháu ở điểm nây. Bà có thể an lòng.

Marie đứng dậy, để lên bàn một tấm danh thiếp và dùng cả hai tay trang trọng đẩy tới trước mặt bà Phương:

-Ngày mai chúng ta chia tay. Nếu ông bà muốn gặp lại Emma thì đây là địa chỉ của chúng tôi. Lúc nào chúng tôi cũng hoan nghênh đón ông bà. Bây giờ tôi xin từ giã. Cám ơn ông bà đã tiếp tôi.

¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤¤

“Marie thân mến,

Vợ chồng tôi đã trải qua nhiều thảo luận cân nhắc trước khi tôi viết bức thư nầy.

Chúng tôi rất cảm động khi cô cho phép chúng tôi được liên lạc với cháu Emma.

Emma là đứa bé tuyệt vời. Chúng tôi được gần cháu một tuần lễ đã rất mãn nguyện. Chúng tôi sẽ mãi mãi ghi nhớ hình ảnh cháu trong lòng. Được yên tâm khi biết cháu sẽ lớn lên bằng tình thương của vợ chồng cô, đối với chúng tôi đã đủ. 

Chúng tôi gởi kèm theo thơ nầy danh thiếp của cô vì chúng tôi tôn trọng quyết định của con gái chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ liên lạc với cô hay Emma. 

Tuy nhiên, tôi gởi kèm theo thơ nầy danh sách để cô liên lạc với toàn bộ người nhà chúng tôi, đề phòng trường hợp Emma cần bất cứ sự giúp đở nào của chúng tôi.

Chúc vợ chồng cô và Emma yêu dấu của chúng ta mọi sự tốt đẹp.

Ông bà Tính Nguyễn – Phương Hoàng”

Bà Phương xếp lá thư bỏ vào phong bì, dán lại.

Bà đã thoáng có 1 giây do dự, nhưng rồi mạnh dạn dứt khoác bỏ lá thư vào thùng.

Trên đường về, bà đã chảy nước mắt khi nghĩ tới Emma, dù bà thấy rất yên lòng với quyết định của mình.

Bà muốn tránh cho con gái bà khỏi phải bức rức khó chịu vì nghĩ tới đứa con mà nó không thể tới gần được.

Mà cho dù không vì người lớn thì cũng phải vì đứa nhỏ. Bà không muốn nói gạt Emma bà là ai, mà cũng không thể nói thật cho nó biết quan hệ giữa bà với nó.

Bà sợ đứa nhỏ có thể  bị dao động tâm lý. Nó phải được lớn lên như những đứa trẻ bình thường với một ba một má…

Bà biết mình làm đúng, nhưng sao nước mắt vẫn rơi suốt đường về.

 

Huỳnh Phương Linh, okt-2013