Pages

Sunday, October 18, 2026

Tản mạn về sàigòn

Không phải người sanh đẻ tại Sàigòn, tôi chỉ đến đó cư ngụ vài tháng trước khi người hùng của Chiến dịch Nguyễn Huệ, Thiếu tướng Dương Văn Minh cổ mang vòng hoa, đứng trên chiếc xe, hiên ngang dẫn đoàn quân chiến thắng trở về, diễn hành qua khán đài dựng trước trường Tiểu học Tôn Thọ Tường, đầu đường Trần Hưng Ðạo của Thủ đô Sàigòn. Ðó là Lễ Quốc Khánh, kỷ niệm Ðệ nhất chu niên ngày thành lập Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Chính là ngày 26-10 -1956. Tôi đã học hành, sinh cơ lập nghiệp và đã trãi qua 35 năm, hơn nữa cuộc đời với biết bao kỷ niệm vui buồn nơi đó. Vào một ngày đầu tháng 4 năm 1991, tôi phải rời bỏ nó sang xứ lạ quê người nầy, đôi khi cũng có Niềm nhớ không tên như Nhà văn Duyên Anh đã nói trong cuộn băng Thuý Nga Paris vĩnh biệt Sàigòn. Nói về học hành thì Trường của tôi là một ngôi trường nằm ngay trung tâm thành phố, người Pháp xây cất vào năm 1906, đi bộ chỉ mất năm phút là đến chợ Bến thành, nhiều khi Giáo sư bị ốm đau bất thường, không đi dạy được, chúng tôi rời khỏi trường, đi lang thang dọc theo Ðại lộ Lê Lợi, ngắm nhìn giai nhân, tài tử nhất là nữ sinh với tà áo trắng, ngực ôm chiếc cập đen, tha thướt trên đường, trong chợ Bến thành nhưng cũng không thiếu những nữ sinh cúp cua vào trong rạp cinéma thường trực Lê Lợi nằm trên đường Lê Thánh Tôn, Vĩnh Lợi nằm trên Ðại lộ Lê Lợi, nhưng mà có một chỗ đắc địa, đó là Nhà hàng Kim sơn, ở góc đường Lê Lợi - Nguyễn Trung Trực, đến đó gọi một chai bia vừa nhấm nháp, vừa ngắm nhìn thiên hạ bàng quan qua lại thật là tuyệt vời. Người ta thường nói Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò cho nên trước cửa trường là đường Huỳnh Thúc Kháng, gần như không có bóng hồng qua lại, nói vậy cũng quá đáng, thỉnh thoảng tôi có gặp một cô Xẩm tuổi trăng tròn, luôn luôn mặc váy đầm, có lẽ cô ta học trường Pháp, trông cô ta rất xinh, thỉnh thoảng đi qua trường để ra chợ Bến thành, trông nom cửa hàng vãi, đôi khi đang đi, cô ngoái nhìn lui lại, tôi bắt gặp một nụ cười... mấy chục năm qua rồi, đôi khi nhớ lại, tôi vẫn còn thấy nụ cười năm xưa, thấy đôi mắt đen nhánh chứa chan niềm hy vọng, và cô ta dạn dĩ lắm mới dám đi qua đoạn đường ấy, nhưng có ai ăn thịt cá gì ai đâu ? Nghịch ngợm thì một hôm giờ ra chơi, anh em đứng ở cửa sổ trên lầu nhìn xuống, thấy một chiếc xích lô đạp mui trần, chở một cô gái đẹp chạy qua, một anh la to " Ê ! xích lô chở đào đi chơi hé ! ". Cô gái giận tràn hông, nguýt một cái rồi hất mặt qua bên kia đường, còn anh chàng Xích lô trẻ tuổi kia dở nón chào, ngước mặt lên với một nụ cười hả dạ, tươi không thể tả. Mấy ông Thầy già thường hay nhắc rằng: " - Dãi phố bên kia đường có Rạp Hồng Bàng, ngày xưa vua Thành Thái ở dãi phố đó, ông ta là chơn mạng Ðế vương, đứa con nít nào bị ông ta quở sau đó ốm đau ngay, cha mẹ phải đến xin lỗi thì đứa trẻ mới hết bệnh ". Ông Nguyễn Văn Trương Giám đốc nhà sách Khai Trí, Ðô đốc Tư lệnh Hải quân Trần Văn Chơn và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng xuất thân từ trường đó. Năm tháng trôi qua, người ta dần dần quên Tổng Thống độc diễn Nguyễn Văn Thiệu, nhưng trong bài diễn văn đanh thép trên đài truyền hình trong giai đoạn ký Hiệp định Paris, một câu nói ông để lại mọi người khó quên " Ðừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỷ những gì Cộng sản làm ", có kẻ đùa dai nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang nằm yên nghỉ tại Quảng trường Ba Ðình, bỗng nhiên ngồi dậy, ngó chung quanh rồi lập lại lời nói của mình " Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi !". Ngày 11-11-1960, Tư lệnh Lực Lượng nhảy dù, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi đem quân vây Dinh Ðộc Lập, nội bất xuất ngoại bất nhập, ông không có kinh nghiệm đảo chánh, nên không chiếm đài phát thanh Sàigòn, không chiếm Bưu Ðiện chánh Sàigòn, cho nên đường điện thoại vẫn liên lạc được, đài phát thanh mới phát lời kêu gọi cứu giá của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, Ðại tá Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm, đem quân của Sư Ðoàn 7 từ Mỹ Tho về cứu giá, ông Bửu Nghi quyền Giám Ðốc Ðài phát thanh lúc đó, một hôm đang dạy Anh Văn cho lớp chúng tôi, ông tiết lộ : " Nội bất xuất, ngoại bất nhập đâu có làm sao đem băng ghi âm tiếng nói của Tổng Thống từ trong dinh Ðộc Lập ra được, đó là một người nháy giọng Tổng Thống mà thôi ". Hồi đó chúng tôi tự hỏi ai vậy, ai có tài đó, đã cứu được Tổng Thống, cứu cả chế độ, làm hư cuộc đảo chánh, Nguyễn Chánh Thi và những cộng sự phải bay sang tị nạn ở Nam Vang. Người tài ba đó không ai khác hơn quái kiệt Trần Văn Trạch, chỉ nhờ tài nháy giọng mà cứu nguy cho Tổng Thống, năm 1955 tài tử điện ảnh Hồng Kông Lý Lệ Hoa, nỗi tiếng chẳng khác gì Elizabeth Taylor, sang Sàigòn trình diễn, sau đó Trần Văn Trạch hát một bài y như giọng Lý Lệ Hoa hát vậy. Ông có vợ đầm, có con là Trần Văn Trần, Trần Văn Trụi ... khi ông vượt biên sang Pháp, trả lời một câu hỏi, ông nói " Ở Việt Nam, cột đèn mà đi được, nó cũng vượt biên ! ". Nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã từ bỏ thế giới văn nghệ của ông, nằm yên nghỉ trong lòng đất Paris, xin cắm một bông hồng để tưởng niệm ông. Quốc Khánh năm 1957, lần đầu tiên Thủ đô Sàigòn có Hội chợ trong vườn hoa Thị Nghè, muốn vào Hội chợ phải mua vé vào cổng Sở thú, từ Sở thú đi qua một chiếc cầu đúc mới sang chỗ Hội chợ, đêm ấy người ta nô nức đi xem Hội chợ, tôi cũng trong đám người đó, lúc ấy chừng 7 giờ đêm, tôi vừa mới bước lên đầu cầu, thì cảnh chen lấn xô đùa nhau, kêu la vang dậy bắt đầu, cảnh sát nổ súng chỉ thiên, cũng không làm sao tái lập trật tự, tôi muốn đi lui cũng chẳng được, tôi bị người ta xô, người ta lấn, khi ra đến giữa cầu tôi muốn nhảy xuống sông bơi vào bờ cũng không làm sao leo lên lan can cầu, và tôi cứ bị xô lấn qua tới bên kia cầu, quần áo xốc xếch, giày săn- đan của tôi bị đứt quai, tôi không thấy ai bị thương tích gì nặng, sáng hôm sau báo chí đăng tin, tôi mới biết rằng có đến 17 người chết và mấy chục người bị thương phải đưa đi bệnh viện, sau nầy mỗi lần vào Sở Thú, đi ngang chiếc cầu định mệnh đó, tôi vẫn còn nhớ nỗi kinh hoàng của năm kia. Người ta đồn cầu sập, cầu gảy, thật ra không có sập hay gảy gì cả, chỉ vì cảnh xô lấn mà thôi, nguyên nhân có lẽ do bọn người xấu muốn tạo ra cảnh đó để cướp giật, họ cũng không ngờ cảnh hoảng loạn đã tạo ra đến nông nổi đó! Nói đến Sở Thú, còn một chuyện phải nói ra, ở bên cạnh đền thờ Quốc tổ Hùng Vương, tức là đối diện với Viện Bảo Tàng, nơi đây có một con voi bằng đồng của Vua Thái Lan tặng, bên cạnh đó có vào năm 1958 hay 59, Phó Tổng Thống Ấn độ sang thăm Việt Nam, có đến đây trồng một cây Bồ Ðề, ngày đó báo chí đăng tin như vậy, gần đây tôi mới nghiệm ra tại sao Phó Tổng Thống Ấn Ðộ không trồng cây gì khác, mà cây trồng phải là thứ cây quý, chẳng hạn như có một cây hoa tên gọi là Hoa Sứ, có một thứ chuối gọi là Chuối Sứ, hoa ấy đẹp, chuối ấy ngon ngày xưa do phái đoàn vương quốc Thái Lan đi sang triều kiến nhà Nguyễn mang theo biếu hoa ấy, chuối ấy nên gọi là Hoa Sứ, Chuối Sứ, cho nên chuối sứ cũng còn gọi là Chuối Xiêm ( tên gọi nước Thái lan ngày xưa, Pháp phiên âm là Siam ), nhưng dừa xiêm, vịt xiêm, mãng cầu xiêm, vì nó không phải là vật cống sứ. Cây Bồ Ðề ấy phải là cây lấy giống từ Bồ Ðề Ðạo Tràng nơi Ðức Phật đã Nhập định 49 ngày đêm, tìm ra Chân lý cứu độ nhân loại, tại sao Báo chí không đăng tin Phó Tổng Thống Ấn độ trồng cây Bồ Ðề giống của cây Bồ Ðề nơi Ðức Phật thành đạo..", bởi vì người ta nói hồi đó tổng Thống Ngô Ðình Diệm muốn làm thế nào để Ðức Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục là vị Hồng Y đầu tiên của Việt Nam, như thế thì không nên để cho Phật giáo được đề cao. Năm 1963, Cuộc tranh đấu của Phật giáo với chánh phủ Ngô Ðình Diệm, để yêu cầu không áp dụng Dụ số 10 đối với Phật giáo, một hôm tôi đến thăm Ðại Ðức Thích Chính Tiến tại Chùa Bồ Ðề ở Hàng Sanh, khi tôi đến nơi, quý vị Thượng Tọa, Ðại Ðức đang đọc và bàn từng chữ, từng câu của một bức tâm thư, sau khi quý vị họp bàn xong, tôi hỏi Ðại Ðức Chánh Tiến về nội dung bức tâm thư ấy, Ðại Ðức trả lời : " - Ðó là bức tâm thư của một vị Thượng Tọa chuẩn bị tự thiêu cúng dường, để đẩy mạnh cho cuộc đấu tranh của Phật giáo mau thành công..." , tôi nhớ vào một ngày Thứ ba, tôi muốn đến đài Phát thanh quân đội để ủng hộ tinh thần Anh Nguyễn Văn Bình đang phụ trách thu thanh, để phát thanh trên Ðài tiếng nói Quân đội, chừng 10 giờ sáng, tôi định đi từ nhà Họa sĩ Phạm Thăng, nơi tôi ở trọ, chạy xuống đường Hồng Thập Tự theo đó đến dài phát thanh, khi chạy đến công trường Dân Chủ có người chạy xích lô ngược chiều nói to :" Có một ông Sư vừa mới tự thiêu ở ngã tư Lê Văn Duyệt, Phan Ðình Phùng", Tôi tăng tốc chiếc xe Velo Solex, đến nơi ngã tư, thấy quý Tăng, Ni đang ngồi thành một vòng tròn thật lớn, an nhiên niệm Phật, ở giữa ngã tư nhục thân của một vị Tăng đã bị cháy đen, ngã nằm xuống, không xa, có một chiếc xe hơi hình như hiệu Austin, tôi thường thấy Anh Trần Quang Thuận, nguyên là Ðại Ðức Trí Không đệ tử của Ôn Ðôn Hậu, lái xe nầy, bên ngoài là Phật tử đang quỳ niệm Phật, dân chúng bàng quan, hiếu kỳ đứng xem, có chừng 5, 6 người Cảnh sát mặc áo trắng, lăng xăng yêu cầu người nầy tránh ra, người kia đi chỗ khác. Trước cảnh đó, tôi bị xúc động mãnh liệt, rồi tôi chạy đi báo tin cho những người cần biết, tôi quên chuyện đến Ðài phát thanh, mặc kệ Anh Bình với các ca sĩ thiếu nhi, trong đó có cả ca sĩ Trang Thanh Lan ngày nay. Ngày 1-11-1963, sáng hôm đó, tôi đi sang chùa Bồ Ðề, đến trưa tôi đi xe bus xanh về, khi xe chạy đến cửa Sở Thú, tôi thấy khẩu đại bác đặt ở đó, bắn về hướng Lữ Ðoàn Phòng vệ Tổng Thống Phủ, cách đó chỉ chừng 500 thước, mọi người nhốn nháo, tôi tự hỏi chuyện gì đây ? Súng bắt đầu nổ trước giờ làm việc buổi chiều, có lẽ vào khoảng 12 giờ rưỡi. Cho đến hôm sau cuộc đảo chánh thành công, lúc đó ồn ào náo nhiệt là trước dinh Gia Long, nơi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ở và chùa Xá Lợi, Tăng, Ni Phật Tử đã được chở về. Ai là quân nhân ở Sàigòn cũng biết Quân Vụ Thị Trấn, từ đó đến Trại Lê Văn Duyệt có tường rào xi măng, có hai cây trụ cột, trên đó có hình đầu hai con ngựa, rất đẹp, hàng ngày qua lại, nhìn nó tôi không hiểu gì cả, bởi vì hai cây cột ấy hình như là còn sót lại của những cây cột của một hàng rào, đứng trơ vơ, lẽ loi nhưng mà trông hai đầu ngựa ấy phải do tay thợ khéo đấp, có nghệ thuật. Sau nầy Nhà văn Thuần Phong Ngô Văn Phát, cho chúng tôi biết hồi xưa ở đó là mồ chôn tập thể những người làm loạn của Giặc Khôi, nên gọi là Mã Nguỵ, sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ năm 1863, khoảng năm 1870 họ đã làm Trường đua ngựa ở đó, bấy giờ tôi mới hiểu hai cây cột kia là cột rào của Trường đua cũ. Nói đến Mã Nguỵ, giặc Khôi không thể không nhắc đến câu nói mà người ta hay dùng :" Bộ nó là ông Hoành, ông Trắm sao ? ! ", để chỉ cho người ngang tàng, Ông Hoành ông Trắm là tay chân bộ hạ của Lê Văn Khôi, Theo quyển Chuyện khôi hài của Trương Vĩnh Ký in năm 1882 như sau : Ông tiền quân Trắm (tổng Trắm), nguyên là người Bắc, bị đày vô Nam với ông Khôi. Sau giặc Khôi nổi lên mà bị binh trào hạ thành được, bắt đóng gông bỏ vô củi điệu về kinh. Người ta thấy bị mang gông, người ta xúm lại, người ta coi, thì tổng Trắm bèn làm một bài thơ như vầy: Thiên hạ ai ai có thấy không ? Cang thường một gánh, chả phải gông ! Oằn oại hai vai quân tử trước, Nghinh ngang một cổ trượng phu tòng. Sống về đất Bắc danh thơm ngợi, Thác ở trời Nam tiếng hãy không? Nên hư cũng bởi trời mà chớ, Sá dễ là ai hại đặng ông. Có người viết về Thủ Khoa Huân, ông chống Pháp, năm 1875 bị bắt và xử tử hình, tại chợ Thân Trong ( tức chợ Phú Kiết ) tỉnh Ðịnh Tường. Tương truyền khi đó ông có ngâm bài thơ : Khi bị đóng gông. Hai bên thiên hạ thấy hay không ? Một gánh cang thường há phải gông ! Oằn oại đôi vai quân tử trúc, Long lay một cổ, trượng phu tòng. Thác về đất Bắc danh còn rạng, Sống ở thành Nam tiếng bỏ không, Thắng bại doanh thâu trời khiến chịu, Phản thần đéo hỏa đứa cười ông. Trương Vĩnh Ký ( 1837-1898 ) nhà Học giả thông thái, biết nhiều thứ tiếng, ông in Chuyện Khôi Hài năm 1882 còn ông Thủ Khoa Huân bị Pháp tử hình năm 1875 cách nhau có 7 năm, Trương Vĩnh Ký không thể lấy râu ông nọ cắm càm bà kia. Nói về thơ văn cũng nên nói luôn, người xua có nói:" Ðồng Nai có bốn rồng vàng, Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi " , tức nhiên thi thơ Bùi Hữu Nghĩa ( 1807-1872 ) đứng hạng nhứt, chẳng hổ danh ông đậu Thủ Khoa kỳ thi Hương trường thi Gia Ðịnh năm 1835, ông làm quan vì một chuyện bênh vực cho dân, nên bị quan trên ghét, ghép tội cho ông, vợ ông phải bôn ba ra triều đình Huế, nhờ Phan Thanh Giản giúp đỡ, kêu oan cho chồng, ông được giảm án, bị đày đi làm trấn thủ ở An Giang, ông có để lại nhiều thơ văn, cả tuồng hát Kim thạch kỳ duyên, nhưng tôi thích câu đối của ông hơn, chẳng hạn câu đối khi ông hay tin vợ chết ở quê nhà: Ðất chẳng phải chồng, bao nở thịt xương đem gửi đất, Trời như có vợ, đặng coi gan ruột thử cho Trời ? ! Ðôi liễn ông làm để thờ thờ vợ: Ngã chi bần, khanh độc năng trợ, ngã chi oan, khanh độc năng minh, triều quận cộng xưng khanh thị phụ, Khanh chi bệnh, ngã bất đắc dưỡng, khanh chi tử, ngã bất đắc táng, giang sơn ưng tiếu ngã phi phu. Ông Nguyễn Văn Nghĩa dịch : Tớ nghèo, mình lo giúp, tớ oan mình lo kêu, chòm xóm đều khen mình đáng vợ, Mình đau tớ chẳng nuôi, mình chết tớ chẳng táng, non sông thẹn phận tớ làm chồng. Nói đến những nhà giàu thuở xưa, có chú Hỏa (Hui Bon Hoa) giàu quá cở, khởi đầu chú Hoả chỉ có mua ve chai, bán đậu phộng rang mà giàu cho đến nổi, cất nhà thương Sàigòn, cất chợ Bến Thành tặng cho chánh phủ, chánh phủ Pháp dở bỏ chợ cũ ở đường Nguyễn Huệ, chung quanh chợ Bến Thành đều là phố của chú Hỏa cho mướn, đứng trước chợ Bến Thành, nhìn qua dãi phố bên kia bến xe bus, thấy lố nhố mái nhà cao, đó là dinh cơ của chú Hỏa, nơi mà người ta đặt chuyện quay phim Con ma nhà họ Hứa. Mộ chú Hỏa nằm bên quốc lộ 1 cũ, gần núi Châu Thới. Lớp giàu sau đó có :" Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Ðịnh. " Sĩ tức là Huyện sĩ, có nhà thờ Huyện sĩ, đó cũng là Nhà thờ họ đạo Chợ Ðủi, Huyện sĩ là thân phụ của Nguyễn Hữu Hào, là ông nội của Nam Phương Hoàng Hậu, người Pháp đã chọn gia đình giàu có bậc nhất ở trong Nam để ghép mối lương duyên đó. Phương là Tổng Ðốc Phương còn ông Ðịnh là một người Tàu, đã xây cất chợ Bình Tây tặng cho chánh phủ, trước kia trong giữa nhà lồng chợ có tượng của ông, sau 1975 tượng ấy cũng như tượng ông Trương Vĩnh Ký đứng trước Bộ ngoại giao đã bị lấy đi rồi. Khi ông Ðịnh mất, năm đó lúa chừng vài cắc một giạ, ai đi đưa đám tang bất kể lạ quen giàu nghèo, theo phong tục Trung Hoa, đều được lì xì ít nhiều, Ðám tang ông Ðịnh, gia đình ông đã lì xì một tờ giấy bạc con công (5 đồng) ! Sàigòn nói mãi cũng còn, tôi muốn nói thêm một chuyện nữa thôi, người ta hay tìm hiểu về lai lịch một ngôi chùa, chùa Sắc tứ Khải Tường, năm xưa vua Gia long bôn tẩu có vào đây lánh nạn, sau khi lên ngôi nhớ ơn đó mới Sắc tứ chùa, khi Pháp lấy thành Gia Ðịnh, sau xây dựng thành phố, mở rộng đường xá, chùa nằm trên đường Pháp xây dựng, nên đã dời chùa đi một nơi nào đó, tượng Phật của chùa sau đặt trong Viện Bảo Tàng Sàigòn, trong vườn Tao Ðàn có vài ngôi mộ, đó là những ngôi mộ thuộc chùa Khải Tường xưa, nó cũng là những ngôi mộ thuộc gia đình Nhà văn Thu Giang Nguyễn Duy Cần, tác giả Lão Tử Ðạo Ðức Kinh, Phật Học Tinh Hoa. Sàigòn còn biết bao niềm thương, nổi nhớ trong tôi, tôi nghĩ đến một ngày nào đó khi trở lại Sàigòn, tôi sẽ đến vườn ông thượng nhìn lại những cây dầu, nay đã lớn đến bao nhiêu rồi, tôi sẽ nằm trên băng đá nhìn trời, tưởng niệm một thời thơ ấu tôi đã trãi qua nơi Sàigòn tráng lệ nầy, tưởng nhớ đến Nhân vật thằng Ðược trong tác phẩm Cay đắng mùi đời của Nhà Văn Hồ Biểu Chánh, một nhà văn tài hoa, tên tuổi của ông sáng chói, chỉ thua có Trương Vĩnh Ký nhà văn tiền phong trong Văn Học Miền Nam. Tôi đã được chứng kiến cuộc Cách Mạng thành công 1-11-1963, cuộc đổi đời ở miền Nam năm 1975, hằng triệu người vui mừng hớn hở đổ xô ra đường chào mừng đoàn quân giải phóng, không ai có thể ngờ rằng đó lại là ngày đánh dấu thảm họa cho nhân dân miền Nam kéo dài hàng chục năm sau. Sinh nhật thứ 55 Louisville, 13-5-1996

Bênh lưu truyền

Bênh lưu truyền Trước tiên khi viết bài nầy, tôi định lấy tựa là bệnh di truyền, nhưng nghì lại không đúng, tạm gọi là lưu truyền vậỵ Theo gia đình truyền lại, ông nội tôi mất sớm, dù vậy ông bà nội tôi có 8 người con chung, không kể trước khi cưới bà nội tôi, ông nội tôi còn có người con gái riêng, cô ấy cũng như gia đình chúng tôi đều có biết.
Chú 9, Chú 8, Dương 6, Dượng 4, Bác 2 Trai, Bác 2 Gái, Cô 5, Cô 6, Cô 7 và Thím 8 Khi còn nhỏ, tôi nghe gia đình kể lại, ông nội tôi mất rồi, cha tôi làm con nuôi của một bà lấy chồng người Pháp sống ở Nam Vang, có thể ông ấy làm quan Pháp cai trị đất Nam Vang, khi ông ấy mãn nhiệm phải về Pháp, vợ chồng ông ta muốn đưa cha tôi theo, nhưng bà nội tôi sợ mất con, nên không chịu, thế là cha tôi trở về nhà, học hành làm nghề kim hoàn, sau làm Hương quản về sau làm Hương sư, đến mùa Thu 1945, cha tôi sống bằng nghề vẽ tranh bán cho người ta mua về thêu áo gối, thêu màn, tranh vẽ trên giấy dầu người ta treo trên bàn thờ Tổ tiên, ông bà. Năm 1954, theo tuổi mụ cha tôi qua đời thọ 60 tuổi. Mặc dù ở nhà quê, chỉ trừ bác hai và cô Bảy, cha tôi và các chú đều không có cầm cày, đi bừa cfhi cả, một là nhà không có đất làm ruộng. hai là không có trâu bò chi cả. Vậy mà oái oăm thay ! Mùa Hè chú ra đồng chơi, thích leo lưng bò cữi, chẳng may có chuyện chi đó, con bò sợ bỏ chạy, hất chú té xuống dất, chú chống ta nhầm vào một cái lổ, thế là bị gãy 1 cánh tay ! Ngày xưa gọi là bị cánh dá. Cha tôi thích uống trà, ở nhà quê ngưòi ta cứ đến tiệm tạp hóa mua 1 gói trà về nhà pha 4, 5 bình mà uống. Cha tôi không thích uống trà đó, nên thỉnh thoảng sai tôi đi xuống Long Xuyên cách nhà tôi chừng 23 cây số và cách Châu Đốc chừng 32 cây số, xưa là đường LT 10, tức đường Liên Tỉnh 2 + 8 ( Châu Đốc + Long Xuyên) Ngày xxưa thời Pháp thuộc họ đặt Nam Việt Nam thành 20 tỉnh, về sau thêm Cap Saint-Jacques: Vũng Tàu) thành 21 tỉnh. Gia Châu Hà Rạch Trà Sa Bến Long Tân Sóc Thủ Tây Biên Mỹ Bà Chợ Vĩnh Gò Cần Bạc Cáp Cho nên sau nầy tôi cũng uống trà. Có lúc, người quen cho trà Tân Cương Thái Nguyên để uống, cò người bày uống trà phải bình Tử sa … tôi về Sàigòn, đến một hiệu bán trà nằm ở Bến xe Miền Tây Cũ trên đường Petrus Ký nay là Lê Hồng Phong, gần khu Ngã Bảy, nghe nói nơi đây có bán bình trà bằng đất nung họ có người quen, qua lại mua bán từ Trung Quốc, nên tôi cũng mua bình bằng đất nung màu đen đen (tử sa = tử là tím sa là đất sét, tôi nghĩ vậy). Nhưng nay không hiểu sao. Tôi có thay đổi: Thích uống Trà Tân Cương, bình bằng sứ bán ở chợ với chén dĩa bình thường, vốn cái bình cng như chén uống nước không còn bị lưu lại chút mùi vị chi sau khi được rửa và tráng qua lớp nước sôi.
Ngày nay mỗi lần uống trà, tôi lấy bình sứ trắng có vẽ tí tranh màu xanh và cũng chén sứ có tráng men trắng với vài nét tranh xanh. Trước tiên tôi tráng bình cùng như chén uống nước với nước sôi, rồi lấy muổng nhựa múc trà vào bình, rót nước sôi vào rồi đổ ngay ra goị là rửa trà, vì khi người ta hái trà, phơi trà có bụi bậm, vi trùng bám vào sẽ sạch đi. Sau đó đổ nước nóng vào (có người khuyên đổ nước 60 độ). Tôi nghĩ, sau đó đổ nước sôi ấy vào vì tôi không có thì giờ và cũng nghĩ không cần đo nhiệt độ. Có người khuyên không nên uống trà mới pha lúc bụng đói. Chắc chắc chất trà ấy sẽ làm cho bao tử khó chịu hơn. Tôi nghĩ trà pha đậm, trà pha nhạt, tùy theo sở thích mọi người. Nay khi muốn uống, thì tôi pha một muổng trà khô với chừng 1 tách nước sôi, rót ra chừng ¾ tách trà uống lần đầu, phần còn lại thành nước dão. Đương nhiên là mỗi người có một sở thích riêng, không ai giống ai. Khi vào Hội Trà thì sở thích giống nhau khó mà tách riêng ra mỗi nét đặc thù.
Tôi biết uống trà hay ghiền trà do khi nhỏ thấy sáng sớm chừng 4, 5 giờ, cha tôi thức dậy tự nấu nước pha trà, rót vài chén chung đặt trên bàn thờ cúng ông bà rồi cha tôi thưởng thức, tôi tự hỏi có chi ngon, nên lén uống những chén trà cúng khi còn lại hoặc phần trà còn sau buổi uống trà ca cha tôi. Từ đó dần dần tôi biết uống trà, từ vị nhạt vị đắng trở thành ngọt từ lúc nào không nhớ tức là biết uống trà từ đó không lớn đâu, chừng 11, 12 tuổi đầu. Cũng vậy, hồi đó thời PGHH năm 1954, 1955. Ở Đình làng tôi, có Nhà Việc, xưa do Ban Hội Tề quản trị, làm việc, hội họp sau có đon vị bộ đội Hòa Hảo đóng quân tại đó, họ chẳng có nhiều tiền, nên nhờ tôi mang vài đồng tiền lẽ, đi đến tiêm tạp hóa mua cho họ vài điếu thuốc thơm hiệu Ruby Queen, thuốc thơm, còn thuốc Melia hay Basto là thuốc thường do máy vấn, có nhà máy xưa nằm bên đường gần Bến xe Lê Hồng Phong ở Ngã Bảy Sàigòn. Năm nào đó ra viếng cố đô Huế, nhơn tiện đi tham quan Cầu Ngói Thanh Toàn, thấy có ngưòi bán bộ ấm trà nhỏ, làm vật lưu niệm cho du khách, tôi và nhà tôi mua để kỷ niệm chuyến đi, có người thấy thế, vội đến để mua, nhưng chẳng còn. Cũng tiếc dùm cho họ. Trên bộ đĩa cùng như bình và 5 cái chén đều có bài thơ:
Bình minh sổ trản trà Bán dạ tam bôi tửu. Mỗi nhật cứ như thử. Lương y bất đáo gia Sáng sớm uống chén trà, Ban đêm ba chén rượu Mỗi ngày cứ như thế, Thầy thuốc chẳng đến nhà Trên 50 năm rồi, có những chuyện khó nhớ nhưng không thể quên.
Bênh lưu truyền Trước tiên khi viết bài nầy, tôi định lấy tựa là bệnh di truyền, nhưng nghì lại không đúng, tạm gọi là lưu truyền vậỵ Theo gia đình truyền lại, ông nội tôi mất sớm, dù vậy ông bà nội tôi có 8 người con chung, không kể trước khi cưới bà nội tôi, ông nội tôi còn có người con gái riêng, cô ấy cũng như gia đình chúng tôi đều có biết.
Chú 9, Chú 8, Dương 6, Dượng 4, Bác 2 Trai, Bác 2 Gái, Cô 5, Cô 6, Cô 7 và Thím 8 Khi còn nhỏ, tôi nghe gia đình kể lại, ông nội tôi mất rồi, cha tôi làm con nuôi của một bà lấy chồng người Pháp sống ở Nam Vang, có thể ông ấy làm quan Pháp cai trị đất Nam Vang, khi ông ấy mãn nhiệm phải về Pháp, vợ chồng ông ta muốn đưa cha tôi theo, nhưng bà nội tôi sợ mất con, nên không chịu, thế là cha tôi trở về nhà, học hành làm nghề kim hoàn, sau làm Hương quản về sau làm Hương sư, đến mùa Thu 1945, cha tôi sống bằng nghề vẽ tranh bán cho người ta mua về thêu áo gối, thêu màn, tranh vẽ trên giấy dầu người ta treo trên bàn thờ Tổ tiên, ông bà. Năm 1954, theo tuổi mụ cha tôi qua đời thọ 60 tuổi. Mặc dù ở nhà quê, chỉ trừ bác hai và cô Bảy, cha tôi và các chú đều không có cầm cày, đi bừa cfhi cả, một là nhà không có đất làm ruộng. hai là không có trâu bò chi cả. Vậy mà oái oăm thay ! Mùa Hè chú ra đồng chơi, thích leo lưng bò cữi, chẳng may có chuyện chi đó, con bò sợ bỏ chạy, hất chú té xuống dất, chú chống ta nhầm vào một cái lổ, thế là bị gãy 1 cánh tay ! Ngày xưa gọi là bị cánh dá. Cha tôi thích uống trà, ở nhà quê ngưòi ta cứ đến tiệm tạp hóa mua 1 gói trà về nhà pha 4, 5 bình mà uống. Cha tôi không thích uống trà đó, nên thỉnh thoảng sai tôi đi xuống Long Xuyên cách nhà tôi chừng 23 cây số và cách Châu Đốc chừng 32 cây số, xưa là đường LT 10, tức đường Liên Tỉnh 2 + 8 ( Châu Đốc + Long Xuyên) Ngày xxưa thời Pháp thuộc họ đặt Nam Việt Nam thành 20 tỉnh, về sau thêm Cap Saint-Jacques: Vũng Tàu) thành 21 tỉnh. Gia Châu Hà Rạch Trà Sa Bến Long Tân Sóc Thủ Tây Biên Mỹ Bà Chợ Vĩnh Gò Cần Bạc Cáp Cho nên sau nầy tôi cũng uống trà. Có lúc, người quen cho trà Tân Cương Thái Nguyên để uống, cò người bày uống trà phải bình Tử sa … tôi về Sàigòn, đến một hiệu bán trà nằm ở Bến xe Miền Tây Cũ trên đường Petrus Ký nay là Lê Hồng Phong, gần khu Ngã Bảy, nghe nói nơi đây có bán bình trà bằng đất nung họ có người quen, qua lại mua bán từ Trung Quốc, nên tôi cũng mua bình bằng đất nung màu đen đen (tử sa = tử là tím sa là đất sét, tôi nghĩ vậy). Nhưng nay không hiểu sao. Tôi có thay đổi: Thích uống Trà Tân Cương, bình bằng sứ bán ở chợ với chén dĩa bình thường, vốn cái bình cng như chén uống nước không còn bị lưu lại chút mùi vị chi sau khi được rửa và tráng qua lớp nước sôi. Ngày nay mỗi lần uống trà, tôi lấy bình sứ trắng có vẽ tí tranh màu xanh và cũng chén sứ có tráng men trắng với vài nét tranh xanh. Trước tiên tôi tráng bình cùng như chén uống nước với nước sôi, rồi lấy muổng nhựa múc trà vào bình, rót nước sôi vào rồi đổ ngay ra goị là rửa trà, vì khi người ta hái trà, phơi trà có bụi bậm, vi trùng bám vào sẽ sạch đi. Sau đó đổ nước nóng vào (có người khuyên đổ nước 60 độ). Tôi nghĩ, sau đó đổ nước sôi ấy vào vì tôi không có thì giờ và cũng nghĩ không cần đo nhiệt độ. Có người khuyên không nên uống trà mới pha lúc bụng đói. Chắc chắc chất trà ấy sẽ làm cho bao tử khó chịu hơn. Tôi nghĩ trà pha đậm, trà pha nhạt, tùy theo sở thích mọi người. Nay khi muốn uống, thì tôi pha một muổng trà khô với chừng 1 tách nước sôi, rót ra chừng ¾ tách trà uống lần đầu, phần còn lại thành nước dão. Đương nhiên là mỗi người có một sở thích riêng, không ai giống ai. Khi vào Hội Trà thì sở thích giống nhau khó mà tách riêng ra mỗi nét đặc thù. Tôi biết uống trà hay ghiền trà do khi nhỏ thấy sáng sớm chừng 4, 5 giờ, cha tôi thức dậy tự nấu nước pha trà, rót vài chén chung đặt trên bàn thờ cúng ông bà rồi cha tôi thưởng thức, tôi tự hỏi có chi ngon, nên lén uống những chén trà cúng khi còn lại hoặc phần trà còn sau buổi uống trà ca cha tôi. Từ đó dần dần tôi biết uống trà, từ vị nhạt vị đắng trở thành ngọt từ lúc nào không nhớ tức là biết uống trà từ đó không lớn đâu, chừng 11, 12 tuổi đầu. Cũng vậy, hồi đó thời PGHH năm 1954, 1955. Ở Đình làng tôi, có Nhà Việc, xưa do Ban Hội Tề quản trị, làm việc, hội họp sau có đon vị bộ đội Hòa Hảo đóng quân tại đó, họ chẳng có nhiều tiền, nên nhờ tôi mang vài đồng tiền lẽ, đi đến tiêm tạp hóa mua cho họ vài điếu thuốc thơm hiệu Ruby Queen, thuốc thơm, còn thuốc Melia hay Basto là thuốc thường do máy vấn, có nhà máy xưa nằm bên đường gần Bến xe Lê Hồng Phong ở Ngã Bảy Sàigòn. Năm nào đó ra viếng cố đô Huế, nhơn tiện đi tham quan Cầu Ngói Thanh Toàn, thấy có ngưòi bán bộ ấm trà nhỏ, làm vật lưu niệm cho du khách, tôi và nhà tôi mua để kỷ niệm chuyến đi, có người thấy thế, vội đến để mua, nhưng chẳng còn. Cũng tiếc dùm cho họ. Trên bộ đĩa cùng như bình và 5 cái chén đều có bài thơ: Bình minh sổ trản trà Bán dạ tam bôi tửu. Mỗi nhật cứ như thử. Lương y bất đáo gia Sáng sớm uống chén trà, Ban đêm ba chén rượu Mỗi ngày cứ như thế, Thầy thuốc chẳng đến nhà Trên 50 năm rồi, có những chuyện khó nhớ nhưng không thể quên.

Wednesday, September 23, 2026

A Dậu

 


(Ảnh Minh họa) 

Nhà tôi cách ngôi trường làng có bốn căn nhà khác, đó là những căn nhà của bác tám Toán, ông bảy Đời, ông năm Phận, anh xã Chênh, những căn nhà kia đều là cột tre, vách lá. Riêng có nhà anh xã Lý Quốc Chênh là cột gỗ thao lao, vách đóng bổ kho, mái lợp ngói móc. Nhà của cha tôi tuy cột gỗ, nhưng vách lá mái lá, vì ở vùng nước nổi nên mấy căn nhà trên là nhà sàn, trừ nhà ông bảy Đời nền đất như nhiều căn nhà khác.

 

Khi đi học vở lòng, tôi theo chú qua bên kia sông học trường làng khác, do chú tôi làng trưởng giáo, rồi chiến tranh xảy ra chú tôi bỏ trường về tỉnh, trường gần nhà các thầy giáo theo Thanh Niên Tiền Phong bỏ trường, bỏ lớp cho nên tôi bị thất học vài năm.

Sau đó, một người cháu gọi ông Phủ là ông cố, vốn là con của một thầy giáo dạy ở trường tỉnh, lấy ngôi trường làng mở lớp dạy tư, tôi theo học lớp học nầy, nhưng thầy giáo ấy tôi chỉ gọi là Chú Hai, chớ không bao giờ gọi là thầy, vì chú ấy với cha tôi đều là cháu cố của ông Phủ, lại nữa trước kia khi tôi lên ba, lên bốn nhà chú cách nhà tôi chỉ có một căn nhà khác.

Đến giờ ra chơi của học trò vào buổi sáng hay buổi chiều, chú Hai thường hay đến nhà tôi uống nước trà, bàn chuyện thời sự với cha tôi. Vài năm sau, tôi với vài học trò của chú, cùng đi thi tại trường tỉnh, năm đó tôi đậu bằng Sơ đẳng Tiểu học. 

 

Rồi chú ấy xin được làm thầy giáo, ở tỉnh lại phân bổ thêm một người thầy giáo nữa, thế là trường làng tôi có hai thầy dạy học trò, thay vì tôi được xuống tỉnh học, nhưng vì nhà không đủ sức nuôi, nên cha mẹ tôi cho tôi tới trường đi học một buổi sáng, buổi chiều ở nhà phụ giúp việc nhà, chờ thuận tiện cho tôi xuống tỉnh học tiếp.

Trường có thêm thầy giáo, hơn nữa học trò đi học khỏi phải đóng tiền, nên nhiều phụ huynh cho con em tới trường, cô tôi có đứa cháu ngoại cũng được mẹ cháu cho tới trường, nó rủ thêm một đứa bạn cùng xóm đi học, bạn của nó là con của chú chệt ở sát cạnh nhà cô tôi, chú ấy ai cũng gọi là chú chệt Soạn, còn tôi gọi là chú Tư vì là hàng xóm của cô tôi.

Chú Tư và thím tư, người không quen biết mới nhìn biết ngay là khách trú, chú cũng như thím, không rõ từ đâu tới, mua đất đai và cất nhà bên cạnh nhà cô tôi, nói tiếng Việt rành nhưng giọng còn lơ lớ, chú thím có 2 cô con gái, cô gái lớn chắc hơn tôi bốn năm tuổi, tên là A Muối, tôi gọi là chị Muối, cô gái kế nhỏ hơn tôi một vài tuổi, tên là A Dậu, chắc cả hai sinh ra tại Việt Nam, nên nói tiếng Việt chẳng khác chi người Việt.

Cháu tôi ở nhà bà ngoại là cô tôi, nhà cô ấy và chú thím Tư ở đầu cù lao, gần ngôi chợ làng, từ đó cách trường học chừng bốn cây số ngàn.

Trường học thầy giáo dạy ngày hai buổi, nhiều học trò nhà ở xa trường, đi học phải mang theo thức ăn, buổi trưa ăn cơm tại trường, còn cháu tôi và A Dậu đến nhà tôi ăn trưa, có khi leo lên võng đưa kẻo kịt rồi ngủ trưa một giấc, cho đến khi nghe tiếng trống trường báo hiệu giờ học buổi chiều, hai cô bé mới thức dậy vội vàng rửa mặt, ôm vở tới trường.

Vào những dịp Tết hay có giỗ quảy ở nhà cô tôi, tôi thường đến dự, khi chị Muối được gia đình gả đi lấy chồng, A Dậu không còn đi học nữa, nên sang nhà cô tôi phụ giúp nấu nướng hay dọn mâm cỗ, tôi vẫn được gặp A Dậu trông cô xinh đẹp và thùy mị, e lệ mỗi khi chạm mặt tôi.

Một lần vào dịp Tết, tôi đi chúc Tết cô tôi, A Dậu cũng sang phụ dọn ăn, nhân khi không có ai, A Dậu đang cầm mỗi tay một dĩa thức ăn, mang đến cho tôi để tôi mang ra dọn ở bàn, khi A Dậu đến gần tôi liền vịn hai vai A Dậu và đặt lên gò má ửng hồng của nàng một cái hôn, A Dậu phản ứng nhẹ nhàng:

- Đừng anh!

Rồi tôi đi học và xa gia đình. Mấy năm sau, nghe nói A Dậu đã lập gia đình, nhiều năm sau nữa chú thím Tư Soạn mất, đất nhà của chú bán cho người khác, từ đó tôi không nghe ai nói về chị Muối và A Dậu. Rồi cô tôi cũng mất, mỗi khi về quê tôi không có nhiều thì giờ để đi thăm con cháu của cô tôi, tuy nhiên thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ tới A Dậu, hình ảnh cô xẩm nhỏ duyên dáng ở trong lòng tôi.

Gần đây, trong một dịp về quê, tôi phải đi phà qua sông để thăm gia đình người em cô cậu, lúc mới bước xuống phà tôi thấy một người đàn bà trộng tuổi, nhìn tôi không e ngại, khi tôi đứng yên chỗ, phà từ từ rời bến, người đàn bà ấy bước đến bên tôi hỏi:

- Xin lỗi! Anh có phải là anh của chị Út Lan không ?

Tôi ngạc nhiên, không trả lời ngay, nhìn người đàn bà để moi trong trí xem có gặp bà ta lần nào chưa ? Bà ta tuy có tuổi, nhưng dáng người thon gọn, mặc một bộ bà ba vải đắt tiền màu nhã, tóc cắt ngắn chấm vai, uốn dợn cho tôi đoán ngay bà ta người đứng đắn, gia đình khá giả ở thôn quê, là ai ? Tôi đành chịu, nhưng đoán biết vai vế nhỏ hơn, nên tôi đáp lời:

- Dạ phải! Tôi là anh của Út Lan. Nhưng xin lỗi cô là ai ? Biết tôi mà tôi chưa nhận ra được cô !

Cô ta không mừng khi biết rõ tôi, lại có cử chỉ và giọng nói hờn trách:

- Phải rồi ! Anh không nhớ em cũng phải !

- Xin lỗi ! Cho tôi hỏi lại lần nữa, cô là ai ?

Cô ta ngập ngừng đáp:

- Em … là .. A Dậu đây !

Tôi không còn bình tỉnh, đưa cả hai tay nắm vai cô ta, nói to:

- A Dậu!

Tiếng gọi của tôi làm cho vài người đứng gần, ngạc nhiên nhìn về phía chúng tôi, tôi lấy lại bình tỉnh, bỏ tay khỏi hai vai A Dậu nói:

- Không ngờ hôm nay lại được gặp cô !

- Em cũng vậy !

- Giờ cô đi đâu ?

- Em mới được tin, thằng con út của em nằm ở bệnh viện dưới tỉnh, nên em liền phải đi xuống đó thăm nó.

- Tôi đi với cô nghe ?

- Chi vậy anh ?

- Lâu ngày mới gặp, để có thì giờ nói chuyện nhiều hơn.

- Hồi đó em chờ đợi anh, từ khi em có gia đình em vẫn thầm mong có ngày gặp lại, nhưng nhà em đã bán, cô anh bà Tám đã mất, từ đó em nghĩ sẽ không bao giờ gặp lại, không ngờ hôm nay em còn được gặp anh.

A Dậu nói đến đó, phà cập bến, mọi người rộn rịp lên bờ. Tôi đi theo A Dậu, chưa kịp nói thêm điều chi, cô đã lên tới đường rồi bước lên chiếc xe đò. Khi tôi lên bờ, xe từ từ lăn bánh, tôi kịp nhìn thấy A Dậu đã ngồi trong xe, nhìn lại vẫy tay chào.

Tôi đứng bên vệ đường ở bến phà nhìn theo xe, một câu hỏi tự dưng nổi lên xâm chiếm tâm hồn tôi: Sao dung ruổi gặp lại A Dậu làm chi, khuấy động mặt hồ sau mấy mươi năm yên tĩnh ?!   

10-II-2015








Tuesday, September 22, 2026

Bằng Cấp ngày xưa

Thỉnh thoảng đến nhà bạn bè thấy trên tường treo những bằng cấp BA, BS hay MA, MS và Ph D thấy mà nhớ đến những ngày xưa đi học và những mảnh bằng có được.

Tôi không phải thuộc loại lười, nhưng không được chuyên cần lắm, chỉ thuộc dạng trung bình mà thôi. Khi tôi học năm Đệ Tứ tại Trường Kỹ Thuật Cao Thắng, Kỷ sư Cao Thanh Đảnh, tốt nghiệp Kỷ sư Công nghệ ở Pháp về trường làm Hiệu Trưởng, ông chọn học lọc học sinh từ giỏi cho đến yếu kém chia thành 5 lớp A, B, C, D, E. Năm trước tôi từ Đệ Ngũ D được xếp vào Đệ Tứ A. Năm đó, tôi thi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp Kỹ thuật.

 

 

Sau khi đậu Trung Học Kỹ Thuật Đệ Nhất Cấp, được theo học Đệ Nhị Cấp, tôi được xếp vào lớp Đệ Tam A, cùng là lớp những học sinh giỏi, hạnh kiểm tốt.

Đến năm Đệ Nhị, nay tương đương lớp 11, phải thi lấy bằng Tú Tài I cũng gọi là Tú Tài phần thứ nhất, có bằng nầy mới được lên lớp Đệ Nhất, tương đương với lớp 12 của Trung học phổ thong ngày nay.

Ngày xưa lên Đệ nhị cấp gồm các lớp Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất, tương đương với lớp 10, lớp 11, lớp 12 ngày nay. Chia làm những ban chuyên môn sau đây: Ban A là khoa học thực nghiệm chuyên học về Vạn vật dễ theo học ngành Y, Dược. Ban B là khoa học tự nhiên, chuyên học về Toán, Lý Hóa. Ban C chuyên học về Văn chương. Ban D chuyên học về cổ ngữ. Cuối cùng là Kỹ thuật.

Thi Tú Tài phần I hay II, đều có 2 kỳ thi mỗi năm, thi rớt kỳ I, được thi lại kỳ II. Năm tôi học Đệ nhị niên khóa 1961-1962. Tôi nộp đơn thi Tú Tài Kỹ thuật và Phổ thông. Năm đó, tôi thi rớt cả 4 kỳ thi.

Niên học sau 1962-1963, tôi phải học lại, không còn được học lớp A mà phải xuống học tới lớp E. Năm nầy, tôi phải cố gắng học, vì nếu thi rớt sẽ phải bị động viên đi học trường Hạ sĩ quan Đồn Đế ở Nha Trang. Cho nên niên học nầy tôi phải cố gắng, nên đậu hạng Bình Thứ.

Năm học sau, dù đậu hay rớt khi đã có bằng Tú Tài phần I đều được đi học Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tôi có cố gắng và cũng đi học luyện thi vào Trường Kỷ sư, nhưng chỉ đậu Tú Tài II hạng Thứ.

Thi vào Trường Kỷ sư Công nghệ Phú thọ. Lúc đến giờ đi thi môn dễ nhất cho học sinh kỹ thuật như tôi là môn Kỷ nghệ họa, nay gọi là Vẽ kỹ thuật, đạp xe máy không nổ, đưa ra tiệm thợ sửa không được, trễ giờ thi bỏ thi.

Buổi chiều Hoàng Thanh, con trai của Nghị sĩ Hoàng Thế Phiệt, bạn cùng lớp ghé nhà hỏi, sao tôi bỏ thi, tôi kể lại chuyện xe không nổ máy, anh ta bèn mượn dụng cụ dũa, cưa của tôi, để hôm sau thi xưởng. Hoàng Thanh Thi đỗ theo học Kỷ sư Cng nghệ Phú Thọ, ra trường được học bổng đi Pháp rồi chuyển sang đi Đức, nay sinh sống ở tiểu bang Maryland, Mỹ.

Năm đó, tôi dự thi vào Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Phú Thọ, sau 1972 chuyển thành Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức, tuyển 10 người, tôi đậu hạng 12, tức là người dự khuyết thứ 2. Cuối cùng khóa đó chỉ có 6 người theo học mà thôi, nhiều người vừa thi đậu vào Kỷ sư Công nghệ, vừa thi đậu vào Sư Phạm Kỹ thuật, nên họ theo học Kỷ sư. Tuy nhiên có anh Nguyễn Văn Bài lại chọn học Sư Phạm Kỹ Thuật và anh Nguyễn Mạnh Hoạt lại được học bổng đi Pháp, nên anh đi du học ở Pháp, nay sinh sống tại thành phố Nante ở miền Nam xứ Pháp.

Tốt nghiệp Sư Phạm không có phát bằng, chỉ có chứng chỉ. Năm nào đó đồng môn Trịnh Như Tích, về trường Sư Phạm trong khi chờ đợi bổ nhiệm đi trường khác, anh tự làm và cấp cho tôi một cái chứng chỉ, gọi là để kỷ niệm. Bởi vì sau khi mãn khóa, được Sự Vụ Lệnh đi trình diện nơi trường mình sẽ dạy, sau đó được hợp thức hóa bằng Nghị Định của Bộ Giáo Dục bổ nhiệm, do ông Tổng hay Bộ Trưởng ký tên, nên không ai quan tâm đến vấn đề bằng cấp nầy.

Tôi cũng đã gìn giữ mấy chục năm qua những bằng cấp mình đã có, nhưng tôi thích nhất là cái bằng Sơ Đẳng Tiểu Học.

Hồi nhỏ, đi thi ở trường tỉnh Long Xuyên, gia đình cho đi thi, cũng như cho tôi đi chơi cho biết, từ nhà quê ra tỉnh lỵ chỉ có 1 mình, tạm ở nhà người quen ở Cái Sơn đi thi. Ngày kêu Résulta (kết quả) Tôi đậu mà không nghe xướng danh mình, chỉ nghe tên thằng em Chú Bác, nên nghĩ rằng đã rớt, do vậy bị gán cho tên Bùi Kiệm và Tô Võ vì ở nhà có chăn bầy dê ! Tuần sau, anh tôi đi học ở tỉnh về, báo cho biết tôi đã thi đậu và năm sau cũng chính anh lãnh bằng mang về. Còn nữa, vì Đệ nhị thế chiến, mới có 5, 6 tuổi ở nhà quê tôi đã bị thất học. Sau đó đi học lại, học trường tư, năm 1950 thi đậu bằng Sơ Học, người ta có bằng để đi học, còn tôi có bằng lại bị thất học 4 năm. Đến năm 1954, mới được đi học lại. Năm 1956, học đứng hạng nhứt trong lớp, năm đó được miễn thi bằng Tiểu Học.

Được đi Trại Hè Học Sinh tại Vũng Tàu 3 tuần lễ không phải đóng tiền.

Có bằng Tiểu Học, thi tuyển vào Trung Học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc, tranh đua trên 2 ngàn thí sinh, tuyển lấy 300 thí sinh, tôi đậu thứ 51 mặc dù làm trật hết 2 bài toán đố. Năm nầy tôi cũng thi tuyển vào Trung học Kỹ thuật Cao Thắng tranh đua với 3 ngàn thí sinh, tôi chỉ làm trúng có 1 bài Toan đố, tôi cũng đậu hạng 132/250 thí sinh tuyển vào. Nhờ vậy, tôi mới được lên Sàigòn ăn học.

Sau khi Tốt Nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật, ra Trường đi dạy học tại Trung học Kỳ Thuật Banmêthuột rồi bị động viên đi khóa SVSQTB Thủ Đức năm 1968, ra trường năm 1969, ra đơn vị thuộc Tiểu Đoàn 21 Tiếp Vận, căn cứ tại Sóc Trăng, nhưng được chỉ định làm Trung Đội Trưởng Sửa Chữa, đóng quân tại Thị xã Cà Mau, sau đó về làm Trung đội Trưởng Hậu Cứ đóng quân tại TĐ 21 Tiếp Vận tại Sóc Trăng. Tháng 5 năm 1969 được biệt phái về dạy học lại tại THKT Banmêthuột, đến tháng 10 năm 1970 được thuyên chuyển về THKT Nguyễn Trường Tộ, Sàigòn. Đến tháng 10 năm 1974 được chỉ định làm Hiệu Trưng THKT Nguyền Trường Tộ.

Tháng 5 năm 1969 được biệt phái về dạy học lại tại THKT Banmêthuột, đến tháng 10 năm 1970 được thuyên chuyển về THKT Nguyễn Trường Tộ, Sàigòn. Đến tháng 10 năm 1974 được chỉ định làm Hiệu Trưởng THKT Nguyền Trường Tộ. Cấp bậc sau cùng trong quân ngũ là Trung Úỵ ngành Quân Cụ, chuyên môn Quân Xa và Vũ Khí.

Trong thời gian được chuyển về Sàigòn, tôi ghi danh học thêm ở Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn của VĐH Vạn Hạnh.

Đến năm 1973 tôi lấy bằng Cử Nhân Văn Chương tại đây.


Tôi đã học Cao Học Năm Thứ Nhất, đang tiếp tục học năm thứ 2 thì sự kiện Miền Nam Giải Phóng năm 1975, tôi đành gát việc học lại, đi Học Tập Cải Tạo, rồi đi diện HO sang Hoa Kỳ năm 1991, sang đây cơm áo gạo tiền, lo cho gia đình, nên không thể tiếp tục học thêm mặc dù có cặp sách đến Trường học được mấy mùa.

Cuối đời nhìn lại, việc thi cử của tôi không mấy tốt đẹp, làm chi mà có vai trò Trưởng thì chỉ được vài tháng là đi chỗ khác chơi.

Bổ túc 22092026









Monday, September 21, 2026

Thử tìm hiểu Lễ phục và Quốc phục nước ta

 Thử tìm hiểu Lễ phục và Quốc phục nước ta

Áo dài các nguyên thủ quốc gia mặc ở Hội nghị APEC tại VN năm 2006

Quần áo riêng biệt người Việt chúng ta mặc, có thể gọi đó là Việt phục, những áo quần nào mà chúng ta mặc những chỗ trang nghiêm hay chốn công đường gọi là quốc phục, mặc cho những buổi lễ lớn hay tế tự gọi là lễ phục. Lễ phục của vua chúa có triều phục, quan lại có phẩm phục, quân lính có nhung phục, thường dân có lễ phục như mũ ô sa, áo giao lĩnh, hia ủng vải tất cả đều màu thâm.

Vì sao áo dài, được cho là quốc phục nước ta, vì áo dài từ những vị nguyên thủ quốc gia cho chí người dân nam cũng như nữ đều mặc giống nhau.

Chúng ta thấy hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu mặc áo dài, đội khăn đóng bên cạnh bà Từ Cung và các hoàng tử, công chúa.

Tổng thống Ngô Đình Diệm mặc áo dài khăn đóng:

Quốc trưởng Phan Khắc Sửu mặc áo dài khăn đớng:

Tưởng cũng nên tìm hiểu về nguồn gốc quốc phục. Theo sách sử ký chép thì người Văn Lang, tổ tiên dân tộc việt, mặc áo gài về bên tả (Tả nhiệm), đến thế kỷ thứ nhất sau khi chúng ta bị Bắc thuộc, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu, nên ngày nay chúng ta thấy áo cài về tay phải. Do vậy chưa ai rõ nguồn gốc đích thực của chiếc áo dài, chỉ biết rằng thủy tổ của nó, vốn làm bằng da thú và lông chim, qua các hình khắc trên mặt trống đồng Đông Sơn (2000 - 3000 năm trước Tây Lịch). Quần áo được tả trên trống có các loại như: áo hai vạt ngắn, áo hai vạt dài, váy, khố...Họ đội nhiều loại mũ, tết các kiểu tóc khác nhau.

Trống Đồng Đông Sơn

Hình người mặc y phục trên mặt trống đồng Đông Sơn

 

Hình người mặc y phục trên mặt trống đồng Ngọc Lũ

Theo truyền thuyết, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng, trang sức thật lộng lẫy khi cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân nhà Hán.

Cũng tương truyền, do tôn kính Hai Bà, phụ nữ Việt Nam tránh mặc áo hai tà nên  thay bằng áo tứ than, với bốn thân áo tượng trưng cho bốn bậc sinh thành (của hai vợ chồng). Vả lại, khi đó kỹ thuật còn thô sơ, vải được dệt thành từng mảnh khổ nhỏ nên phải ghép bốn mảnh lại mới may đủ một áo, gọi quen là áo tứ thân. Áo gồm hai mảnh đằng sau chắp lại giữa sống lưng (gọi là sống áo), mép của hai mảnh được nối vào nhau và dấu vào phía trong. hai mảnh trước được thắt lên và để thòng xuống thành hai tà áo ở giữa, nên không phải cài khuy (cúc, nút) khi mặc. Bình thường, gấu áo được vén lên, chỉ khi có đại tang (tang chồng hay cha mẹ) mới thả xuống và mép vải để lộ ra ngoài thay vì dấu vào trong. Đấy là hình ảnh chiếc áo dài tứ thân mộc mạc, khiêm tốn.

Áo tứ thân, nón quai thao

Sau khi xua quân đánh đuổi quân Hai Bà, tướng Mã Viện áp đặt một chế độ cai trị hà khắc nhằm đồng hóa nền văn hóa Việt. Hơn 1000 năm dưới sự đô hộ của Trung Hoa, chiếc áo dài, áo tứ thân cũng nỗi trôi theo mệnh nước nhưng không bao giờ bị xóa bỏ. Áo tứ thân vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là miệt quê, cho đến ngày hôm nay.

Dưới thời chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765), Theo Lê Quí Đôn Phủ biên tạp lục, ông đã hiểu dụ dân chúng áp dụng y phục khác với Trung quốc và Nam Bắc thống nhất nhau, nội dung như sau:

"Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng chỉ tuân theo quốc tục, nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cỡi biên, trong ngoài như nhau, chính trị và phong tục cũng nên thống nhất. Nếu cọ̀n có người mặc quần áo kiểu người khách (Trung quốc, TTB chú) thì nên đổi theo thể chế của nước nhà. Đổi may y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa, duy có quan chức thì mới cho dùng xen the, là, trừu, đoạn, còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng nhất thiết không được quen thói cũ dùng càn. Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mớ. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được. Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh chàm hoặc vải đen, hay vải trắng tùy nghi. Còn các bức viền cổ và kết lót thì đều theo như điều hiểu dụ năm trước mà chế dùng."

Sách Đại Nam thực lục tiền biên cũng có chép: "Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục". Trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương Đào Duy Anh viết: " Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương nam bắt dân gian cải cách y phục. Theo giáo sĩ Koffler thì chúa bắt bỏ lối quần áo thô bỉ của người đàng ngoài, mà châm chước theo lối quần áo của ngưòi Tàu. Có lẽ từ bấy giờ người đàn bà đàng trong bắt đầu mặc áo cài khuy và mặc quần, mà không mặc áo thắt vạt và mặc váy như người đàng ngoài nữa.  Đời Minh Mệnh có lệnh cho đàn bà đàng ngoài phải mặc quần, nhưng chỉ những người giàu sang ở thành thị tuân theo,chứ ở nhà quê thì đến nay đàn bà cũng vẫn mặc váy."

……..

Đàn ông đàng trong cũng như ở đàng ngoài  đều búi tóc và chit khăn; đàn bà ở đàng ngoài thì bao tóc hoặc chít khăn, còn ở đàng trong thì họ búi tóc và trùm khăn. (NXBVHTT, 2006, trang 187)

Vào thời vua Gia Long (1802 1819), chiếc áo dài tứ thân được biến cải thành áo ngũ thân, rất phổ thông trong giới quyền quý và dân thành thị. Áo ngũ thân cũng dược may như áo tứ thân, nhưng vạt áo bên phải phía trước chỉ được may bằng một thân vải, còn vạt áo bên trái được may bằng hai thân vải như vạt áo đằng sau. Ngoài ra, áo năm thân có khuy áo như đàn ông, lúc mặc có thể cài khuy như áo dài ngày nay hoặc thắt vạt như áo tứ thân. Về ý nghĩa, bốn thân áo chính tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và thân thứ năm (vạt con) tượng trưng cho người mặc áo; năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo Khổng Giáo: Nhân (lòng thương người, nhân từ), Lễ (biết trên, dưới), Nghĩa (nghĩa khí), Trí (sự sáng suốt, trí tuệ), Tín (uy tín). Rõ ràng, chiếc áo dài ngũ thân diễn đạt nhân sinh quan của Việt Nam nhưng không khỏi sự ảnh hưởng của Trung Hoa qua nhiều năm đô hộ.

Khi triều đình Huế ký hòa ước Patenôtre nhượng quyền cai trị nước vào tay Pháp năm 1884, văn hóa Tây Phương bắt đầu du nhập vào Việt Nam, đi đôi với việc dạy chữ Quốc Ngữ thay chữ Nho. Cuộc sống bỗng biến đổi theo đà đua đòi của văn hóa Tây Phương, nhất là ở những đô thị lớn.

Sau khi chính phủ Pháp mở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, một lô cải cách cho chiếc áo dài truyền thống đã được một số người có tâm huyết với chiếc áo dài đưa ra. Các màu nâu, đen thường được thay bằng bằng các sắc màu tươi sáng hơn, gây sôi nổi trong dư luận quần chúng thời ấy. Năm 1934, họa sĩ Nguyễn Cát Tường đã khích động phong trào cải cách: "...Các nhà đạo đức thường nói: Quần áo chỉ là những vật dụng để che thân thể ta khỏi bị gió mưa, nắng lạnh, ta chẳng nên để ý đến cái đẹp, cái sang của nó làm gì...Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân, song nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước. Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của người nước họ, ta cũng đủ hiểu...."

Trong thập niên 1930, Cát Tường đưa ra thị trường kiểu áo dài mới Le mur. Kiểu Le mur được vẽ theo kiểu áo đầm Tây Phương với nối vai và tay phồng, cổ lá xen, cài khuy trên vai, mặc với quần trắng, đeo bóp, che dù, v.v...

Áo dài tay phồng, dựa theo áo Le Mur (cổ lá sen)

Sau đó, họa sĩ Lê Phổ cải tiến áo Le mur và mẫu áo dài này được hoan nghênh trong Hội chợ Nữ Công Đà Nẵng. Đây là một kết hợp giữa áo Le mur và áo tứ thân, rất gần gũi với chiếc áo dài tân thời ngày nay: nối vai và tay không phồng lên, cổ kín, cài nút bên phải, thân ôm sát người, hai tà áo mềm mại bay lượn. Áo dài Lê Phổ được may bằng vải màu mặc với quần trắng, tóc búi lỏng hay vấn trần hoặc vấn khăn nhung. trong suốt gấn 30 năm sau đó chiếc áo dài Việt Nam không thay đổi bao nhiêu, ngoại trừ cổ áo, gấu áo, và eo áo: cổ áo thì lúc cao, lúc thấp, lúc rộng, lúc hẹp; gấu áo thì lúc vén cao, lúc hạ thấp; eo áo thí lúc nhỏ lúc to. Những thay đổi này đi đôi với những thay đổi nho nhỏ cũa chiếc quần phụ nữ: chân què qua đáy giữa, lưng quần thắt giải rút rồi tới giây thung, gài nút, và sau cùng là dùng phẹc mo tuya (fermeture), ống quần thì lúc rộng lúc hẹp theo thị hiếu thẩm mỹ của từng giai đoạn một.

Áo dài nhấn eo

Áo dài hở cổ của Bà Ngô Đình Nhu

Mãi đến đầu thập niên 1960, nhà may Dung Đakao ở Sài Gòn đưa ra một kiểu áo dài mới: áo dài tay raglan mặc với quần xéo. Vì tay áo và thân áo được nối xéo góc khoảng 45 độ, kiểu áo dài raglan này tránh được những đường nhăn hai bên nách và vai (so với kiểu áo Lê Phổ). Chiếc quần xéo may bằng vải mềm, được xếp xéo góc khi cắt, có hông ôm sát người và hai ống lòa xòa dài qua mắt cá chân giúp cho nữ giới có những bước đi tha thước qua đôi guốc ẩn hiện dưới hai ống quần.

Áo dài Raglan

Áo dài Mini

Sau áo dài raglan là áo dài mini raglan, vốn là áo raglan may với tà áo cao gọn ghẽ. kiểu mini raglan này được các nữ sinh Sài Gòn ưa chuộng mãi cho đến cuối tháng Tư 1975.

Cảm thấy muốn tiến xa hơn, một số nhà may tại Sài Gòn đã tung ra thị trường kiểu áo dài ba tà gốm một vạt sau và hai vạt trước. Cổ áo cao, có khuy cài từ cổ xuống eo. Áo ba tà được mặc với quần ống voi, thứ quần dài có ống rộng thùng thình. Kiểu áo này không ưa chuộng cho lắm vì không thích hợp với bản chất ôn nhu cũa nữ giới Việt Nam. (Theo tài liệu Mạng)

Theo những tài liệu trên, chúng ta thấy đàn ông đàn bà xưa đều búi tóc, sau chịu ảnh hưởng của Pháp, những người tân học cắt tóc ngắn vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do búi tóc nên phải chít khăn, bao tóc hay trùm khăn.

Về phái nữ búi tóc hay chit khăn, chúng ta thấy như bà Nam Phương hoàng hậu:

Một phụ nữ vào đầu thế kỷ 20

Các thiếu nữ bao tóc:

 

Ngày nay phái nữ hầu hết không còn để tóc dài, nên không có búi tóc, chit khăn, cho nó khỏi xõa ra, vướng víu khi làm công nọ, việc kia. Khi đám cưới phái nữ đội khăn đóng, nếu chỉ có 12 vòng tượng trưng cho “Thân gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu” : Công, hầu, khanh, tướng. Sĩ, nông, công, thương. Ngư, tiều, canh, mục. Có người cho đó là 12 con giáp, có người cho là 12 nhân duyên của đạo Phật, hai lý giải sau không đúng với 12 bến nước của nhà Nho, hoặc vì muốn cho đẹp người ta làm nhiều vòng hơn như khăn đóng của Nam Phương Hoàng hậu.

Nam Phương Hoàng Hậu

Về phía nam giới người ta cũng chit khăn như ông Phan Thanh Giản:

hay anh hùng Đề Thám đất Yên Thế:

hoặc những anh nho sinh:

Nho sinh trong phim Lều Chõng

Để cho tiện khỏi phải chit khăn mất thì giờ, người ta dùng khăn đóng, vua cũng như dân:

Vua Khải Định

Hoàng đế Bảo Đại

Sĩ Tải Pétrus Trương Vĩnh Ký

 

Khăn đóng người ta làm hoặc là có 7 vòng, hoặc là có 5 vòng, loại bảy vòng được giải thích đó là theo nghĩa “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” còn năm vòng có nghĩ là “Ngũ thường: Nhân, nghĩ, lễ, trí, tín”, dưới cùng những vòng đó khăn đóng của vua Khải Định hay Bảo Đại chỉ là một vạch ngang chữ  一 “nhất” còn của Trương Vĩnh Ký chữ 入(nhập), hình trên đây chữ 人(nhân), những chữ ấy đều có ý nghĩa là bậc trên cùng, thay Trời trị dân, nhập hay đi vào đạo nghĩa làm người, còn chữ nhân là đạo làm người, phải giữ ngũ thường.

Áo dài đàn ông có 5 nút, đó cũng là biểu tượng cho giềng mối Ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Về màu sắc, vua hay quyến thuộc nhà  vua mặc màu vàng nên được gọi là “hoàng tộc”, màu đỏ thường để cho những vị thần thờ ở tôn miếu, những nhà quyền quý thì mặc gấm, lụa là màu sắc, còn những người thường mặc màu thâm, màu trắng dành để mặc khi có tang.

Với áo dài khăng đóng chúng ta thấy phái nữ mặc rất đẹp, đáp ứng được thị hiếu về nét đẹp của nữ phái sang trọng, thướt tha. Những năm 60, các nữ sinh Sàigòn mặc áo dài trắng cỡi xe Vélo-Solex đen, cài vạt áo ở phía sau, chạy xe gió tung tà áo là dấu ấn khó quên nét đẹp Sàigòn xưa.

Hình ảnh gợi nhớ xưa hơn một thời Sàigòn với xe thổ mộ, hình ảnh chiếc áo dài thước tha của thập niên 40, 50 thế kỷ trước.

Nhưng về phái nam có người chê, cho rằng nó không có nét đẹp. Chúng tôi trộm nghĩ quốc phục nam có thể không đẹp, nhưng chắc chắn là không xấu, hơn nữa một cập tân hôn mặc áo dài, khăn đóng, làm cho buổi lễ cưới tăng thêm mỹ quan, đầy ý nghĩa.

Khăn đóng Nam, nên may 5 vòng và có chữ nhân ở dưới, khăn đóng nữ nên may 12 vòng hoặc làm nhiều vòng hơn và ở dưới cùng có 2 cánh hoa như hiện nay.

Áo dài khăn đóng tượng trưng cho quốc hồn, quốc túy của dân tộc. Cho nên bản sắc đó chúng ta cần phải gìn giữ và hảnh diện vì nó biểu hiện cho “Bốn nghìn năm văn hiến” tiền nhân ta đã để lại. Nó là quốc phục được mặc trong những dịp lễ quan trọng có tánh cách cỗ truyền như lễ Cưới, Hỏi, Tết, cho nên đương nhiên nó cũng là Lễ phục vậy.