Pages

Tuesday, August 4, 2026

MỘT NGÀY CÒN BA…

 Tôi sinh ra và lớn lên ở Biên Hòa (BH). Đến năm mười hai tuổi, thế giới của tôi chỉ gói gọn trong con đường đến trường và khu phố nhỏ quen thuộc. Còn Sài Gòn (SG), trong trí tưởng tượng của một đứa trẻ ngày ấy, là một miền đất xa xôi và đầy mê hoặc – "Hòn Ngọc Viễn Đông" mà người lớn vẫn nhắc đến với niềm tự hào. Tôi luôn ao ước một lần được đặt chân đến nơi ấy.

Ba tôi là một công chức tận tụy với công việc và hết lòng vì gia đình. Biết được ước mong của tôi, Ba hứa sẽ đưa hai anh em lên thăm SG vào một ngày thích hợp. Ba bảo, muốn cảm nhận SG thì phải thong thả bước đi giữa lòng phố, hòa vào nhịp sống của người dân nơi đây, chứ không thể chỉ ngồi trên xe nhìn qua khung cửa như “cưỡi ngựa xem hoa”.

Rồi ngày ấy cũng đến.

Một sáng Chủ nhật đầu tháng 12 năm 1971, lời hứa của Ba trở thành hiện thực.

Ba đưa hai anh em tôi lên SG bằng xe lửa. Chuyến tàu rời ga BH lúc chín giờ sáng, lần lượt đi qua Dĩ An, Sóng Thần, Thủ Đức, Bình Triệu, Gò Vấp trước khi đến ga SG. Trên suốt hành trình, Ba kể cho chúng tôi nghe về tuổi trẻ của mình, về chuyện học hành, về cách sống và cách làm người. Ba dặn các con phải chăm học, đọc nhiều sách và biết học hỏi từ thực tế cuộc sống.

Lần đầu tiên, hai anh em cũng mạnh dạn tâm sự với Ba nhiều điều mà ngày thường ít có dịp nói ra. Bây giờ nhìn lại, tôi mới hiểu điều quý giá nhất của chuyến đi hôm ấy không phải là nơi chúng tôi đến, mà là những giờ phút được ngồi cạnh Ba, được nghe giọng nói thân quen và cảm nhận sự gần gũi của một người cha.

Bước ra khỏi ga SG, trước mắt tôi là chợ Bến Thành đông đúc, nhộn nhịp với những bảng hiệu và hình ảnh quen thuộc của một thời. Ba chỉ cho chúng tôi những bức phù điêu gốm trên cổng chợ và kể rằng tác giả là nhà điêu khắc Lê Văn Mậu, một người con ưu tú của BH quê mình. Một chi tiết nhỏ thôi, nhưng qua đó, tôi cảm nhận được tình yêu quê hương luôn âm thầm hiện diện trong Ba.

Điểm dừng chân đầu tiên là nhà sách Xuân Thu trên đường Tự Do. Lần đầu tiên tôi bước vào một không gian đầy sách, nơi mọi người lặng lẽ chọn lựa, đọc sách với sự trân trọng và văn minh. Ba mua vài tạp chí tiếng Pháp, một cuốn truyện, rồi để hai anh em thong thả ngắm nhìn từng kệ sách. Có lẽ chính từ hôm ấy, tình yêu sách trong tôi đã bắt đầu được gieo mầm.

Rời Xuân Thu, Ba đưa chúng tôi dạo bộ trên đường Lê Lợi. Thành phố cuối tuần đông vui nhưng vẫn giữ nét thanh lịch. Những tà áo dài thấp thoáng giữa dòng người, những gánh hàng rong với đủ món quà vặt hấp dẫn khiến cậu bé mười hai tuổi như tôi vừa ngỡ ngàng vừa thích thú. Ba mỉm cười để hai anh em tự chọn những món mình thích. Đến tận hôm nay, tôi vẫn còn nhớ hương vị những cuốn bò bía nóng hổi và ly nước mía Viễn Đông ngọt mát của buổi trưa năm ấy.

Nhưng nơi để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất vẫn là nhà sách Khai Trí. Một thế giới sách rộng lớn mở ra trước mắt với những dãy kệ ngăn nắp và những độc giả say mê đọc trong yên lặng. Ba mua cho chúng tôi những bộ truyện tranh của Nhà xuất bản Sách Vàng như Tintin, Lucky Luke, Astérix, cùng vài số báo Thiếu Nhi mới phát hành. Những món quà giản dị ấy không chỉ đem lại niềm vui tuổi thơ, mà còn nuôi dưỡng trong tôi tình yêu sách suốt cả cuộc đời…

Gần đây, mỗi khi nghe lại bài hát Papa của Paul Anka, với giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng và phảng phất nỗi buồn, lòng tôi lại quay về với chuyến đi SG năm ấy. Tôi như nghe lại giọng Ba, nhìn thấy dáng Ba bên cạnh hai đứa con nhỏ, và cảm nhận một niềm hạnh phúc bình dị mà ngày ấy tôi chưa đủ lớn để hiểu hết.

Ba từng nói: “Các con cố gắng học giỏi, Ba sẽ thu xếp đưa các con đi chơi SG lần nữa.” Nhưng lời hẹn ấy mãi mãi không thành hiện thực. Hơn một năm sau, Ba rời xa chúng tôi về cõi vĩnh hằng, mang theo cả những chuyến đi còn dang dở.

Đến hôm nay, khi đã đi qua gần hết một đời người, tôi mới hiểu món quà lớn nhất Ba để lại không phải là chuyến đi SG, những cuốn truyện tranh hay những món quà năm ấy. Những điều ấy rồi cũng phai màu theo thời gian. Chỉ có tình thương của Ba là còn mãi — một ngày Ba dành trọn ven cho các con, bằng sự dịu dàng, kiên nhẫn và những bài học làm người không cần nói thành lời.

Con đường Tự Do đã đổi tên. Thương xá Tax không còn. Nhiều dấu tích của Sài Gòn năm xưa cũng đã lùi sâu vào ký ức.

Nhưng Ba thì vẫn còn.

Ba còn trong từng trang sách tôi đọc, trong cách tôi nhìn cuộc đời, và trong ký ức về một ngày tưởng như rất bình thường nhưng đã trở thành báu vật của cả một đời người.

Bởi đôi khi, một đời người không cần quá nhiều điều lớn lao. Chỉ cần có một ngày còn Ba… cũng đủ để thương nhớ suốt một đời.
  

 
 (Ảnh sưu tầm)
Hiep Phan_Vacaville, CA_7/2026

 

Monday, August 3, 2026

Đồi Thông Hai Mộ

 Một thời trai trẻ đã qua, sau nầy tôi vẫn còn nhiều lần đến Đà Lạt, viếng chùa Linh Phong, Trại Hầm, Thác Cam Ly, Hồ Than Thở nơi có Đồi Thông 2 mộ. Khoảng trước năm 1975 nơi đây có một tấm bảng ghi sự tích Đồi Thông 2 mộ, ngày nay không còn. May mắn tôi còn giữ được tấm ảnh, có thể do phòng Thông Tin hay Công Ty Du Lịch nào đó đã dựng nên.


Bảng Thông Báo tại Đồi Thông Hai Mộ nơi Hồ Than Thở Tp. Đà Lạt trước năm 1975

Thân phụ hay thân mẫu anh Tâm lúc tuổi già sức yếu, không thể hàng năm lên Đà Lạt thăm mộ của anh, nên đã bốc mộ, cải táng về quê của anh ở Vĩnh Long.

Ngày nay người ta xây 2 phần mộ, nhưng mộ anh Vũ Minh Tâm là mộ gió (không có hài cốt).

Chuyện tình cô giáo Lê Thị Thảo và anh Sĩ Quan xuất thân từ Trường Võ Bị Đà Lạt là Vũ Minh Tâm, đó là một Chuyện tình buồn như một số chuyện tình buồn khác, khiến cho nhiều người thương cảm và nhớ mãi sau nầy. Nhưng đó không phải là chuyện tình chính của câu chuyện Đồi Thông 2 Mộ đã có từ xa xưa. Đó là chuyện tình xứ Mường ở Cao Bằng. Cho nên chúng ta cần tìm về cội nguồn của câu chuyện xua: 

Tìm về "đồi thông hai mộ" - nơi phát tích biểu tượng tình yêu xứ Mường

 Khánh Linh

Hoà Bình - "Đồi thông hai mộ" nằm tại huyện Kim Bôi, từ lâu nay được coi là biểu tượng tình yêu của xứ Mường.

Hai ngôi mộ của đôi trai gái xứ Mường yêu nhau nhưng không đến được với nhau. Ảnh: Khánh Linh

Biểu tượng tình yêu xứ Mường

Một ngày cuối tháng 9.2022, trong ánh nắng vàng ngọt và gió nhẹ của tiết trời thu Tây Bắc, PV Báo Lao Động có dịp về xã Hùng Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình, nơi có "đồi thông hai mộ" trong tuyệt tác thi phẩm cùng tên của văn sĩ Tùng Giang - Vũ Đình Trung về mối tình sắt son mà bi thảm của đôi trai tài gái sắc xứ Mường.

Lần theo chỉ dẫn của người dân, men theo con dốc ngoằn ngoèo, uốn lượn, PV đã tìm gặp bà Bùi Thị Bảy - người hiện đang trông coi hai ngôi mộ, cũng là người có công giúp ông Vũ Đình Thảo, cháu nội tác giả tìm ra ngôi mộ sau gần chục năm miệt mài tìm kiếm.


866403082026









Thursday, July 30, 2026

Trầm Hương Đốt (Bài ca chính thức của Gia Đình Phật Tử

 

TVGĐPTDưới đây là một tài liệu cũ của tác giả Nguyễn Cúc – người chủ trương Đặc san Tiếng Sông Hương, xuất bản ở Dallas, Texas, USA – viết, được Huynh Trưởng GĐPT Quảng Long – Nguyễn Thế Phước sưu khảo đã khá lâu và gởi tặng Thư Viện GĐPT. Xin trân trọng chuyển tải để Quý độc giả tường lãm và tham khảo. Hết lòng cảm ơn anh Nguyễn Thế Phước đã cung cấp cho tài liệu quý giá và hữu ích này.

–––oOo–––

Có một thời, cố đô Huế là nơi ca đờn xướng hát quanh năm. Huế quy tụ nhiều nhạc sĩ, nhiều lắm, nhiều như cây lá trên rừng! Nhà biên khảo nhạc Huế – Hoàng Yến(1) có lần nói như vậy, và cũng đúng như vậy.

Từ phủ đệ các ông hoàng bà chúa, các danh gia vọng tộc, quan lại công chức, đến các giới bình dân lao động, người thợ may, anh thợ giày, chị bán hàng chợ Đông Ba, người tài xế lái xe hàng quen thuộc… rất nhiều người thích hát thích ca. Không sành nghệ thuật cầm ca cũng thích nghe tiếng đờn, tiếng sáo hay làm quen với nghệ sĩ để được gọi là hơi hưởng tiếng đờn.

Nhớ lại thời ấy, thời vàng son của ca nhạc cổ điển Huế, không xa xưa lắm, trước năm 1945. Anh thợ hớt tóc đầu xóm, chỉ cần cây đờn nguyệt, đờn cò, lâu lâu réo rắc vài cung Nam Ai, Nam Bình hay bản Xàng Xê dễ đờn, dễ hát, tiêu khiển thì giờ phong lưu trong lúc chờ đợi khách. Cũng có khi nhờ tiếng đờn líu lo quyến rũ, người nghệ sĩ chủ tiệm hớt tóc có thêm khách hàng mới, lần lần trở thành khách cũ vấn vương lâu ngày vì tiếng đờn.

Lớp người này ảnh hưởng lớp người khác, đờn ca xướng hát trở thành thú giải trí thanh tao; sinh hoạt văn nghệ nhẹ nhàng ẩn hiện xóm này, xóm khác, nhờ đó nẩy nở thêm. Một nguyên do khác và cũng là yếu tố quan trọng, các nhạc cụ như đờn nguyệt, đờn cò, sản xuất tiểu công nghệ thô sơ, giản dị nên rẻ tiền, ai ai cũng mua sắm được không khó khăn.

Thích đờn thích hát như thú vui tinh thần cao thượng, nói chung do bản chất nghệ sĩ. Có những người, âm nhạc là nguồn sống mộng mơ ít nhiều lãng mạn. Song song với thú vui nghệ thuật, có những nhạc sĩ âm thầm lặng lẽ với mộng ước đời mình: lấy nghệ thuật để phụng sự đời, cuộc đời đẹp đẽ ước mơ bên kia trần thế.

Trong số những nghệ sĩ hiếm hoi ấy, có nhạc sĩ Bửu Bác, soạn giả tiên phong các thể nhạc tế lễ Phật Giáo từ những năm 1930-1935.

Xuất thân từ một gia đình trọng vọng, Bửu Bác sinh năm 1897, cụ thân sinh Ưng Vũ là cháu nội Miên Thẩm – Tùng Thiện Vương cùng với em, Tuy Lý Vương là hai nhà thơ lỗi lạc của thế kỷ 19, “Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”.

Ngoài tên húy Bửu Bác, bạn bè thân quen hay bà con xa gần vẫn thường gọi ông Trợ Bác, vì chàng thanh niên đang hăng hái nhập thế cuộc với chức Trợ Giáo đúng vào thời buổi nền giáo dục cấp tiểu học vừa mới phôi thai xây dựng. Một thời gian dạy học tại Huế, thuyên chuyển vô Quy Nhơn, xa gia đình buồn quá, lại chuyển đổi về Huế, rồi xin thôi việc luôn. Không làm thầy giáo, cũng không tha thiết chức quan, ông Trợ Bác lai rai làm việc tại Phủ Tôn Nhơn. Công việc làm ăn buôn bán trong nhà đã có “cô Trợ’’ trông nom quán xuyến!

Là mẫu người nghệ sĩ đặc biệt, nhà thơ Bửu Bác, bút hiệu Dã Kiều; vẫn thơ cổ nhưng thi tứ mới, thật mới so với các bạn thơ trong Hương Bình Thi Xã.

Tâm hồn lai láng rộng mở, 70 tuổi vẫn tưởng mình đang độ trung niên; sống nhiều, đi nhiều, cho nhiều và nhận lại cũng nhiều, nhưng ngó tới ngó lui, thấy vẫn còn chưa đủ:

Rộng thời gian mới bảy mươi năm
Vô tận kho tàng, chẳng thiếu, thâm…
(Dã Kiều: Bảy Mươi Tuổi Tự Thuật).

Vừa cổ học, vừa tân học, nhạc sĩ Bửu Bác với ngón đờn lão luyện tranh, tỳ, nguyệt, là một trong số mấy nhạc sĩ thế hệ cũ hiếm hoi đã ghi chép các điệu ca cổ truyền theo ký âm Tây Phương. Nhiều lắm, gần đủ bài bản các điệu Bắc, điệu Nam kèm theo lời ca mới.

Một mình một cõi, từ những xoang điệu cũ lời ca trữ tình, nhạc sĩ Bửu Bác đặt lại lời ca mới, hướng đi mới, trước nay chưa ai nghĩ đến. Cũng là điệu Nam, điệu Bắc, những Kim Tiền, Lưu Thủy, Cổ Bản, Long Ngâm, Phẩm Tiết, Ngũ Đới Thượng cổ xưa, nhưng lần này qua sáng tạo thi ca của Bửu Bác nghe như tiếng chuông Thiên Mụ hay tiếng trống Bát Nhã chùa Diệu Đế, hương khói trầm mặc bao la, khi Giác Ngộ, Hồi Hướng, khi Niệm Phật Trì kinh, khi Sáng Tâm Bồ Đề, Viên Mãn…(2)

Có những nhạc khúc hồ hởi chơi vơi, nhịp điệu xốc vác rộn ràng như Tẩu Mã, Xàng Xê, Hồ Quảng… qua lời ca mới của Phật tử Trừng Bạc, hát lên tưởng tượng như trầm hương đang tỏa rạng, quyện lẫn tâm nguyền, ánh từ bi nhiệm mầu an lạc…

Từ tâm thường đến vô thường, bài ca theo điệu Hồ Quảng quen thuộc với học sinh thế hệ 30, 40:

Đêm, đã sang tê tề,
Gà, sè sè cất cánh…

qua lời ca mới của Phật tử Trừng Bạc, trở thành bài hát cung nghinh Phật. Các nhạc sinh Ban Đồng Ấu tại chùa Thiên Mụ, Diệu Đế, Báo Quốc, Từ Đàm, Từ Hiếu… từ đó vang ca mỗi năm, ngày mồng Tám tháng Tư(3):

Kíp, lại lúc ra thành
Ngài dạo ngoài thiên hạ, cảm đời khổ tương tàn tương tranh.

Những bài bản cổ điển nói trên cùng với những sáng tác mới (theo ký âm Tây Phương) gom góp lại thành tuyển tập “Lễ Nhạc Thi Ca Đạo”, có thể xem là nhạc mục chính thức trong các buổi lễ Phật, nhạc sĩ Bửu Bác vừa là soạn giả kiêm huấn luyện, kiêm luôn công việc tổ chức và đạo diễn.

Không ngạc nhiên lắm khi biết rằng người nhạc sĩ thiết tha với nền cổ nhạc Huế ấy cũng là người hâm mộ nhạc Tây Phương, điệu nghệ với hai cây vĩ cầm và dương cầm ba bốn năm trời học tập công phu.

Cung đờn cũ, lời ca mới, tâm tư xúc động vì in dấu thời đại là bản Đăng-Đàn-Cung, điệu hát chậm, hơi nhạc vui tươi, vừa khoan thai vừa đài các. Gọi Đăng Đàn vì ban Đại Nhạc hợp tấu bản này khi vua ngự lên đàn Nam Giao hay trong các buổi lễ đại triều có tính cách ngoại giao(4).

Cung nhạc triều đình lễ nghi long trọng ngày xưa không có lời, Đăng-Đàn-Cung Bửu Bác có thêm lời ca mới, trở thành thanh nhạc ánh đạo vàng, một sự chuyển hướng nhẹ nhàng tự nhiên đối với một nhạc sĩ Hoàng phái và Phật Tử thuần thành như Bửu Bác – Trừng Bạc:

“Vui mừng gặp ngày nay, rằm vía tháng tư, là khánh tiết Phật Thích Ca, Ngài hiện về Ca Tỳ Là Vệ trong đời khổ vạn sức từ bi…”

Vốn sẵn có duyên nghệ thuật với nhạc Triều, nhạc Nội, nhờ được dự thính nhiều buổi trình diễn tại Duyệt Thị Đường, tâm hồn nghệ sĩ Bửu Bác càng lâu càng chan hòa thấm đậm với các loại nhạc cung đình như Đại Nhạc, Tiểu Nhạc, Nhạc Văn, Nhạc Võ hay các điệu vũ nhạc Đại Nội, múa Tú Linh, múa Bài Bông, múa Bát Tiên Hiến Thọ, múa Lục Cúng Hoa Đăng…

Thử tưởng tượng di sản nghệ thuật người xưa để lại, những âm thanh màu sắc vừa gần vừa xa đang biểu tượng một triều đại nay chỉ còn là âm vang dĩ vãng, tâm tư người nghệ sĩ xao động:

Bóng cờ phấp phới xa xa, lạt…(5)

Âm hưởng xa mờ từ hồn nhạc Việt, nhạc cung đình vọng lại, một ý nghĩ thoáng bùng lên. Làm sao sáng tạo một thể nhạc có tính cách tâm linh cao trọng, một thể nhạc quần chúng Phật Tử đang chờ đợi!

Những âm thanh cao vời lắng đọng, dịu dàng phát sinh từ chuông, trống, mõ, khánh…, những hình thức tu trì đạo hạnh như niệm, tụng, tán, trì, xướng, bạch… lắng nghe và cảm nhận sâu lắng đối với một tâm hồn đầy thơ đầy nhạc như Bửu Bác, đây chính là thanh nhạc ánh đạo vàng, là cung nhạc tâm linh cao trọng đang khai tâm mở lối. Nói rõ thêm, những màu sắc âm thanh diệu vợi đang hài duyên khởi nguồn thể nhạc mới người nghệ sĩ lâu nay trên đường tìm kiếm. Biểu hiện tượng trưng đầy đủ nhất, nhạc phẩm Hải Triều Âm [về sau đổi tên Trầm Hương Đốt](6).

Hải Triều Âm, bản nhạc in dấu một thời, thời điểm Phật Học trên đường chấn hưng (1930-1935). Hải Triều Âm mở đầu thể nhạc cúng lễ Phật Giáo, từ đó về sau “xông ngát mười phương”, và rồi đây các nhà biên khảo lịch sử Phật Giáo giai đoạn cận đại, không thể không nhắc đến soạn giả tâm hương tâm thành Bửu Bác./.

—oOo—

CHÚ THÍCH

(1) Hoàng Yến: La Musique à Hué. B.A.V.H. Juillet-Septembre 1919.

(2) Tựa đề mới với lời ca mới các cổ điệu cũ như Nam Ai, Nam Bình, Phú Lục, Lưu Thủy…

(3) Để có thêm tài liệu rõ ràng viết bài này, cùng với tập Lễ Nhạc Thi Ca Đạo do chị C.H.T.N. Tâm Nhung chuyển giao, ngườỉ viết soát xét lại những thông tin có được song song với ký ức từ gia đình người xưa, mấy chị em cùng một chữ Tâm TN, TM, TL, TQ, TT, những người đã giúp cha (trong nhà gọi bằng chú) trong công tác hát – múa của “Ban Đồng Ấu Phật Tử” thành lập năm 1934-1935, sau này còn tiếp tục.
Ban Đồng Ấu Phật Tử xây dựng nên do tâm thành mộ đạo của Nhạc sĩ Bửu Bác. Thành phần chủ lực trong việc thành lập là các gia đình Bửu Bác, gia đình Ái Liên, gia đình Lê Đình Thám. Hội trưởng Hội Phật Học lúc bấy giờ là cụ Nguyễn Khoa Tân, cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng (xem Hoàng Yến: Cầm Học Tầm Nguyên. Tạp chí Nam Phong, 1917).
Đoàn hát – múa Phật Tử gồm hơn 50 em nhỏ, con cháu các gia đình Phật Tử. Gọi em nhỏ đồng ấu, nhưng có người cũng đã “quá tuổi đồng ấu” như Tâm Mỹ, Tâm Lợi, vừa đoàn viên ca múa, vừa phụ giúp hình thành các điệu múa.
Vừa đặt lời ca, vừa dạy múa hát và đạo diễn, một mình Nhạc sĩ Bửu Bác điều khiển Ban Đồng Ấu Phật Tử, sinh hoạt hàng tuần tại chùa Phước Điền (cho gần nhà, đường Gia Hội). Thành công vui mừng nhất là lần trình diễn đầu tiên, ngày lễ Phật Đản 1935 tại chùa Diệu Đế: các nhạc sinh mặc áo mũ mã tiên, cầm lồng đèn hoa sen, vừa đi vừa hát Đăng-Đàn-Cung, lời ca mới Bửu Bác: Vui mừng gặp ngày nay, rằm vía tháng tư…

(4) Nguyễn Trung Phán – Nguyễn Trung Nghệ: Sách Dạy Hát Tiếng Nam. Huế, 1929.

(5) Bóng cờ phấp phới xa xa, tạt…: Trông Chồng (thơ). Câu thơ hay trong những câu thơ hay của Thái Can; chỉ có bảy chữ nhưng diễn tả được bao nhiêu ý tình, tâm tư xao động, màu sắc và âm thanh.
Tiễn đưa chồng lên đường theo đoàn quân chinh chiến, bóng người chinh phu khuất mờ lần sau rừng cây…
Đoạn thơ 10 câu, đến đây kết thúc với 4 câu, đoạn cuối: “Bóng cờ phấp phới xa xa, tạt…”. Còn lại một mình người chinh phụ, ngẩn ngơ nhìn, hàng cờ sắc thắm rung rinh theo gió mỗi lúc một xa dần…
Nhạc thơ từ mạnh đến yếu, đến đây lắng chìm hẳn, giống như hình bóng gợi lên trong câu thơ, cả màu sắc lẫn âm thanh tan biến lần cho đến khi không còn nghe thấy gì nữa!

(6) Hải Triều Âm – Nhạc và lời Trừng Bạc, với thủ bút của tác giả, tủ sách Tiếng Sông Hương đang lưu giữ, bài hát Phật Giáo đầu tiên viết theo ký âm Tây Phương, đúng nguyên bản như sau:

Trầm hương đốt, xông ngát mười phương;
Nguyện, nguyện kính, đức nhân từ vô lường.
Cầu cầu xin chứng tâm thành chúng tôi,
Vận, vận khói, kết mây lành cúng dường.
Đạo nhiệm mầu, đã lan truyền nơi cùng nơi,
Nhờ chân lý, chúng sanh thoát luân hồi.
Đồng quy, kính quỳ dưới đài sen,
Dâng hoa thơm tinh khiết màu thắm tươi lành.
Đài quang minh, ánh huy hoàng trang nghiêm,
Ơn mười phương điền ngự, hào quang lành.
Nghìn đạo uyển chuyển, soi khắp quần sanh,
Phật đạo đồng, cùng nhau, tu tinh thần, mau viên thành.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nhạc phẩm này về sau đổi lại tựa đề Trầm Hương Đốt, đổi luôn một phần lớn lời ca. Có lẽ dễ hát hơn, nhưng vì vậy đã làm mất đi rất nhiều tính cách Phật Giáo và lễ nhạc Phật tử Bửu Bác bao nhiêu năm tháng cưu mang sáng tác, mục đích ý nghĩa, lời ca và tinh thần nhạc phẩm.

NGUYỄN CÚC

Wednesday, July 29, 2026

Chân Dung 5 Nhà Văn Nữ Qua Góc Nhìn Của Họa Sĩ Chóe – Đinh Quang Tỉnh (sưu tầm)

 


(Họa sỹ Chóe – Nguyễn Hải Chí (1944 – 2003)

 
 Họa sĩ Chóe – Tên thật là Nguyễn Hải Chí. Nguyên quán tại tỉnh An Giang. Định quán tại tỉnh Đồng Nai. Sinh ngày 11-11-1944 và mất ngày 12-3-2003 tại bệnh viện Virginia- Hoa Kỳ. Di quan an táng tại đất Thánh Mẫu.

Ông đến với nghệ thuật từ những sáng tác truyện ngắn, thơ gửi đăng báo trước khi vẽ tranh. Với tài năng bẩm sinh, nhìn sự kiện qua lăng kính hài hước, trào lộng, ông đã trở thành một họa sĩ biếm nổi tiến của Việt Nam. Năm 1973, nhà báo Mỹ Barry Hilton đã thu thập một số sáng tác của ông để in thành sách, phát hành tại Mỹ với tên gọi The world of Choe và gọi ông là Cây biếm họa số 1 của VN. Sau giải phóng, tranh của ông lại tiếp tục xuất hiện trên rất nhiều tờ báo và tạo được phong cách riêng trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tiêu cực, hủ bại, góp phần vào công cuộc lành mạnh hóa xã hội. 

 Chúng tôi xin giới thiệu chân dung của 5 nữ sỹ Việt Nam đã từng nổi tiếng một thời, qua nét vẽ tài hoa của họa sỹ Chóe – năm 1973

(Chân dung nhà văn Túy Hồng)

Nhà văn Nguyễn Thị Tuý Hồng. Bút danh: Tuý Hồng. Sinh ngày 12-10-1938 tại Chí Long, Phong Điền, Thừa Thiên – Huế. Bà viết văn từ năm 1962.

Tác phẩm: Thở dài, nhà xuất bản Đời Mới 1965, Kim Anh tái bản 1966; Vết thương dậy thì, nhà xuất bản Kim Anh 1966; Trong móc mưa hạt huyền, nhà xuất bản Đồng Nai 1969; Tôi nhìn tôi trên vách, nhà xuất bản Đồng Nai 1970; Mùa hạ huyền, Văn Khoa 1971; Những sợi sắc không (Giải nhất Văn chương toàn quốc 1970), nhà xuất bản Khai Trí 1971; Biển điên, nhà xuất bản Văn Khoa 1971 ; Bướm khuya, nhà xuất bản Đồng Nai 1971…

Đã cộng tác với: Văn Hữu, Bách Khoa, Lập Trường, Văn, Văn Học, Tin Sách, Nghệ Thuật, Kịch Ảnh, Con Ong, Diều Hâu, Tia Sáng, Độc Lập, Tin Sáng, Thần Phong, Thời Nay, Đời Nay, Khởi Hành, Tiền Tuyến, Vấn Đề…

(Chân dung nhà văn Trùng Dương)

 Nhà văn Trùng Dương, tên khai sinh là Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1944 tại Sơn Tây, Hà Nội. Bà nguyên là chủ nhiệm-chủ bút nhật báo Sóng Thần (Sài Gòn, 1971-75), và là tác giả của nhiều truyện ngắn, truyện dài, biên khảo, phóng sự, minh hoạ, và một vở kịch ba màn, Các con tôi đã về (1978) ghi lại những ngày cuối cùng ở Sài Gòn vào mùa xuân 1975. Định cư tại Hoa Kỳ từ 1975, bà trở lại trường học và tốt nghiệp ngành báo chí, công quyền và các vấn đề quốc tế tại Đại học Tiểu bang California, Sacramento. Từ 1991-1993, bà làm phóng viên cho tờ The Mountain Democrat, Placerville, Calif; sau đó về cộng tác với nhật báo The Record, Stockton, Calif, từ cuối 1993 tới khi về hưu giữa năm 2006.

(Chân dung nhà văn Nhã Ca) 

Nhà văn Nhã Ca – Sinh năm 1936. tại Huế, khởi viết ngay từ thuở còn là nữ sinh Trung Học trường Đồng Khánh, những bài thơ, truyện ngắn đầu tay của Nhã Ca đã xuất hiện trên các tuần báo ở Saigon từ năm 1957, với tên thật Trần thị Thu Vân. Tuy nhiên, phải ba năm sau đó, bút hiệu Nhã Ca mới chính thức xuất hiện.

Nhã Ca là nhà văn nữ Việt Nam đương thời, có số tác quyền cao nhất. Nhã Ca là một nhà văn nữ nổi bật của Sài Gòn trước 1975, bà đã 2 lần đoạt giải thưởng lớn về Thơ và Văn. Nhã Ca là tác giả của hơn 30 cuốn sách đã xuất bản. Nhã Ca là một trong số ít nữ tác giả được đọc và biết đến nhiều tại Việt Nam.

(Chân dung nhà văn Nguyễn Thị Hoàng) 

Nguyễn Thị Hoàng là một nhà văn nữ ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Bà sinh năm 1938 tại Huế, tốt nghiệp Đại học Văn khoa, Viện đại học Đà Lạt. Sau khi tốt nghiệp, bà dạy học tại Đà Lạt. Năm 1966 bà nghỉ dạy, chuyển sang viết văn.

Tác phẩm đầu tay là Vòng tay học trò xuất bản năm 1966 đã tạo được sự quan tâm của dư luận đương thời. Nhiều ý kiến phê phán tác phẩm này có nội dung vô luân do viết về quan hệ tình cảm giữa một cô giáo trẻ và cậu học trò phổ thông học cùng trường cô giáo dạy.

Các tác phẩm khác bao gồm: Trên thiên đường ký ức (1967), Về trong sương mù (1970), Bây giờ và mãi mãi (1974). 

(Chân dung nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ) 


Nguyễn Thị Thuỵ Vũ. Sinh ngày 19-8-1937 tại Vĩnh Long. Viết văn từ năm 1965.

Tác phẩm: Mèo đêm, tập truyện, nhà xuất bản Kim Anh 1966, Hiện Đại tái bản 1968; Lao vào lửa, tập truyện, nhà xuất bản Kim Anh 1967; Chiều mênh mông, tập truyện, nhà xuất bản Kim Anh 1968; Ngọn pháo bông, truyện dài, nhà xuất bản Hiện Đại 1968; Thú hoang, truyện dài, nhà xuất bản Hồng Đức 1968; Khung rêu, truyện dài, nhà xuất bản Kẻ Sĩ 1969 (Giải nhì Văn chương toàn quốc 1970). Đã cộng tác với: Bách Khoa, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Vấn Đề, Khởi Hành, Hoa Tình Thương, Tin Sáng, Tiếng Nói Dân Chủ, Đời, Lập Trường, Dân Chủ Mới, Dân Ý, Ánh Sáng, Tin Mật, Tiến Bộ…

Đinh Quang Tỉnh

(sưu tầm)

nguồn: nguoitinhhuvo.wordpress.com

Friday, July 24, 2026

Mấy dấu thư hương

Phạm Quốc Bảo.

Lời mở đầu: Trước hết, xin mạn phép được ghi nhận ở đây rằng kể từ mấy năm nay khi tôi bước vào lớp tuổi 80, trong những người bạn cũ thường gặp gỡ có hai nhân vật là anh Đào Ngọc Phong, cùng học ban Triết Tây, và một bạn cùng thời Văn Khoa nhưng học ban khác là anh Nguyễn Thanh Sơn, người có ký ức về các sự kiện đã qua đặc biệt nhớ vào chi tiết, đâu vào đó. Cả hai nhân vật này đã thường bổ túc một số chi tiết để nội dung bài dưới đây được chính xác và phong phú hơn. Trân trọng cảm ơn.

Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Tư năm 2026, tôi nhận được điện thư (email) của chị

Phạm Minh Tâm [1] ở bên Úc Đại Lợi gửi qua. Chị vốn là một trong những thân hữu cũ cùng học tại Văn Khoa Sài Gòn từ mấy năm đầu thập niên 1960. Cho đến nay, nhóm này họa hiếm chỉ còn lại chừng độ bốn năm người định cư rải rác ở

Pháp - Úc - Hoa Kỳ.

Thi thoảng trong năm khi có một vài sự kiện nào xem ra đánh động tâm tư tới những vấn đề cần trao đổi, chị Tâm mới liên lạc để chia xẻ với bằng hữu, trong đó có tôi. Lần này, điện thư của chị có tiêu đề "chữ nghĩa"; tôi xin chép ra đây mấy ý chính, như một cách mào đầu câu chuyện mà tôi muốn đề cập tới trong bài này:

"... Email vừa gửi đã quên chia sẻ chút chuyện vui về chữ nghĩa bên nhà bây giờ: Họ cứ tỉnh bơ theo nhau dùng mà bất phân nghĩa lý. Chẳng hạn, chữ thập niên và thập kỷ.

- Thập niên là khoảng 10 năm giữa hai mốc thời gian cố định...Chẳng hạn, thập niên 1990 hay 90 là từ năm 1991 đến năm 1999.

- Thập kỷ là 10 thế kỷ. Từ điển cả Hán lẫn Việt xưa nay đều không có chữ “thập kỷ” này dùng theo nghĩa là khoảng thời gian 10 năm. Vậy mà bây giờ người ta khơi khơi bắt chước nhau thành thói quen viết mới, bỏ chữ “thập niên” thay bằng “thập kỷ”... Anh Phạm Quốc Bảo ơi, nhớ thầy Nghiêm Toản quá. May mà Thầy không còn để bị chứng kiến cái ông tiến sĩ này giảng

(Hình 01 Thuhuong)

Chữ “hoài” theo ông “giáo mác” này dạy đúng là phải ... bị chửi hoài-hoài ... (Chú hình của chị Phạm Minh Tâm)

Ngoài ra, tôi cũng mới đọc đâu đó một bài “khảo cứu sưu tầm”, nêu tên một tác-giả a, b, c, đ... nào đó với danh hiệu “nữ nhà văn” ...Trách gì cách đây ít lâu có bà Nguyễn Thị Tịnh Thy, nghe nói đang dạy Đại-học Sư-phạm Huế, đã phải viết bài “Hãy cứu lấy tiếng Việt”...Song thực tế với các loại lãnh đạo và trí-thức ( kiểu như nêu ở trên) ấy thì trời cứu cũng chẳng được nữa là!"

* Cọ sát & phản ứng.

Hằng ngày mà đọc được điện thư nào của mấy thân hữu cũ cùng một thời học với nhau một cách hiếm hoi còn sót lại đến giờ, tôi quý lắm. Lần này cũng vậy, nhân dịp nhận được điện thư của chị Tâm tôi cũng muốn khề khà , như nhấp một ngụm trà đậm, để tâm tình thoải mái thổ lộ:

Những sai khác đại loại như hai điểm chị Tâm muốn chia xẻ ở trên, thực ra tôi nghĩ rằng chị ấy cũng đã chứng kiến quá nhiều lần rồi, bây giờ đến lúc bực bội quá thì chị phải bật thành cái cớ để gián tiếp thăm hỏi bạn hữu mà thôi. Có lẽ vậy nên điện thư chị gửi cho tôi mới có nội dung như thế.

Là người tiếp nhận, tôi đồng ý với phương thức và thái độ phản ứng của chị. Thực ra hiện tượng xử dụng sai khác về chữ nghĩa đại loại như thế đã thường xuyên xuất hiện liên tục trên mạng lưới truyền thông cả nửa thế kỷ qua, giữa các cộng đồng người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Nhưng điểm đáng lưu ý ở đây là thực tế chứng minh rằng những phản ứng xem ra nhiều khi quá gay gắt và được biểu lộ qua những từ ngữ thô tục đến độ..., cá nhân tôi cho rằng không nên như vậy: Thứ nhất là chẳng tạo nên được một lợi ích gì cho ai, nếu không muốn nói là phản ứng như thế chỉ lộ ra những giới hạn về hiểu biết - yếu kém về tư cách của vị thế người phản ứng; hơn nữa, còn đào sâu thêm hố ngăn cách không thể giải tỏa nổi trong giao tiếp giữa người với người, nói chung.

Cuộc sống của bất cứ dân cư nào trên thế giới này cũng luôn thường xuyên sinh động: Mọi sự - mọi vật theo lẽ thường hằng, dù muốn hay không, bắt buộc phải biến đổi, cả ở không gian lẫn trong thời gian. Rồi khi thay đổi như vậy, mọi thứ còn được điều chỉnh bằng chính thực tế ứng dụng để có thể tồn tại trong xã hội và đời sống dân cư, khiến hiện tượng nào không phù hợp, không được đa số chấp nhận nữa thì sẽ tự khắc thui chột đi, hoặc sẽ trực tiếp lại thay đổi bằng cách nào đó để có thể lưu trữ lại.

* Được cớ khêu gợi tâm tình.

Nhưng có một điểm quan trọng ở đây là cái câu chị Tâm viết: "...nhớ thầy Nghiêm Toản quá." Một nhắc nhớ gồm chỉ có mấy chữ này nhưng tức khắc trở nên căn cớ đột nhiên ' bứt dây động rừng' khiến ký ức đã được ấp ủ trong tiềm thức của tôi từ lâu, bây giờ chúng cứ thế mà liên tiếp bật dậy, linh hoạt - sống động tuôn trào ngập tràn cả tâm tư của tôi lúc này.

"...thầy Nghiêm Toản?" Cá nhân tôi thì chỉ được nghe nhắc đến tên thầy chứ chưa hề được trực tiếp học thầy...Nhưng dù cho tình cờ mà nghe chị ấy nhắc tới tên thầy, tôi lại như thấy ra rằng chị ấy muốn nhắc đến cả một thời chúng tôi cùng học ở phân khoa này; trong ấy có cả những năm Dự Bị Văn Khoa lẫn các chứng chỉ như Văn Chương Quốc Âm và Văn Minh Việt Nam mà thầy Nghiêm Toản là một trong những giáo sư đã từng giảng dạy ở phân khoa này. Nếu quả như tôi đoán đúng như vừa thổ lộ ở trên thì niên khóa bắt đầu học ở phân khoa này, ai cũng phải trải qua năm dự bị. Tôi cũng vậy, không khác. Tôi đã ghi danh theo ban Triết để được chính thức chấp thuận vào học tập tại trường này... Và tức khắc, tôi nhớ liền đến linh mục Larre, giáo sư gốc người Pháp. Đặc biệt là ông thầy Larregiảng bằng tiếng Pháp mà lại được cho dạy Hán văn ở năm dự bị, thời tôi theo học. Và vị phụ tá giáo sư Larre lại là ông Trần Đức Rật [Nghe nói đúng lúc ấy ông Rật đang được linh mục Larre đỡ đầu để làm tiểu luận cấp cao học.] Đặc biệt hơn nữa, suốt niên học ấy, giáo sư Larre chỉ một mực chọn những bài thơ thuộc dòng Đường Thi, suốt từ đời Tùy cho đến triều đại Thanh bên Trung Hoa để dạy Hán văn!

* Mấy nét chấm phá

Nhưng đấy chỉ là sự hiện mở đầu để ký ức tôi bật ra về những nét riêng biệt của những vị giáo sư khác mà tôi đã được thụ huấn thời ấy mà hiện còn đọng lại sắc nét trong kỷ niệm của riêng tôi. Những nét này làm như khi có dịp va chạm tới thì tự nhiên chợt hiện ra vài chi tiết; có khi chỉ là một hình tượng đơn giản với vài câu chú thích mà thôi. Chẳng hạn như:

- Cụ Tú Riễm [2], cái lưng cụ đã gù. Cụ thường bước từ xe xích lô đạp đến đậu ngay trước cửa bước qua thềm là vào tới sảnh đường của khuôn viên trường.

- Hình ảnh vị khoa bảng xưa còn xót lại với trang phục luôn luôn khăn đống – áo the đen dài của cụ Nghè ( tiến sĩ) Nguyễn Sĩ Giác. Cụ đã được người con cả (trông thoáng qua chúng tôi tạm đoán ra người con này của cụ còn lớn tuổi hơn nhiều so với đa số bọn sinh viên nhóc chúng tôi lúc ấy) chở tới trường, lúc thì bằng xe mobilette, cũng có lúc chỉ bằng xe đạp...

Chưa hết! Ký ức tôi còn lưu trữ những nét khá thú vị và rõ nét về các vị giáo sư khác nữa. Chẳng hạn:

- Thi sĩ Đông Hồ dạy chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm có dáng dấp thư sinh nho nhã, bao giờ cũng ăn mặc complê - cravát tề chỉnh và dường như cũng là một trong những vị giảng viên rất hiếm hồi ấy đến trường bằng xe hơi nhà.

Gia đình ông có một tiệm sách lấy tên là Yểm Yểm Thư Quán. Sinh viên chúng tôi đến thăm bao giờ cũng phải đợi gần nửa tiếng đồng hồ: Ông bận bộ quốc phục - áo the - khăn mũ , ra ngồi bàn thấp có sẵn bộ ấm tách trà đâu vào đó rồi mới chịu tiếp chúng tôi!

- Học giả Vương Hồng Sển dạy chứng chỉ Văn Minh Việt Nam. Ông kể chuyện về

những kinh nghiệm sống động của đời ông rất hấp dẫn bọn sinh viên trẻ chúng tôi, đặc biệt là mỗi khi đề cập đến đồ cổ xưa và sách xưa. Ông sống với vợ là bà Năm Sađéc, một kịch sĩ nổi tiếng thời ấy, tại một nhà vườn rộng xum xuê cây trái trên đường Lê Quang Định bên Gia Định. Sinh viên thường được mời tới nhà ông chơi cả ngày, ăn bánh canh giò heo do bà Năm Sa Đéc tự tay nấu đãi, vừa tản bộ quanh khu vườn vừa nghe ông lan man kể những chuyện thời ông làm thư ký tòa tỉnh ở miền Nam, hoặc chuyện ông thường gặp may mắn thu thập được nhiều đồ cổ giá trị không ngờ...

* Những tia sáng chợt lóe lên Tuy nhiên, cũng có những giáo sư khi được nhắc đến thì chỉ còn sót lại trong ký ức của tôi một vài chi tiết mơ hồ; nhưng không ít vị lại có những chi tiết vô cùng quan trọng lắng đọng trong trí nhớ của cá nhân tôi. Chẳng hạn như:

- Giáo sư Trần Văn Toàn đã giảng dạy môn Duy Vật Biện Chứng Thuyết của Karl

Marx nhưng ông đã sớm rời trường, độ năm 1965 (?) và nghe nói ông được sang

dạy ở một đại học thuộc quốc gia Ma Rốc (Morocco, phía đông bắc Phi Châu), rồi

sau đó không trở lại dạy nữa.

- Ở chứng chỉ Triết Trung Hoa, hai vị giáo sư có những chi tiết đặc biệt mà cá nhân tôi còn nhớ đến tận bây giờ:

Thứ nhất là linh mục Bửu Dưỡng. Nghe nói rằng mấy chục năm trước đấy vị giáo sư này chuyên giảng dạy các môn luận lý - đạo đức - siêu hình tại các khóa huấn luyện linh mục trong hệ thống nhà dòng Thiên Chúa giáo. Nhưng thời tôi học thì linh mục Bửu Dưỡng đặc biệt lại sang dạy sách Đại Học (thuộc bộ Tứ Thư: Đại Học - Trung Dung - Luận Ngữ - Mạnh Tử). Theo như ông thổ lộ rằng tâm nguyện ấp ủ từ lâu của ông là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ chúng tôi những suy tư của ông về nền triết học Đông phương. Chính nhờ tâm tình này mà tôi đã bỏ ra một niên khóa để lấy thêm 2 chứng chỉ Triết Trung Hoa và Triết Ấn Độ cho có được cơ hội xin làm cao học Triết Đông Phương.

Thứ nhì là giáo sư Nguyễn Văn Ba. Ông vốn tốt nghiệp bác sĩ tại Pháp nhưng về sống tại Sài Gòn. Lúc dạy chúng tôi, ông đang làm chủ một tiệm thuốc bắc (lâu quá rồi tôi quên mất tên tiệm) nằm trên đường Phan Đình Phùng, khúc giữa hai đường Lê Văn Duyệt và Cao Thắng. Vào độ giữa thập niên 1960, một khu được phép xây cất thành khu biệt thự gọi là Làng Đại Học tại vùng đất phía bên trái dọc theo xa lộ Biên Hòa - vừa qua nhà máy xi măng Hà Tiên, nếu đi từ hướng Gia Định xuống Biên Hòa, thuộc quận ngoại thành Thủ Đức. Vừa qua hai đợt Việt Cộng xóa giao ước để tấn công (gọi là Tổng tấn công) vào dịp Tết Mậu Thân, vào khoảng độ tháng năm - tháng sáu gì đấy, năm 1968, trên đường đi dạy học về, tôi tình cờ gặp thầy Nguyễn Văn Ba đang đứng ngó lơ trước cửa hiệu thuốc bắc mà ông đã chuyển nhượng lại cho con trai ông làm chủ, từ vài năm trước đó. Tôi vội dừng xe tạt vào kính cẩn chào thầy. Ông bảo tôi vào uống cà phê với ông tại một tiệm ăn Tàu cạnh đấy. Khi nghe tôi thắc mắc: Đại khái đã lớn tuổi lại còn đang loạn lạc mà sao cụ không chịu ở nhà mà lại ra đứng phất phơ giữa nơi phố xá ồn ào náo nhiệt này? Ông ngần ngừ một lát rồi nhẹ giọng tâm sự rằng phải tạm lánh xuống ở đây cả tháng rồi vì giáo sư Nguyễn Văn Kiết ( tốt nghiệp cao học Triết ở Sorbonne - Pháp, đã từng dạy chúng tôi trong chứng chỉ Triết Tây, hiện cũng đang ở trong cùng khu đại học Thủ Đức) đã ngỏ lời rủ ông cùng bỏ Sài Gòn theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nhân dịp này nhưng ông đã không đồng ý bằng cách chỉ yên lặng mà né tránh đi xuống ở dưới phố thị Sài Gòn cho yên thân.

20 tháng Năm 2026

Chú giải:

[1] Phạm Minh Tâm, tác giả cuốn " Còn Ai Giữa Mênh-Mông Đời Mình", Báo Thời Luận Hoa Kỳ xuất bản năm 2023.

[2] Theo như tài liệu để lại giải thích, việc thi cử thời quân chủ xưa ở Việt Nam gồm ba đợt:Thi Hương được tổ chức ở các vùng miền, thí sinh đậu được gọi là Tú Tài. Thi Hội tại kinh thành, ai qua được là đậu bậc cử nhân. Thi Đình do nhà vua quyết định cho đậu ba cấp tiến sĩ: Trạng Nguyên - Bảng Nhãn (Nhỡn) - Thám Hoa; sau này không còn phân cấp như thế nữa, chỉ còn danh hiệu Tiến sĩ và Phó bảng mà thôi. Chẳng hạn như cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng, một trong những vị chủ trì phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội. Trường hợp có những thí sinh đi thi mà chỉ đậu tú tài, 2 lần đậu tú tài thì dân gian gọi là ông "Tú Kép", đi thi 3 lần trở lên mà chỉ đậu được tú tài thì gọi là "Tú Đụp".

Phạm Quốc Bảo.

Phạm Quốc Bảo.

Lời mở đầu: Trước hết, xin mạn phép được ghi nhận ở đây rằng kể từ mấy năm nay khi tôi bước vào lớp tuổi 80, trong những người bạn cũ thường gặp gỡ có hai nhân vật là anh Đào Ngọc Phong, cùng học ban Triết Tây, và một bạn cùng thời Văn Khoa nhưng học ban khác là anh Nguyễn Thanh Sơn, người có ký ức về các sự kiện đã qua đặc biệt nhớ vào chi tiết, đâu vào đó. Cả hai nhân vật này đã thường bổ túc một số chi tiết để nội dung bài dưới đây được chính xác và phong phú hơn. Trân trọng cảm ơn.

Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Tư năm 2026, tôi nhận được điện thư (email) của chị

Phạm Minh Tâm [1] ở bên Úc Đại Lợi gửi qua. Chị vốn là một trong những thân hữu cũ cùng học tại Văn Khoa Sài Gòn từ mấy năm đầu thập niên 1960. Cho đến nay, nhóm này họa hiếm chỉ còn lại chừng độ bốn năm người định cư rải rác ở

Pháp - Úc - Hoa Kỳ.

Thi thoảng trong năm khi có một vài sự kiện nào xem ra đánh động tâm tư tới những vấn đề cần trao đổi, chị Tâm mới liên lạc để chia xẻ với bằng hữu, trong đó có tôi. Lần này, điện thư của chị có tiêu đề "chữ nghĩa"; tôi xin chép ra đây mấy ý chính, như một cách mào đầu câu chuyện mà tôi muốn đề cập tới trong bài này:

"... Email vừa gửi đã quên chia sẻ chút chuyện vui về chữ nghĩa bên nhà bây giờ: Họ cứ tỉnh bơ theo nhau dùng mà bất phân nghĩa lý. Chẳng hạn, chữ thập niên và thập kỷ.

- Thập niên là khoảng 10 năm giữa hai mốc thời gian cố định...Chẳng hạn, thập niên 1990 hay 90 là từ năm 1991 đến năm 1999.

- Thập kỷ là 10 thế kỷ. Từ điển cả Hán lẫn Việt xưa nay đều không có chữ “thập kỷ” này dùng theo nghĩa là khoảng thời gian 10 năm. Vậy mà bây giờ người ta khơi khơi bắt chước nhau thành thói quen viết mới, bỏ chữ “thập niên” thay bằng “thập kỷ”... Anh Phạm Quốc Bảo ơi, nhớ thầy Nghiêm Toản quá. May mà Thầy không còn để bị chứng kiến cái ông tiến sĩ này giảng

(Hình 01 Thuhuong)

Chữ “hoài” theo ông “giáo mác” này dạy đúng là phải ... bị chửi hoài-hoài ... (Chú hình của chị Phạm Minh Tâm)

Ngoài ra, tôi cũng mới đọc đâu đó một bài “khảo cứu sưu tầm”, nêu tên một tác-giả a, b, c, đ... nào đó với danh hiệu “nữ nhà văn” ...Trách gì cách đây ít lâu có bà Nguyễn Thị Tịnh Thy, nghe nói đang dạy Đại-học Sư-phạm Huế, đã phải viết bài “Hãy cứu lấy tiếng Việt”...Song thực tế với các loại lãnh đạo và trí-thức ( kiểu như nêu ở trên) ấy thì trời cứu cũng chẳng được nữa là!"

* Cọ sát & phản ứng.

Hằng ngày mà đọc được điện thư nào của mấy thân hữu cũ cùng một thời học với nhau một cách hiếm hoi còn sót lại đến giờ, tôi quý lắm. Lần này cũng vậy, nhân dịp nhận được điện thư của chị Tâm tôi cũng muốn khề khà , như nhấp một ngụm trà đậm, để tâm tình thoải mái thổ lộ:

Những sai khác đại loại như hai điểm chị Tâm muốn chia xẻ ở trên, thực ra tôi nghĩ rằng chị ấy cũng đã chứng kiến quá nhiều lần rồi, bây giờ đến lúc bực bội quá thì chị phải bật thành cái cớ để gián tiếp thăm hỏi bạn hữu mà thôi. Có lẽ vậy nên điện thư chị gửi cho tôi mới có nội dung như thế.

Là người tiếp nhận, tôi đồng ý với phương thức và thái độ phản ứng của chị. Thực ra hiện tượng xử dụng sai khác về chữ nghĩa đại loại như thế đã thường xuyên xuất hiện liên tục trên mạng lưới truyền thông cả nửa thế kỷ qua, giữa các cộng đồng người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Nhưng điểm đáng lưu ý ở đây là thực tế chứng minh rằng những phản ứng xem ra nhiều khi quá gay gắt và được biểu lộ qua những từ ngữ thô tục đến độ..., cá nhân tôi cho rằng không nên như vậy: Thứ nhất là chẳng tạo nên được một lợi ích gì cho ai, nếu không muốn nói là phản ứng như thế chỉ lộ ra những giới hạn về hiểu biết - yếu kém về tư cách của vị thế người phản ứng; hơn nữa, còn đào sâu thêm hố ngăn cách không thể giải tỏa nổi trong giao tiếp giữa người với người, nói chung.

Cuộc sống của bất cứ dân cư nào trên thế giới này cũng luôn thường xuyên sinh động: Mọi sự - mọi vật theo lẽ thường hằng, dù muốn hay không, bắt buộc phải biến đổi, cả ở không gian lẫn trong thời gian. Rồi khi thay đổi như vậy, mọi thứ còn được điều chỉnh bằng chính thực tế ứng dụng để có thể tồn tại trong xã hội và đời sống dân cư, khiến hiện tượng nào không phù hợp, không được đa số chấp nhận nữa thì sẽ tự khắc thui chột đi, hoặc sẽ trực tiếp lại thay đổi bằng cách nào đó để có thể lưu trữ lại.

* Được cớ khêu gợi tâm tình.

Nhưng có một điểm quan trọng ở đây là cái câu chị Tâm viết: "...nhớ thầy Nghiêm Toản quá." Một nhắc nhớ gồm chỉ có mấy chữ này nhưng tức khắc trở nên căn cớ đột nhiên ' bứt dây động rừng' khiến ký ức đã được ấp ủ trong tiềm thức của tôi từ lâu, bây giờ chúng cứ thế mà liên tiếp bật dậy, linh hoạt - sống động tuôn trào ngập tràn cả tâm tư của tôi lúc này.

"...thầy Nghiêm Toản?" Cá nhân tôi thì chỉ được nghe nhắc đến tên thầy chứ chưa hề được trực tiếp học thầy...Nhưng dù cho tình cờ mà nghe chị ấy nhắc tới tên thầy, tôi lại như thấy ra rằng chị ấy muốn nhắc đến cả một thời chúng tôi cùng học ở phân khoa này; trong ấy có cả những năm Dự Bị Văn Khoa lẫn các chứng chỉ như Văn Chương Quốc Âm và Văn Minh Việt Nam mà thầy Nghiêm Toản là một trong những giáo sư đã từng giảng dạy ở phân khoa này. Nếu quả như tôi đoán đúng như vừa thổ lộ ở trên thì niên khóa bắt đầu học ở phân khoa này, ai cũng phải trải qua năm dự bị. Tôi cũng vậy, không khác. Tôi đã ghi danh theo ban Triết để được chính thức chấp thuận vào học tập tại trường này... Và tức khắc, tôi nhớ liền đến linh mục Larre, giáo sư gốc người Pháp. Đặc biệt là ông thầy Larregiảng bằng tiếng Pháp mà lại được cho dạy Hán văn ở năm dự bị, thời tôi theo học. Và vị phụ tá giáo sư Larre lại là ông Trần Đức Rật [Nghe nói đúng lúc ấy ông Rật đang được linh mục Larre đỡ đầu để làm tiểu luận cấp cao học.] Đặc biệt hơn nữa, suốt niên học ấy, giáo sư Larre chỉ một mực chọn những bài thơ thuộc dòng Đường Thi, suốt từ đời Tùy cho đến triều đại Thanh bên Trung Hoa để dạy Hán văn!

* Mấy nét chấm phá

Nhưng đấy chỉ là sự hiện mở đầu để ký ức tôi bật ra về những nét riêng biệt của những vị giáo sư khác mà tôi đã được thụ huấn thời ấy mà hiện còn đọng lại sắc nét trong kỷ niệm của riêng tôi. Những nét này làm như khi có dịp va chạm tới thì tự nhiên chợt hiện ra vài chi tiết; có khi chỉ là một hình tượng đơn giản với vài câu chú thích mà thôi. Chẳng hạn như:

- Cụ Tú Riễm [2], cái lưng cụ đã gù. Cụ thường bước từ xe xích lô đạp đến đậu ngay trước cửa bước qua thềm là vào tới sảnh đường của khuôn viên trường.

- Hình ảnh vị khoa bảng xưa còn xót lại với trang phục luôn luôn khăn đống – áo the đen dài của cụ Nghè ( tiến sĩ) Nguyễn Sĩ Giác. Cụ đã được người con cả (trông thoáng qua chúng tôi tạm đoán ra người con này của cụ còn lớn tuổi hơn nhiều so với đa số bọn sinh viên nhóc chúng tôi lúc ấy) chở tới trường, lúc thì bằng xe mobilette, cũng có lúc chỉ bằng xe đạp...

Chưa hết! Ký ức tôi còn lưu trữ những nét khá thú vị và rõ nét về các vị giáo sư khác nữa. Chẳng hạn:

- Thi sĩ Đông Hồ dạy chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm có dáng dấp thư sinh nho nhã, bao giờ cũng ăn mặc complê - cravát tề chỉnh và dường như cũng là một trong những vị giảng viên rất hiếm hồi ấy đến trường bằng xe hơi nhà.

Gia đình ông có một tiệm sách lấy tên là Yểm Yểm Thư Quán. Sinh viên chúng tôi đến thăm bao giờ cũng phải đợi gần nửa tiếng đồng hồ: Ông bận bộ quốc phục - áo the - khăn mũ , ra ngồi bàn thấp có sẵn bộ ấm tách trà đâu vào đó rồi mới chịu tiếp chúng tôi!

- Học giả Vương Hồng Sển dạy chứng chỉ Văn Minh Việt Nam. Ông kể chuyện về

những kinh nghiệm sống động của đời ông rất hấp dẫn bọn sinh viên trẻ chúng tôi, đặc biệt là mỗi khi đề cập đến đồ cổ xưa và sách xưa. Ông sống với vợ là bà Năm Sađéc, một kịch sĩ nổi tiếng thời ấy, tại một nhà vườn rộng xum xuê cây trái trên đường Lê Quang Định bên Gia Định. Sinh viên thường được mời tới nhà ông chơi cả ngày, ăn bánh canh giò heo do bà Năm Sa Đéc tự tay nấu đãi, vừa tản bộ quanh khu vườn vừa nghe ông lan man kể những chuyện thời ông làm thư ký tòa tỉnh ở miền Nam, hoặc chuyện ông thường gặp may mắn thu thập được nhiều đồ cổ giá trị không ngờ...

* Những tia sáng chợt lóe lên Tuy nhiên, cũng có những giáo sư khi được nhắc đến thì chỉ còn sót lại trong ký ức của tôi một vài chi tiết mơ hồ; nhưng không ít vị lại có những chi tiết vô cùng quan trọng lắng đọng trong trí nhớ của cá nhân tôi. Chẳng hạn như:

- Giáo sư Trần Văn Toàn đã giảng dạy môn Duy Vật Biện Chứng Thuyết của Karl

Marx nhưng ông đã sớm rời trường, độ năm 1965 (?) và nghe nói ông được sang

dạy ở một đại học thuộc quốc gia Ma Rốc (Morocco, phía đông bắc Phi Châu), rồi

sau đó không trở lại dạy nữa.

- Ở chứng chỉ Triết Trung Hoa, hai vị giáo sư có những chi tiết đặc biệt mà cá nhân tôi còn nhớ đến tận bây giờ:

Thứ nhất là linh mục Bửu Dưỡng. Nghe nói rằng mấy chục năm trước đấy vị giáo sư này chuyên giảng dạy các môn luận lý - đạo đức - siêu hình tại các khóa huấn luyện linh mục trong hệ thống nhà dòng Thiên Chúa giáo. Nhưng thời tôi học thì linh mục Bửu Dưỡng đặc biệt lại sang dạy sách Đại Học (thuộc bộ Tứ Thư: Đại Học - Trung Dung - Luận Ngữ - Mạnh Tử). Theo như ông thổ lộ rằng tâm nguyện ấp ủ từ lâu của ông là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ chúng tôi những suy tư của ông về nền triết học Đông phương. Chính nhờ tâm tình này mà tôi đã bỏ ra một niên khóa để lấy thêm 2 chứng chỉ Triết Trung Hoa và Triết Ấn Độ cho có được cơ hội xin làm cao học Triết Đông Phương.

Thứ nhì là giáo sư Nguyễn Văn Ba. Ông vốn tốt nghiệp bác sĩ tại Pháp nhưng về sống tại Sài Gòn. Lúc dạy chúng tôi, ông đang làm chủ một tiệm thuốc bắc (lâu quá rồi tôi quên mất tên tiệm) nằm trên đường Phan Đình Phùng, khúc giữa hai đường Lê Văn Duyệt và Cao Thắng. Vào độ giữa thập niên 1960, một khu được phép xây cất thành khu biệt thự gọi là Làng Đại Học tại vùng đất phía bên trái dọc theo xa lộ Biên Hòa - vừa qua nhà máy xi măng Hà Tiên, nếu đi từ hướng Gia Định xuống Biên Hòa, thuộc quận ngoại thành Thủ Đức. Vừa qua hai đợt Việt Cộng xóa giao ước để tấn công (gọi là Tổng tấn công) vào dịp Tết Mậu Thân, vào khoảng độ tháng năm - tháng sáu gì đấy, năm 1968, trên đường đi dạy học về, tôi tình cờ gặp thầy Nguyễn Văn Ba đang đứng ngó lơ trước cửa hiệu thuốc bắc mà ông đã chuyển nhượng lại cho con trai ông làm chủ, từ vài năm trước đó. Tôi vội dừng xe tạt vào kính cẩn chào thầy. Ông bảo tôi vào uống cà phê với ông tại một tiệm ăn Tàu cạnh đấy. Khi nghe tôi thắc mắc: Đại khái đã lớn tuổi lại còn đang loạn lạc mà sao cụ không chịu ở nhà mà lại ra đứng phất phơ giữa nơi phố xá ồn ào náo nhiệt này? Ông ngần ngừ một lát rồi nhẹ giọng tâm sự rằng phải tạm lánh xuống ở đây cả tháng rồi vì giáo sư Nguyễn Văn Kiết ( tốt nghiệp cao học Triết ở Sorbonne - Pháp, đã từng dạy chúng tôi trong chứng chỉ Triết Tây, hiện cũng đang ở trong cùng khu đại học Thủ Đức) đã ngỏ lời rủ ông cùng bỏ Sài Gòn theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nhân dịp này nhưng ông đã không đồng ý bằng cách chỉ yên lặng mà né tránh đi xuống ở dưới phố thị Sài Gòn cho yên thân.

20 tháng Năm 2026

Chú giải:

[1] Phạm Minh Tâm, tác giả cuốn " Còn Ai Giữa Mênh-Mông Đời Mình", Báo Thời Luận Hoa Kỳ xuất bản năm 2023.

[2] Theo như tài liệu để lại giải thích, việc thi cử thời quân chủ xưa ở Việt Nam gồm ba đợt:Thi Hương được tổ chức ở các vùng miền, thí sinh đậu được gọi là Tú Tài. Thi Hội tại kinh thành, ai qua được là đậu bậc cử nhân. Thi Đình do nhà vua quyết định cho đậu ba cấp tiến sĩ: Trạng Nguyên - Bảng Nhãn (Nhỡn) - Thám Hoa; sau này không còn phân cấp như thế nữa, chỉ còn danh hiệu Tiến sĩ và Phó bảng mà thôi. Chẳng hạn như cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng, một trong những vị chủ trì phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội. Trường hợp có những thí sinh đi thi mà chỉ đậu tú tài, 2 lần đậu tú tài thì dân gian gọi là ông "Tú Kép", đi thi 3 lần trở lên mà chỉ đậu được tú tài thì gọi là "Tú Đụp".

Phạm Quốc Bảo.