Pages

Tuesday, August 18, 2026

Nhớ lại năm xưa

Nói là năm xưa nghe có vẻ cổ tích, nhưng thật ra dớ là năm nào cũng gần đây, vào khoảng năm 1990 hay 2020, nhưng đã lâu nay lại thêm già rồi, đầu óc bụ bẩm. Lần đó chúng tôi đi Huế, kế tiếp theo chuyến đi Chiêm bái Phật tích Ấn Độ. Do được tin Thiền sư Nhất Hạnh đang viếng thăm Huế, trong phái đoàn của Thiền sư có sư cô Chân Không (Cao Ngọc Phượng, em của nam ca sĩ Cao Thái, quê quán Bến Tre), Nhân tôi có duyên quen biết Sư Cô vào thập niên 1960, khi theo học thêm ở Đại Học Vạn Hạnh, tôi tham gia vào phong trào sinh viên thuở đó, nên đã cùng Sư cô thành lập Tổng hội Sinh viên Vạn Hạnh, đặt trụ sở tại chùa Pháp Hội.

Nay sở dĩ tôi nhớ lại chuyện xưa vì có lần chúng tôi đi Chìêm bái Phật tích tại Ấn Độ, gồm có Bùi Văn Đà, Hải Đoan, Ngọc Thanh và vợ chồng chúng tôi, có sự gợi nhớ vì Bùi Văn Đà mới đây từ Houston chuyển đến sống ở (Maryland ?) gần Washington DC.

Đà, Hải Đoan, Nhà tôi, Ngọc Thanh, nhà sư Tây Tạng, tôi (Dưới cội Bồ đề Ấn độ)

Một chút gợi nhớ nhưng tràn về nhiều kỷ niệm nào là đi Chiêm bái Phật tích Ấn Độ, nào là ra Huế viếng cố đô, thăm Thiền sư Nhất Hạnh, Sư cô Chân Không, mới đó mà 7 năm trôi qua, nhiều sự kiện xảy ra, làm mờ đi nhiều kỷ niệm trân quý, đáng nhớ trong đời.

866418082026

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG Y KHOA CỦA TÔI - BS.NGUYỄN THỊ KIM THOA

1 ~hue.JPG

Từ đầu tháng 2. 1975 quân Cộng sản đánh chiếm thị xã Phước Long, 10 tháng 3 Ban Mê Thuột bị xe tăng Bắc Việt nghiền nát, thành phố Huế kinh hoàng nhớ chết chóc Tết Mậu Thân 1968. Chợ búa náo loạn những tin đồn, trường học rã rời, đường phố nháo nhác, hàng ngàn gia đình bồng bế, gánh gồng di tản theo đường bộ, đường thủy vào Đà Nẵng. Đà Nẵng hỗn loạn, sân bay, bãi biển tràn ngập người tị nạn. Lính tráng, dân thường, đàn ông, đàn bà, người già, trẻ em mạnh ai nấy được, kiếm cho mình một chỗ trên máy bay, trên ghe thuyền tư nhân và tàu hải quân. Bạo lực tháo chạy và bạo lực tấn công không phân biệt gây chết chóc, tội ác và tuyệt vọng. Ngày 29 tháng 3 quân Cộng sản chiếm Đà Nẵng. Gia đình tôi và hàng chục ngàn gia đình khác không may mắn đành lục tục bồng bế gánh gồng quay trở lại Huế.

30.4 Sài Gòn thất thủ.Chiến tranh chấm dứt, nhưng bạo lực cách mạng Xã hội chủ nghĩa kiểu Cộng sản bắt đầu. Trường học mở cửa lại theo lệnh của chính quyền quân quản.

Khoảng 50% giáo sư, và khoảng 90% sinh viên trường Y quay trở lại với tâm trạng “hàng thần lơ láo”. Bộ khung cán bộ giảng dạy từ miền Bắc vào cùng với Ủy ban quân quản tách thầy trò chúng tôi làm hai nhóm lao động buổi sáng và học chính trị buổi chiều. Đạo đức xã hội chủ nghĩa được đúc kết thành vè “Lao động là vinh quang – Ngồi không ở nể xóm làng cười chê”. Theo đó, người Cộng sản cho rằng chỉ có làm việc bằng cơ bắp dưới chỉ trỏ của cán bộ đảng viên mới là lao động đúng nghĩa. Theo đó người công nhân làm việc trong các nhà máy xã hội chủ nghĩa, người nông dân làm việc trong các nông trường quốc doanh, các hợp tác xã nông nghiệp mới có giá trị hơn hết, và đáng sống hơn hết. Các loại hình lao động sản xuất khác, các thành phần xã hội khác cần phải được cải tạo theo mô hình và định hướng Xã hội chủ nghĩa mới có lý do tồn tại. Giữa các buổi lao động và học chính trị, chúng tôi phải tập hát Quốc tế ca và các bài ca ngợi đảng, ca ngợi bác, ca ngợi tình hữu nghị vô sản quốc tế, ca ngợi quân đội nhân dân đã đánh thắng hai cuộc kháng chiến thần thánh... Tôi còn nhớ một câu hát mà mỗi lần cất lên tôi cảm thấy đau đến xé lòng: “Như có bác Hồ trong niềm vui đại thắng”.

Về lao động, chúng tôi phải tập hợp thành đội ngũ dưới sự chỉ đạo của các đoàn viên (những tín đồ cộng sản tân tòng, những cách mạng 30/4) cuốc xới các mảnh ruộng trước trường trồng rau muống, đào xới bất cứ mảnh đất nào còn sót lại quanh trường để trồng khoai sắn. Theo lệnh các đoàn viên lãnh đạo, chúng tôi vượt hàng rào phía đông bắc, phá vườn hoa hồng rất đẹp của các nữ tu Công giáo để trồng rau lang. Lúc bấy giờ, qua các “vị” này, chúng biết được rằng rau muống, rau lang và lá sắn có hàm lượng dinh dưỡng không thua kém thịt bò. Chúng tôi còn tham gia đào kênh thủy lợi nam sông Hương. Đây là công trình thủy lợi trọng điểm của Thừa Thiên – Huế nhằm kéo nước từ sông Hương băng qua núi đồi làng mạc phía tây nam thành phố để tưới cho 5000 mẫu ruộng thuộc khu vực huyện Hương Thủy. Nhưng, nước không thể chảy ngược, nên nước không thể về tới ruộng đồng theo ý chí của đảng Cộng sản, mặc dù hàng trăm ngàn công sức lao động đã bỏ ra, hàng ngàn ngôi mộ và hàng trăm ngôi nhà phải di dời. Kênh thủy lợi biến thành đường đi và hang ổ của chuột. Có người nói đây là biện pháp cải tạo trí thức tiểu tư sản thành trí thức xã hội chủ nghĩa nói riêng, và cải tạo nhân dân miền Nam nói chung.

Trí thức tiểu tư sản còn bị tẩy não bởi chương trình học chính trị. Chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Duy vật biện chứng, biện chứng lịch sử, Tuyên ngôn đảng Cộng sản, lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử phong trào Cộng sản quốc tế là những từ ngữ tôi còn nhớ cho đến ngày nay với các khẩu hiệu: Trí phú địa hào – Đào tận gốc trốc tận rễ, Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng – chủ nghĩa tư bản nhất định thua, chủ nghĩa xã hội dân chủ một ngàn lần hơn chủ nghĩa tư bản, cải tạo xã hội chủ nghĩa là ăn cướp những gì đã bị ăn cướp, cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội...

Trong khi chúng tôi đang học chính trị và lao động xã hội chủ nghĩa thì đảng Cộng sản tiến hành cải tạo Ngụy quân Ngụy quyền, cải tạo tư sản công thương nghiệp và đổi tiền. Tư sản công thương Huế tập trung trên hai dãy phố Trần Hưng Đạo và Phan Bội Châu với khoảng 100 cửa hàng bán lẻ trong số đó có khoảng 10 cửa hàng có mặt tiền rộng ( 5 - 7 mét ) bị cải tạo. Ở Gia Hội, An Cựu, Bến Ngự, Vỹ Dạ. Kim Long..., mỗi nơi cũng có vài cửa hàng chịu chung số phận. Thực tế là các cửa hàng này bị ăn cướp: hàng hóa bị tịch thu, nhà bị lấy, gia chủ bị đày đi ở nơi khác hoặc lùi về phía bếp. Độc giả đời sau cần ghi nhớ là những gia đình bị cải tạo này trong chiến tranh họ đã đóng góp cho “cách mạng” qua các cơ sở nội thành.

Cải tạo xong thì đến lượt đổi tiền.

Đổi tiền hai lượt cách nhau mấy tháng. Không riêng gì tư sản, tất cả nhân dân Miền Nam đều bị lột sạch, bất kể giàu nghèo. 1000 đồng tiền Ngụy đổi lấy 01 đồng tiền cách mạng. Qua hai lần đổi tiền như thế từ tháng 6. 1975 gia đình tôi có 6 nhân khẩu cầm hơi hàng ngày với ba khẩu phần được mua hàng tháng tổng cộng 12kg gạo, 36kg khoai sắn mốc hay bột mì, bo bo, 1,5 kg thịt heo. Tôi xin nói rõ hơn chuyện này: Gia đình tôi 6 người gồm mẹ, anh kế, tôi và 3 đứa em. Anh kế tôi, tôi và em gái kế đều là sinh viên nên được cấp sổ gạo và tiền học bổng mỗi tháng 15 đồng một người. Mẹ tôi và hai em đang học phổ thông không có gì. Tất cả 6 người sống qua ngày với ba tiêu chuẩn như thế.

Nhiều gia đình khác còn bi đát hơn. Gia đình anh cả tôi chẳng hạn. Anh cả tôi là đại úy quân y Ngụy đi học tập cải tạo, chị dâu tôi là cán bộ lưu dung đang giảng dạy tại trường Y. Một mình chị với khẩu phần 4kg gạo, 12 kg khoai sắn, 0,5 kg thịt nuôi sống ba đứa con dưới 10 tuổi. Chị Gái tôi còn bi đát hơn, chồng là sĩ quan Ngụy bị mất tích trong cuộc tháo chạy mấy tháng trước. Chị là cán bộ lưu dung tại Thư viện đại học Huế. Một mình chị với khẩu phần 4kg gạo, 12 kg khoai sắn khô, 0,5 kg thịt mỗi tháng nuôi sống 4 đứa con dưới 10 tuổi và cha mẹ chồng. Còn có nhiều gia đình bi đát gấp mười gấp trăm lần anh chị chúng tôi: Cha anh đi học tâp cải tạo chẳng biết bao giờ về, anh vượt biên bị bắt, nhà cửa bị cướp, mẹ mất việc, con không được vào đại học phải lê la đói khát đầu đường xó chợ hoặc phải đi kinh tế mới.

Tình cảnh chung của nhân dân Huế và nhân dân miền Nam là như thế. Không có gia đình nào là không bị cải tạo. Không Ngụy quân thì Ngụy quyền, không tư sản, trí thức thì cũng là dân Ngụy đều bị cải tạo, có nghĩa là đều bị ăn cướp. Như thế là từ chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy mang tên Hồ Chí Minh mùa xuân 1975, Cộng sản miền Bắc đã chiến thắng hai lần và nhân dân miền Nam đã thua hai lần. Lần đầu là quân sự, lần sau là kinh tế, văn hóa, xã hội. Sau hai lần thắng và thua, đất nước tan hoang, mấy triệu người vượt biên, mấy trăm ngàn người đi học tập cải tạo, mấy chục ngàn người chết trong các nhà tù, mấy triệu người bị làm nhục, chết trên biển, mấy chục triệu người lâm vào tình trạng đói rách, tuyệt vọng. Công cuộc cách mạng long trời lở đất với khẩu hiệu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” của ông Lê Duẩn và đảng Cộng sản hoàn toàn thất bại. Thất bại này không chỉ là sai lầm mà còn là tội ác, di hại chẳng biết đến bao giờ?

Đảng Cộng sản đã biến cả dân tộc thành những con chuột bạch thí nghiệm cho một học thuyết, một ý thức hệ ngu xuẩn họ học mót từ Nga từ Tàu. Cách mạng gì mà coi trí thức là kẻ thù hàng đầu? Dân chủ gì mà đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối? Đạo đức gì mà dùng biện pháp ăn cướp và bạo lực để cải tạo con người?

*

Trở lại câu chuyện trường Y

Sau lao động cải tạo và học tập chính trị, trường Y và lớp Y5 của tôi lần hồi đi vào cơ chế xã hội chủ nghĩa. Thêm một số thầy và sinh viên lẳng lặng bỏ đi Sài Gòn hoặc vượt biên. Hai sinh viên lớp dưới tự tử không thành. Một anh nhảy lầu, một anh uống thuốc độc. Một trong hai anh bất khuất này là con của một cán bộ tập kết trở về. Cha con bất đồng chính kiến dẫn đến bi kịch.

Chương trình Y5 thuộc chế độ cũ của tôi bỏ dở vì chiến sự nay bị đình chỉ hẳn. Để bù vào thời gian bị mất do chiến tranh và thời gian lao động tẩy não, ban giám hiệu quyết định lớp Y5 của tôi thay vì ra trường vào hè 1976, nay kéo dài thêm gần một năm, tháng 6. 1977 chúng tôi mới tốt nghiệp.

Như thế, tôi trải qua năm năm rưỡi trường Y Việt Nam Cộng Hoàmột năm rưỡi trường Y Xã hội chủ nghĩa. Một năm rưỡi Y Xã hội chủ nghĩa chủ yếu là đi cuốc đất trồng rau, đào kênh thủy lợi; và thực tập tại bệnh viện. Trong một năm rưỡi Y Xã hội chủ nghĩa này chia làm hai thời đoạn. Nửa năm đầu, ngoài thời gian lao động cải tạo và học chính trị như đã trình bày ở trên, chúng tôi đi thực tập tại bệnh viện với các giáo sư và giảng viên lưu dung: Lê Văn Bách, Nguyễn Văn Tự, Hoàng Trọng Châu, Văn Quảng, Phan Xuân Tứ... Một năm cuối thực tập bệnh viện với hai bác sĩ của “bên thắng cuộc”.

Trước năm 1975, trường Y còn gọi là Đại học Y khoa có chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa. Giáo sư phụ trách các bộ môn gọi là trưởng bộ môn. Nay (sau 1975) đại học Y Huế theo mô hình miền Bắc, tổ chức chuyên khoa sau năm thứ tư. Lớp Y5 của tôi không theo mô hình nào cả. Một nhóm nhỏ gồm 10 sinh viên trong đó có tôi được phân đi chuyên khoa nhi (gọi là nhi sơ bộ) dưới sự dẫn dắt của bác sĩ Nguyễn Cước (chủ nhiệm bộ môn) và bác sĩ Nguyễn Tấn Viên (trưởng khoa nhi bệnh viên Huế). Số sinh viên còn lại tiếp tục học đa khoa.

Hai bác sĩ Nguyễn Cước và Nguyễn Tấn Viên nghe đâu là những bác sĩ chuyên nhi hàng đầu của miền Bắc. Hai vị này dù dày dạn kinh nghiệm lâm sàng nhưng chỉ nắm bắt bệnh trên triệu chứng, xử lý có tính cách kỹ năng không ngoài các giáo trình tiếng Việt; về phần lập luận cơ chế bệnh lý hầu như hai vị này mù tịt. Họ không sử dụng được ngoại ngữ vì vậy mà cần có thời gian để “thầy” và “trò” hiểu biết nhau qua các từ chuyên môn. Tôi có một kỷ niệm không thể nào quên với bác sĩ Cước: Một đêm trực tại khoa nhi với cuốn Merk Manual, bác sĩ Cước bắt được tôi đang chú tâm đọc quyển sách này. Ông đã tịch thu cuốn sách của tôi. Nghe nói ông đã đem sách của tôi đi hỏi các thầy lưu dung và sau đó nhờ một đoàn viên đem trả lại cho tôi.

Một kỷ niệm khác với giáo sư Tôn Thất Tùng.

Tại khoa ngoại bệnh viện Trung ương Huế, chúng tôi gặp giáo sư Tôn Thất Tùng từ Bắc vào cùng anh con trai của ông, bác sĩ Tôn Thất Bách. Trong một buổi giao ban, tôi trình bày một trường hợp u trung thất (tumeur médiastine) chẩn đoán phân biệt với u lao (tumeur tuberculosis), ông hỏi tôi PPD là gì, tôi đã trả lời PPD là từ viết tắt của nhóm từ Purified Protein Derivative. Trong buổi giao ban chúng tôi hầu như sử dụng toàn tiếng Pháp, giáo sư Tôn Thất Tùng tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Tiếp theo ông giảng giải về phương pháp “mổ gan khô”. Sau này tôi mới biết đó là “phương pháp mổ gan nổi tiếng thế giới Tôn Thất Tùng”.

Giáo sư Tôn Thất Tùng có lối giảng giải thiên về cơ chế bệnh lý giống các thầy giáo của trường Y Huế trước 1975 của tôi. Ông nói giọng Huế pha Bắc nhẹ nhàng và cử chỉ thân thiện, lịch lãm. Đặc biệt tôi thấy ông rất vui khi nghe lại giọng Huế của tôi, có lúc ông đã nhại tiếng: “như rứa đó nã...” Tôi có cảm tưởng ông như một lão trượng đi xa bao năm nay trở về mái nhà xưa, tìm lại được những kỷ niệm thân thương sau một thời gian dài ly biệt. Khi ra về, chúng tôi gặp lại anh Tôn Thất Bách tại cổng bệnh viện; anh có vẻ lạ lẫm khi nhìn chúng tôi mặc áo dài.

                                                           ***

Lớp Y5 của tôi ra trường vào hè 1977. Nhóm mấy chục sinh viên đa khoa thi trước một hội đồng giám khảo gồm các giáo sư lưu dung: Cuộc thi nghiêm túc, khó khăn nhưng cuối cùng đều được công nhận tốt nghiệp vì ban giám hiệu mới quyết định như thế. Nhóm sinh viên “nhi sơ bộ” của tôi chỉ thi với hai giám khảo là bác sĩ Nguyễn Cước và bác sĩ Nguyễn Tấn Viên. Nói là thi cho oai chứ thật ra chỉ là một buổi trình bệnh cho có lệ. Suốt cả năm qua hai vị bác sĩ của “bên thắng cuộc” có dạy thêm cho chúng tôi bài học chuyên môn và đạo đức nào đâu!

Nhân đây tôi xin nói thêm về khóa 10 Y khoa Huế của tôi: Có chừng 120 sinh viên dự bị, vào vấn đáp còn lại chừng 80 sinh viên chính thức, cộng với số sinh viên năm trước ở lại thành ra tổng số chừng 100 người. Tổng số chừng 100 sinh viên khóa 10 bị đào thải từ từ từng năm một, cộng với hai người vượt biên sau tháng 5.1975, cuối cùng có chừng 40 được công nhận là bác sĩ. Kết quả này chứng tỏ đầu vào đại học Y Huế nói riêng và các đại học khác trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa không khó lắm, nhưng qua học tập, thi cử rất nghiêm túc nên đầu ra toàn là những người xứng đáng cả về mặt chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp. Trong Xã hội chủ nghĩa thì trái lại: Đầu vào quá khó khăn, nhưng học hành thi cử lại quá cẩu thả, dễ dàng, đầu ra nhằm đáp ứng phong trào thi đua, càng nhiều càng tốt.

Trong hồi ký của mình, bác sĩ Lê Quang Thông kể lại Kỷ niệm với thầy Lê Văn Bách rằng là có một bạn cùng lớp chỉ thiếu nửa điểm môn Sinh lý đành phải ở lại lớp (Bay Vút – Lê Quang Thông). Bạn tôi Trần thị Quí về ăn Tết ở Đà Nẵng, năm mới ra chậm một ngày thực tập, thầy Lê Văn Bách không nói gì chỉ ghi vào sổ thực tập: ngày hè đi lại một tuần. Đến hè, bạn ấy phải ở lại Huế một mình để đi thực tập thêm một tuần.

                                                             ***

Sinh viên khóa 10 Y khoa Huế còn học thêm Đông y theo sáng kiến của thầy Bùi Duy Tâm. Bác sĩ Trương Thìn dạy về huyệt đạo. Bác sĩ Trần Văn Tích dạy đông dược và ông Võ Như Nguyện dạy hán văn. Việc học Đông y chỉ diễn ra gần nửa năm, khi thầy Bùi Duy Tâm thôi chức khoa trưởng, thầy Lê Bá Vận lên đảm trách thì môn Đông y bãi bỏ.

*****

Việc học sau đại học của tôi dưới mái trường xã hội chủ nghĩa.

Năm 1986, Viện Nhi Hà Nội mở lớp chuyên khoa I chính qui đầu tiên. Tiêu chuẩn cho bệnh viện Đà Nẵng là ba học viên. Dĩ nhiên là ưu tiên cho các cấp lãnh đạo và đảng, đoàn viên. Các bác sĩ đảng, đoàn viên, người thì bận rộn chuyện đấu đá tranh giành vị trí tại khoa và tại các phòng, người thì bận chuyện nhà, chỉ có chị khoa trưởng buộc phải đi học để có bằng cấp mà giữ ghế; tôi và một anh đồng môn đàn em sau ba khóa bị cắt cử đi học. Ra Hà Nội học được một tháng, anh bạn đồng nghiệp bị gọi về không cho học nữa vì sưu tra lý lịch “gia đình có nợ máu với nhân dân”. Một mình tôi lang thang quanh Hà Nội. Hà Nội xanh đẹp nhưng nếp sống quảquá xa lạ với tôi... Xa lạ đến mức tôi không thể nghĩ nó là như thế...

Lớp học toàn là người miền Bắc, đa phần là con ông cháu cha; các chị hàng ngày cứ chào xáo với nhau chuyện mua hàng ở chợ Tôn Đản. Ngồi nghe thầy giảng bài mà hai tay các chị cứ thoăn thoắt đan len. Chẳng nghe ai nói gì đến sách vở trong lúc tôi cố tìm hiểu họ đang đọc và học sách gì? Tôi ở trọ tại nhà một người quen, chị bạn đang làm nghiên cứu sinh lấy bằng phó tiến sĩ.

Chị ấy hãnh diện khoe: “Thầy chủ trì luận văn đi Thái Lan về tặng chị một chiếc xi-líp màu đỏ”! Tôi bộp chộp phản ứng liền: Văn hóa gì mà lạ thế? Thầy tặng đồ lót cho học trò nữ! Chị bạn trả lời nhanh không kém: “Chị lạc hậu quá rồi, không thực tế gì hết.

Thời buổi này mà mơ mộng như người Miền Nam thì lấy gì nuôi con?” Chị bạn tôi cũng là người miền Nam, làm dâu trong một gia đinh tập kết là cán bộ cao cấp, đi chợ Tôn Đản, nhà ở khu tập thể Trung Tự chỉ dành riêng cho cán bộ cấp bộ, thứ trưởng, mới ra Hà Nội có mấy năm mà đã “tiến bộ” hơn người miền Nam như tôi đến muôn đời.

Thời điểm 1986 cả nước đang đói, nhà chị bạn không thiếu thứ gì, nhưng vẫn chưa thấy đủ. Một câu ca dao phổ biến ở miền Bắc: Tôn Đản là chợ vua quan / Vân Hồ là chợ trung gian nịnh thần / Bắc Qua là chợ thương nhân /Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng. Trong chế độ Cộng sản: vua quan và nhân dân anh hùng cách biệt một trời một vực.

Việc học chuyên khoa I tại Viện Nhi Hà Nội chẳng có bài bản gì, học ở các khoa phòng, thầy giảng tại giường bệnh. Các thầy Chu Văn Tường (chuyên ngành tiêu hóa), thầy Lê Nam Trà (chuyên ngành thận niệu) Thầy Khanh (chuyên ngành huyết học), cô Nguyễn Thị Thu Nhạn (chuyên ngành nội tiết)... Tất cả các bài giảng lâm sàng cũng thiên về triệu chứng học hơn là cơ chế bệnh lý học... Sau một năm học, nghĩ lại tôi chẳng thu hoạch được gì về chuyên môn: không có cái gì mới, không có cái gì hay... Chỉ biết thêm miền Bắc có lắm chiêu trò.

Giữa một Hà Nội 1986 ăn kem Bờ Hồ với cái muỗng ăn phở, ăn bánh tôm Hồ Tây với cái rá nhựa đựng rau...Nhưng rồi tôi khám phá ra một Hà Nội tinh tế ngàn năm văn vật. Một hôm nọ, chị bạn – bác sĩ Minh Nguyệt mời đến nhà ăn bún ốc. Nhà bé tí tẹo như cái lỗ mũi, là một góc chéo của một ngôi nhà cải tạo chia cho nhiều hộ gia đình. Bún ốc, cái tên dân dã, nhưng gia chủ lại là một phần của tinh hoa Hà Nội còn sót lại, còn bảo lưu những giá trị truyền thống một cách nhẫn nại và tự tin. Thức ăn được bài trí rất đẹp với những dụng cụ đều bằng sứ. Bún ốc không phải là cao lương, nhưng mỹ vị thì không chê vào đâu được. Sau bún ốc, tôi được mời tráng miệng với chuối bà hương chấm cốm làng Vòng. Cũng rất nhiều mỹ vị sau món tráng miệng đặc chất Hà Nội này. Thì ra, giữa Hà Nội điêu tàn do chiến tranh và sự cai trị thô bạo của đảng Cộng sản còn có một niềm hy vọng.

                                                         ***

Năm 1994 Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh mở lớp chuyên khoa II nhi chính qui đầu tiên. Tôi ghi danh thi để theo học. Lý do duy nhất là muốn gần gia đình (chồng và các con tôi đang ở Sài Gòn).

Thi đầu vào chỉ có hai môn là ngoại ngữ và chuyên ngành nhi. Có 47 người tham gia thi, 9 người đủ điểm để học. Lớp học do các giáo sư, phó tiến sĩ phụ trách: cô Tạ Thị Ánh Hoa và các thầy Hoàng Trọng Kim, thầy Võ Công Đồng, thầy Nguyễn Trọng Lân...

Chúng tôi gồm bảy người chia nhau đi thực tập tại các khoa phòng bệnh viện Nhi đồng I và Nhi đồng II, tham gia giao ban ở các khoa, tham dự các buổi trình bệnh và báo cáo khoa học chung với sinh viên trường Y, các bác sĩ chuyên khoa một, các bác sĩ làm nghiên cứu sinh cao học. Về mặt lý thuyết: chương trình cập nhật các thông tin mới về nhi khoa, đặc biệt là ba chuyên ngành: miễn dịch học, tim bẩm sinh, bệnh lý sơ sinh. Ngoài các buổi lý thuyết và thực hành tại các bệnh viện nhi Sài Gòn, mỗi năm ba tháng chúng tôi về lại nơi làm việc của mình thu thập dữ liệu, chuẩn bị viết luận văn chuyên ngành. Cuối năm1997, chúng tôi trình luận văn tốt nghiệp.

                                                          *****

Như thế là tôi trải qua 11 năm học Y: 7 năm y tổng quát và 4 năm y chuyên ngành nhi trong hai chế độ. Tôi đã làm bác sĩ gần 30 năm trong chế độ Cộng sản; nghỉ hưu 15 năm, trở lại bệnh viện nhiều lần trong tư cách người bệnh. Thời gian học tập, hành nghề và chữa bệnh đủ để tôi đưa ra nhận xét về hai chế độ y tế sau đây:

1/ Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa:

Người học và làm nghề y tế, gần như tuyệt đại đa số xem công việc của mình là một đam mê, đồng thời là sứ mệnh nhằm phục vụ bệnh nhân là những Con Người. Họ đối xử với nhau tận tụy, thân ái và tôn kính trong quan hệ thầy trò, đồng nghiệp. Họ đối xử với bệnh nhân hết lòng trong công việc và ấm áp trong giao tiếp, quan tâm đến hoàn cảnh sống mà không can dự vào đời tư của bệnh nhân.

Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa bệnh viện được gọi là nhà thương. Ở đó người bệnh không phân biệt tầng lớp xã hội và khác biệt chính kiến, tất cả đều được miễn phí hoàn toàn từ khâu ăn ở, chẩn đoán, điều trị, thuốc men. Tại bệnh viện trung ương Huế, tôi đã thấy những bệnh nhân là cán bộ Phong trào đô thị của Mặt trận. Tại quân y viện Nguyễn Tri Phương, tôi cũng đã thấy những chiến binh miền Bắc được cấp cứu chung phòng với những binh lính Việt Nam Cộng Hòa. Hoàn toàn không có chuyện bệnh nhân bị đùn đẩy, bị từ chối, bị khai thác bóc lột, bị phân biệt đối xử. Đa phần các bác sĩ có phòng mạch tư nhưng hoàn toàn không có chuyện công tư nhập nhằng, bệnh nhân không bị kê đơn trái với yêu cầu chuyên môn, không bị chèo kéo lừa mị, bóc lột. Các công ty dược không khống chế được các cơ sở y tế nhà nước từ bộ xuống các ty và chi, cũng không khống chế được các bệnh viện và các phòng mạch tư. Sự thật này không tuyệt đối, nhưng đại thể là như thế.

Nhân đây cũng nói thêm về việc tuyển chọn học viên cho các trường y tế trung sơ cấp và việc tuyển chọn sinh viên cho các đại học y khoa: Mọi thanh niên nếu hội đủ các điều khiện sức khỏe, tuổi tác, học vấn đều có cơ hội ngang nhau, không phân biệt thành phần xã hội, không phân biệt giai cấp và ý thức hệ chính trị. Nói chung là đầu vào không khó lắm nhưng đầu ra là khung cửa hẹp. Khóa 10 Y khoa Huế của tôi đầu vào chừng 200 – 250 ( ở 2 lớp dự bị), đầu ra còn khoảng 40. Các khóa đàn anh về trước, kết thúc trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa đều có tỷ lệ gần như thế.

Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa mọi sinh viên tốt nghiệp tại các trường: Sư phạm, Y khoa, Nông lâm súc, Kỹ thuật Phú Thọ đều được bổ nhiệm theo yêu cầu của cơ sở chuyên môn và thành tích học tập qua kỳ thi tốt nghiệp (chọn nhiệm sở theo thứ tự ưu tiên thứ hạng tốt nghiệp), không có chuyện đào tạo ra rồi bỏ đó. Các bác sĩ được trả lương đủ để sinh sống cho cá nhân và gia đình. Các bác sĩ có phòng mạch tư trở nên khấm khá bằng việc hành nghề chính đáng và khả năng chuyên môn của mình. Tôi lớn lên ở Miền Nam, là nơi báo chí tự do trong các lãnh vực đời thường (y tế, giáo dục...), chưa bao giờ tôi nghe một vụ tai tiếng nghề nghiệp do các y, bác sĩ gây ra.

2/ Trong chế độ Cộng sản trái lại, nghề y thông thường được xem là con đường làm quan đồng thời là nghề kiếm tiền như con buôn, thậm chí như kẻ trộm cướp.(tôi nói thông thường không có nghĩa là tất cả). Trong dân gian một thời phổ biến câu châm ngôn: Nhất Y nhì Dược, tạm được Bách khoa, Nông lâm qua loa, chuột chạy cùng sào mới vào Sư phạm. Quan niệm như vậy nên cánh cửa vào trường Y mở đóng, rộng hẹp tùy theo người có quyền lực: đảng Cộng sản. Một câu châm ngôn khác, thời bao cấp, thể hiện thứ tự quyền lực ấy:

    Nhất thân, nhì thế, tam tiền, tứ chế.

Thời kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa lại có câu khác:

     Nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ, bốn trí tuệ (học giỏi-NTKT).

Hai ưu tiên đầu thuộc về con ông cháu cha trong đảng, ưu tiên thứ ba thuộc về người có tiền chạy đúng cửa đảng viên chuyên trách, ưu tiên thứ tư thay đổi từ con em gia đình có công trong chiến tranh, trong xây dựng xã hội chủ nghĩa sang những học sinh giỏi. Tóm lại: Đảng và tiền gắn liền trường y và ngành y nói riêng. Đầu vào như thế, đầu ra cũng như thế.

Chương trình đại học Y trong chế độ Cộng sản kéo dài 6 năm. Một phần ba hay một phần tư thời gian trong 6 năm ấy sinh viên còn phải học chính trị (chủ nghĩa Mác Lê Nin và lịch sử đảng...). Quan hệ thầy trò trong chế độ Cộng sản vừa là quan hệ đồng chí, vừa là quan hệ đối tác lợi quyền. Chương trình và chế độ đào tạo, học tập như thế nên sinh viên ra trường chưa làm được việc xét về mặt chuyên môn lẫn đạo đức. Nếu không thân không thế, bác sĩ ra trường còn phải chạy việc với giá cả không nhỏ tùy vị trí công việc có kiếm ra tiền nhiều hay ít?

Phần nhiều, lương khởi đầu hiện nay của bác sĩ chừng 3.000.000 (ba triệu). Đầu tư tốn kém, lương bổng èo uột nên công việc chính của người bác sĩ trong chế độ Cộng sản là kiếm tiền và tạo thế. Kiếm tiền trực tiếp từ bệnh nhân, từ kinh phí quảng cáo, từ tiền đút lót của các công ty dược, các công ty vật liệu và trang thiết bị y tế tư bản nước ngoài, từ ngân sách nhà nước, từ quỹ bảo hiểm, từ các loại thuốc quí hiếm trong kho của bộ của các sở y tế hay các bệnh viện,... Kiếm tiền để trở thành đảng viên, giành lấy một chức vụ kiếm ra tiền để lấy lại vốn, để kiếm lời.

Người đảng viên bác sĩ trong chế độ Cộng sản ăn bất cứ thứ gì: từ sữa của các em bé sơ sinh, đến thuốc đặc trị của người bệnh ung thư, đến thủy tinh thể của người bị bị bệnh mắt, đến que thử và hóa chất trong kiểm tra HIV... Một dược sĩ làm cho một công ty dược nước ngoài nói với tôi rằng: Nền y tế của đất nước vận động theo sự điều hướng của các công ty dược và các công ty vật liệu, trang thiết bị y tế tư bản. Các công ty này gõ được cửa bất cứ nhân vật quyền lục nào từ trung ương xuống địa phương. Những chìa khóa vàng lớn nhỏ được các công ty tư bản kia sắm sửa để mở cửa các ông bà quyền lực. Để tranh giành các chìa khóa vàng, để chiếm đoạt công quĩ, các ông bà quyền lực trong đảng Cộng sản đã đấu đá nhau như kẻ thù, đã xem ngành y tế như một nghề béo bở để sắm xe sang, tậu nhà lớn và tích lũy bất động sản...Người bác sĩ đảng viên bất chấp sức khỏe, mạng sống của bệnh nhân và sự khốn cùng của gia đình họ.

Để kết thúc tôi xin kể hai câu chuyện về hai bác sĩ đảng viên.

Câu chuyện thứ nhất:Ngày tôi về hưu một nhóm nhỏ đồng nghiệp mời tôi một bữa cơm thân mật. Bữa cơm diễn ra tại quán “Cơm niêu đỏ” tại Đà Nẵng với 7 người. Bữa ăn gồm các món đặc sản Việt Nam: rau muống trộn tỏi, canh chua cá lóc, cà tím nướng tỏi. Ăn xong cô phục vụ đem biên lại đỏ tính tiền tới, theo thói quen các chị xúm lại xem tiền bao nhiêu, mắc rẻ như thế nào để lần sau còn đi. Một chị đảng viên sau khi xem, xếp tờ biên lại đỏ lại, bỏ vào ví thản nhiên nói:

“Cho tớ tờ biên lai đỏ này, con dâu tớ làm kế toán cho một cơ quan, nó rất cần biên lại đỏ để thanh toán”.

Tôi nghe người đảng viên này nói xong, các thức ăn trong bao tử tôi chực trào ra...

Câu chuyện thứ hai:Cũng ngày tôi về hưu, một nhóm nhỏ khác mời đi ăn nem lụi trong một buổi chiều chủ nhật. Ăn xong, mậu dịch viên đếm que tính tiền, một đảng viên trong nhóm kể rằng: “Thằng Đ con mình nó thông minh lắm, hồi mới năm tuổi đi ăn nem lụi như thế này nó đã giấu bớt que vào giỏ rác bên dưới”. Chị bạn kể một cách rất hãnh diện, chân thật và hồn nhiên.

Tôi không nêu tên hai bác sĩ đảng viên trong câu chuyện trên, bởi tôi nghĩ không cần thiết. Bạn đọc thử nghĩ xem có đảng viên nào trong đảng Cộng sản mà không khôn ngoan như thế, từ tổng bí thư trở xuống.

23/07/2020

BS.Nguyễn Thị Kim Thoa


Saturday, August 15, 2026

Mong ước Sống an vui, hạnh phúc.

Hôm nay bỗng dưng tôi chợt nhớ ttới Trung Đội 39 Đại Độ 10, Tiểu Đoàn 2 Khóa 27 Sinh Viên Sì Quan Trừ Bị Thủ Đức, nào là 8 tuần huấn nhục nào là đoạn đường chiến binh, từ năm 1968, qua trận Mậu Thân, đến nay đã 58 năm, còn 2 năm nữa là trọn 60 năm cuộc đời!

Bạn đời quân ngũ của tôi bao người nằm xuống, kẻ có mồ chôn ở ngha trang quân đội Biên hòa, người không nấm mồ nằm ven rừng hay nơi chốn nào đó, không ai thăm viếng, không nén hương tưởng nhớ quạnh hiu.

Ôi chiến tranh! Vì chánh nghĩa! Vì Chủ nghĩa! Huynh đệ tương tàn. Con mất cha ! Vợ mất chồng !

Người ta vì nghĩa vụ, vì chén cơm, vì manh áo phải xã thân cứu quốc hay chỉ là vật hy sinh phi nghĩa cho những người có chí lớn hay là ngông cuồng để trở thành lãnh tụ.

Từ nghìn xưa sẽ truyền đến mai sau, để trở thành lãnh đạo, người ta phải hy sinh đồng bào của mình, hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giành cho được mục đích của mình, không kể nhừng thương đau của bao kẻ khác nào là vợ mất chồng, con mất cha.

Làm sao để đừng xãy ra chiến tranh, làm sao để hàn gắn những vết thương do chiến tranh gây ra, tàn tích do chiến tranh để lại ?

Phải chăng chỉ có mọi người cùng Tu Tâm, Dưỡng Tánh, gần nhất là phải biết thương yêu đồng loại, quí trọng muôn loài. Cỏ cây, muôn thú đều do Tạo hóa sinh ra để cùng nhau sinh sôi nảy nở, đua chen với muôn loài trong thiên nhiên.

Sống hài hòa, Sống hòa đồng. Đó chắc là sự sống Tạo hóa ban cho muôn loài trên quả địa cầu cũng như trong vũ trụ.

Cầu mong mọi người hàng ngày được sống an vui, hạnh phúc.

866414082026

Saturday, August 8, 2026

Từ tấm ảnh ố vàng đến bài luận văn Harvard ‘Gái Mới’

 August 7, 2026 : 5:00 AM

Kalynh Ngô/Người Việt (*)

Xưa nay, thơ ca và họa phẩm là hai lĩnh vực thường cho người ta chiêm ngưỡng một hình ảnh thay đổi theo thời gian rồi trở thành biểu tượng. Ví dụ, chiếc áo dài Le Mur trong “Mẹ Và Con” của họa sĩ, nhà thiết kế thời trang Nguyễn Cát Tường, là biểu tượng của sự kết hợp giữa truyền thống Việt Nam và đổi mới hiện đại.Trong bức tranh chân dung của Lương Xuân Nhị, người phụ nữ mặc áo dài hiện đại hở nhẹ phần eo, khăn quàng cổ, quần trắng, gương mặt kiêu hãnh, mái tóc ngắn, hoàn toàn phá cách khỏi búi chignon cổ điển, là bước chuyển mình của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. “Một Đời Áo Mẹ, Áo Em” của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng là bức tranh vĩ đại về chiếc áo dài, nói lên khí chất kiên cường của người phụ nữ Việt Nam. Trường ca Con Đường Cái Quan của cố nhạc sĩ Phạm Duy là cuốn phim về cuộc di hành từ thời lập quốc, suốt chiều dài đất nước.

Cuộc biểu tình ngày quốc tế Lao Động 1 tháng Năm, 1937, tại Công Trường Đấu Xảo Hà Nội. Bà cố Hoàng Thị Vân Nhung của Julia Đỗ là người phụ nữ duy nhất trong tấm hình. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Nhưng trong một luận án tốt nghiệp từ một sinh viên gốc Việt tại Đại Học Harvard, thì hiếm có.

“Con Gái, Con Đứa!” – Cuộc Tranh Cãi Về Cái Đẹp Phụ Nữ Việt Nam Hiện Đại, luận án của Julia Đỗ, là một “bản trường ca” về nét đẹp của người phụ nữ mới qua nhiều thế hệ. Trong “Con Gái, Con Đứa!,” Julia Đỗ đi tìm cái đẹp hiện đại, tân thời của người phụ nữ Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ trước. Họ không còn “liễu yếu đào tơ.” Họ là gái mới. Những tấm bưu thiếp trôi qua hàng thế kỷ đã cho thấy một thẩm mỹ văn minh từ lâu của gái mới và Julia muốn trả lại cho họ một chỗ đứng trong lịch sử.

Từ một bức ảnh ố vàng

Câu chuyện mở ra với hình ảnh giản dị ở Little Saigon, California, vùng đất Julia Đỗ sinh ra và lớn lên. Nơi đó, tuổi thơ của cô gắn liền với những câu chuyện kể của bà ngoại. Không phải là chuyện cổ tích, cũng không là thần thoại, mà là những ngày tháng chạy trốn bom đạn chiến tranh. Bà ngoại trong ký ức của Julia là mùi son môi đỏ, tiếng xột xoạt của những tờ báo, và tiếng rè rè của chiếc radio cũ.

“Giọng nói của bà đưa tôi về một Việt Nam thời thuộc địa, với những đại lộ rợp bóng cây cổ thụ, những cửa hàng sang trọng, và những bà đầm tóc vàng hoe. Trên bàn trang điểm của bà luôn có một bức ảnh ngả màu nâu đất của bà trong chiếc áo dài kẻ caro, mái tóc búi gọn ôm lấy khuôn mặt, đôi môi được tô vẽ cẩn thận. Với tôi, bà trông giống như một ngôi sao Hollywood thời xưa, một Hedy Lamarr của Việt Nam.”

Tấm hình “Gương Lồng Bóng Nga” do nhiếp ảnh gia Lê Đình Chữ chụp ngày 28 Tháng Mười Một, 1935, là hình ảnh tiêu biểu cho sự lịch thiệp đầy tính thẩm mỹ. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Bà ngoại của Julia tên Vũ Thu Hà, sinh năm 1933. Bà hay tự hào nói với cô, rằng bà là một gái mới. Nghĩa đen là “gái mới” (new) ngược với “gái cũ” (old). “Gái mới” tiếp nhận nét đẹp và tư tưởng phương Tây. Bà của Julia trang điểm, mua sắm ở các cửa hàng thời trang, nói tiếng Pháp. Với Julia, bà ngoại cô là hình mẫu của phụ nữ hiện đại những năm 1920 và 1930. “Nhưng bà đã bị gạt ra, hoặc bị lãng quên, trong các nghiên cứu toàn cầu về phụ nữ hiện đại.”

Trong Thư Viện Quốc Gia Việt Nam, Julia thấy từ “gái” (girl) xuất hiện tăng dần từ 1920 đến 1930, nhưng sau đó giảm xuống vào những năm 1940.

“Vì vậy, tôi tự hỏi, tại sao lại có sự xóa bỏ này? Điều gì đã định nghĩa một cô gái mới Việt Nam, và tại sao cô ấy chỉ được nhớ đến qua hình ảnh?”

Sau khi bà ngoại Julia qua đời vào năm 2020, trong số những kỷ vật của bà, cô phát hiện một tấm ảnh cũ, do người bạn của bố mẹ của bà ngoại gửi cho bà, với nội dung viết tay: “Thân ái tặng cháu Vũ Thu Hà để kỷ niệm ngày ba má của Hà dự cuộc biểu tình ngày Quốc Tế Lao Động 1-5-37 tại Công Trường Đấu Xảo Hà Nội. Sài Gòn 4-10-1969.”

Tấm ảnh cũ làm Julia chú ý. Cô thấy một người phụ nữ nhỏ nhắn, đứng lấp ló sau một trong số những người đàn ông trong ảnh. Đó là bà cố của cô, Hoàng Thị Vân Nhung. Bà là người phụ nữ duy nhất trong khoảng mấy chục người đàn ông.

“Chuyện kể rằng bà cố của tôi chỉ có thể tham gia cuộc biểu tình này nhờ lời mời chồng bà, tức ông cố của tôi. Bằng chứng bà là người phụ nữ duy nhất trong khung hình cho thấy sự hiện diện của bà giữa giới trí thức Hà Nội, chủ yếu là nam giới, hẳn đã gây ra không ít tranh cãi, phản đối, hoặc ít nhất là bất ngờ. Trong bức ảnh, chú ý lắm mới thấy bàn tay nhỏ nhắn của bà cầm một chiếc quạt, chiếc áo dài bó sát khoe vóc dáng hiện đại, và khuôn mặt trang điểm của bà toát lên vẻ kiên quyết – không chấp nhận tự ti.”

Hình trang bìa tạp chí Ngày Nay phát hành ngày 10 Tháng Hai, 1935, có tên “Đêm Giao Thừa Đốt Hương.” (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Qua tấm ảnh này, Julia “có thể thấy khát vọng về một dân tộc và tinh thần phản kháng của ông bà cố, bất chấp sự phân cực khuôn mẫu trong thời Pháp thuộc đó. “Vượt khỏi định hình là một cô gái tư sản phung phí, bà cố của tôi rõ ràng cũng có những hy vọng chính trị, có lẽ là cho sự giải phóng của chính mình.”

Bà cố Hoàng Thị Vân Nhung của Julia trong tấm ảnh, 23 tuổi, rõ ràng khác rất xa với phụ nữ thời kỳ lúc đó, “liễu yếu đào tơ.” Trong tà áo dài bó sát, bà cố của Julia là một gái mới.

Đến luận văn về ‘gái mới’

Luận văn gồm ba chương.

Chương I, Julia xác định nguồn gốc của truyền thống nhiếp ảnh phân biệt giới tính ở Việt Nam và lập luận rằng những tấm ảnh chụp người phụ nữ vừa xây dựng vừa phản biện mối quan hệ thuộc địa giữa Pháp và Việt Nam, bằng cách khai thác các khái niệm về văn minh và nguyên thủy. Việc đặt những hình ảnh này vào cuộc đối thoại với nhau sẽ tạo ra bối cảnh cần thiết để hiểu về “gái mới” trong bối cảnh rộng hơn chứ không trong môi trường tách biệt.

Những bưu thiếp thời kỳ này như mặt hàng hữu hình, chứa đựng những hình ảnh của phương Đông. Những bức ảnh như Femme au miroir (1895) khắc họa cô gái trẻ ngồi khoanh chân trên chiếu trúc, ngắm nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong chiếc bàn trang điểm trước mặt. Một khung cảnh tĩnh lặng, không ai ngoài người xem có thể làm xáo trộn sự thân mật này. Tuy nhiên, cô gái không nhìn chúng ta mà nhìn chính mình. Cô quay mặt đi, lưng trần và cánh tay lộ rõ qua lớp áo yếm truyền thống, cổ được trang trí bằng những hàng hạt cườm, và tóc được búi cao, cài mũ bằng mấn.

Nét Á Đông và dân tộc Việt Nam của chủ thể vẫn là điểm chính. Điều này được thể hiện rõ ràng qua việc nhiếp ảnh gia bưu thiếp từ chối dàn dựng bất kỳ chủ thể nào trong trang phục phương Tây. Thay vào đó, chọn trang phục Việt Nam trang trọng khi thể hiện địa vị và sự lịch thiệp.

Hình bìa tạp chí Trung Bắc Hè ngày 23 Tháng Sáu, 1940, do nhiếp ảnh gia Võ An Ninh chụp, có tên “Nắng Êm Gió Mát.” (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Đến cuối thời kỳ thuộc địa (những năm 1930-1940), bưu thiếp đã mang hơi hướm phương Tây. Trong “Gương Lồng Bóng Nga” (1935, tạp chí Loa), một phụ nữ đang tạo dáng năng động trong chiếc áo dài giản dị và lớp trang điểm hiện đại, biến khung hình đầy vẻ tự mãn thành một khung hình đầy tự tin, hình ảnh phản chiếu của cô tượng trưng cho sự hiện diện đầy quyền năng. Tương tự, “Mùa Hạ Đã Tới” (1935, Ngày Nay) khắc họa hai cô gái nhưng mỗi người vẫn giữ được cá tính và phong cách riêng của họ. Bưu thiếp thể hiện tính khát vọng và thẩm mỹ.

Những tấm hình áo tắm năm 1940 của Võ An Ninh thách thức các chuẩn mực về ngoại hình trong Nho giáo. Hình phô bày cơ thể người phụ nữ trong những chuyển động thể thao, vui tươi – tắm nắng, bơi lội, leo trèo – như biểu tượng của sự tự chủ về cơ thể và sự hiện diện của phụ nữ trước công chúng. Sự tiến hóa của nhiếp ảnh làm sáng tỏ tính chủ động năng động của gái mới.

“Cô ấy trông rất thoải mái khi khoe thân: chân và tay hoàn toàn để trần, trong khi nụ cười rạng rỡ trên môi, như tất cả các cô gái mới trong số này. Các người mẫu của Võ An Ninh tự tin khoe vẻ đẹp hình thể của chính mình, khoe vóc dáng cân đối hoặc thể hiện thân hình khỏe mạnh của mình qua những động tác thể thao. Họ bơi lội, họ tận hưởng, họ vui chơi.”

Chương II, Julia khám phá sự xuất hiện của gái mới như một nhân vật của tờ Phụ Nữ Tân Văn (1929–1935), một tờ báo dành cho phụ nữ có trụ sở tại Sài Gòn, cổ xúy cho chủ nghĩa hiện đại ôn hòa trong giới độc giả thành thị có học thức.

“Phấn son tô điểm sơn-hà,

Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.”(Hai câu thơ trên bìa của tờ Cover Illustration,  Phụ Nữ Tân Văn, 1930)

“Đối với Phụ Nữ Tân Văn, giá trị của việc phụ nữ biết chữ vừa mang tính thẩm mỹ vừa mang tính dân tộc – giống như khuôn mặt của một người phụ nữ có thể được ví như phong cảnh Việt Nam, việc làm đẹp và giáo dục của họ có thể được ví như sự tiến bộ của quốc gia.”

Hình bìa báo Phụ Nữ Tân Văn số 70, phát hành ngày 18 Tháng Chín, 1932. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Thông qua các nghiên cứu điển hình về bà cố của Julia và nghệ sĩ tiên phong Lê Thị Lựu, người cho đến ngày nay vẫn chưa được nhiều học giả phương Tây nghiên cứu về nghệ thuật hiện đại Việt Nam, cô lập luận rằng việc gắn bó với thẩm mỹ “đúng” của văn minh có thể mang lại cho một phụ nữ trẻ quyền tự quyết lớn hơn trong các lĩnh vực công cộng.

Cuối cùng, Chương III – cô gọi chương này là Xuất Bản Gái Mới.

Julia phân tích hình ảnh gái mới trong một loạt các tờ báo khác, như báo Ngày Nay, để chứng minh nét lịch thiệp về mặt thẩm mỹ đã thúc đẩy hình ảnh người phụ nữ được trao quyền như thế nào. Phong trào gái mới đã được hiện thực hóa hoàn toàn vào năm 1940 với sự ra đời của văn hóa tiêu dùng, dẫn đến việc chỉ trích gái mới trong các bức biếm họa, vì họ không còn đại diện cho hình ảnh hiện đại, hữu ích về chủ nghĩa dân tộc của ấn phẩm. Những số báo đầu tiên lý tưởng hóa hình ảnh gái mới như một sự kết hợp đầy khát vọng giữa hiện đại và truyền thống, trao quyền cho phụ nữ thông qua phán xét thẩm mỹ của người tiêu dùng. Đến năm 1940, trào phúng đã khắc họa hình ảnh gái mới một cách hời hợt và quá Tây hóa, phản ánh nỗi lo lắng của chủ nghĩa dân tộc trước sự xói mòn văn hóa.

Chân dung bà Nguyễn Thị Hậu đã đi vào lịch sử như người đầu tiên mặc áo dài hiện đại của Lemur. Số Đỏ (1936) của Vũ Trọng Phụng châm biếm qua cửa hàng Âu hóa với xu hướng khai thác và phụ nữ tình dục hóa quá mức.

Bà Văn Minh, vợ của chủ cửa hàng may mặc Âu hóa đánh tiếng: “Các thiếu nữ bây giờ ăn mặc tợn hơn các me Tây khi xưa! Thật là tân thời, thật là đĩ thỏa!”

Báo Ngày Nay nhắm chính xác đến tầng lớp trung lưu Việt Nam. Vì ban biên tập đều là nam giới, nên có thể những hình ảnh phụ nữ xinh đẹp này phục vụ mục đích trang trí, làm đẹp cho các trang báo dành cho độc giả nam.

Số báo Xuân của Ngày Nay là hình ảnh gái mới Đông Tây hòa quyện. Bìa “Đêm Giao Thừa Đốt Hương” (Hà Nội, 1935) là một cô gái khiêm tốn thờ cúng tổ tiên, son môi và khăn quàng phong cách phương Tây.

Đến năm 1940, phong trào gái mới đã hiện thực hóa hoàn toàn ở Việt Nam. Dù lúc đó, những ký họa trào phúng Julia trích dẫn từ tờ Ngày Nay cho thấy báo chí lại đi theo xu hướng phê phán để chế nhạo. Nhưng ngoài điều đó, những tấm hình tạo dáng thẩm mỹ, chủ động của gái mới đã nhấn mạnh sự lịch sự, tân tiến của họ. Mặc dù, phụ nữ trong những bức ảnh đó có thể được nhiếp ảnh gia cố tình tạo dáng, họ vẫn thể hiện cơ thể mình trong tư thế và dáng dấp mang tính nhân văn. Cho dù đó là khoe bộ trang phục thời trang mới nhất, tham gia vào các nghi lễ văn hóa, hay làm những việc vặt hàng ngày.

Bà ngoại của Julia Đỗ, bà Vũ Thu Hà. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Do đó, các cuộc tranh luận về sự chấp nhận của xã hội đối với gái mới trên báo chí và tạp chí, “sẽ rất hạn chế nếu không đánh giá những hình ảnh chụp chính những phụ nữ trẻ, đặc biệt là khi hình minh họa châm biếm năm 1940 lại quá cường điệu.”

Luận án “Con Gái, Con Đứa!” khép lại với hình ảnh của những gái mới của năm 1950, hiện đại, trí thức và đầy tự tin.

Julia Đỗ kết luận rằng: “Dù ngắn ngủi, gái mới đã để lại dấu ấn khó phai mờ trong văn hóa Việt Nam. Vượt qua ý nghĩa một tư sản thân Pháp, gái mới đã thúc đẩy các cuộc trò chuyện về chủ nghĩa dân tộc và quyền phụ nữ thành hiện thực. Dù thế hệ phụ nữ này phần lớn đã qua đời, ký ức về họ vẫn còn không phai mờ trong trang phục; giáo dục; và niềm vui trẻ trung, không hề phai nhạt của tất cả phụ nữ Việt Nam. Theo một cách nào đó, tất cả chúng ta đều có thể là cô gái mới.”

***

Sau đây là cuộc trò chuyện giữa Julia Đỗ và nhật báo Người Việt:

Người Việt (NV): Xin chào Julia Đỗ. Chúc mừng luận văn tốt nghiệp của em. Cảm ơn em đã nhận lời chia sẻ thêm về  “Con Gái, Con Đứa!” Vì sao em chọn đề tài này? Và đây là ý tưởng duy nhất hay một trong nhiều lựa chọn của em?

Julia Đỗ: Dạ vâng. Trường của em, Harvard, là trường khá truyền thống hơn những trường khác. Họ muốn sinh viên chuẩn bị sớm nếu muốn theo đuổi ngành học thuật nào đó ở cấp cao hơn, như cao học chẳng hạn. Do vậy trường em rất coi trọng luận án. Từ năm thứ hai trường đã yêu cầu sinh viên suy nghĩ về chủ đề của luận án. Quá trình làm rất lâu, vài năm.

Ngay từ đầu em đã biết là mình thích dân tộc học, lịch sử của người Châu Á. Thêm nữa là em cũng thích nghiên cứu về giới tính học, bởi vì dù mình sinh ra ở Mỹ, mình vẫn là người Việt Nam. Cho nên em thấy cách (xã hội) đối với hai giới tính nam và nữ ở Việt Nam và Mỹ rất khác nhau. Có lẽ cũng là nữ nên từ nhỏ em đã có nhiều câu hỏi trăn trở về điều này. Sau đó thì em nghĩ rằng, là nữ, mình có một cách đặc biệt để tìm hiểu về đề tài này mà phái kia không có. Nên em đã chọn đề tài này.

Bà ngoại Vũ Thu Hà của tác giả ngồi cùng những người bạn. Hình chụp năm 1950. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Người Việt (NV): Có nguyên nhân đặc biệt nào, hay ảnh hưởng từ nhân vật nào, như bố mẹ, ông bà chẳng hạn, để em thích nghiên cứu về dân tộc học và giới tính?

Julia Đỗ: Em nghĩ chắc một phần vì bố của em là phóng viên nên hồi nhỏ em có nhiều thời gian ở tòa soạn của báo Người Việt. Rồi khi lớn lên một chút, bố đón em sau giờ học, vì không thể chở về nhà ngay nên em thường ở văn phòng của Người Việt trong buổi trưa. Và đặc biệt là em rất gần gũi với bà ngoại. Em nghĩ là vì những điều kiện đó mà em được biết nhiều giá trị văn hóa của người Việt, cần phải lan tỏa.

Người Việt (NV): Julia có thể chia sẻ vài câu chuyện giữa em và bà ngoại, những câu chuyện đã khiến em có một tình cảm về văn hóa, truyền thống của người Việt?

Julia Đỗ:  Em nhớ là bà kể về Đệ Nhị Thế Chiến, khi người Nhật đánh vào Hà Nội. Bà ngoại có rất nhiều câu chuyện rùng rợn. Bà kể cho em nghe những câu chuyện khi chạy trốn khỏi bom đạn, chạy vào hầm trú bom cùng mẹ của bà. Và em nghĩ điều làm em ấn tượng nhất, đó là tầm quan trọng, vai trò thiết yếu của người phụ nữ. Bà kể cuộc sống khi vào Sài Gòn, bà làm việc ở Bộ Thông Tin Việt Nam CộngHòa. Bà kể cho em về Bà Nhu, như, bà ấy đẹp thế nào nhưng cũng rất “dữ” như thế nào.

Em nghĩ, lịch sử về phái nữ bị coi là thứ yếu so với một lịch sử mà trong đó hình ảnh người đàn ông luôn chiếm ưu thế. Nếu chúng ta mở một cuốn sách sử, luôn chỉ toàn là những nam anh hùng, nam quân nhân và tổng thống cũng nam giới. Sự gần gũi của em với bà ngoại đã mở ra cho em những suy nghĩ về vai trò của phụ nữ, vốn diễn ra cùng một lúc trong lịch sử nhưng không ai nói về điều đó.

Người Việt (NV): Em đã thực hiện luận án này như thế nào? Chắc chắn phải là một thời gian đắm chìm trong nghiên cứu, đi lại nhiều nơi, nói chuyện với nhiều người, đúng không?

Bà cố của Julia Đỗ, bà Hoàng Thị Vân Nhung. Hình chụp năm 1930. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Julia Đỗ: Đúng là như thế. Em đã tìm đọc các tài liệu trong thư viện Harvard và cả các bài viết trên Người Việt online. Em cũng về Hà Nội với mẹ em năm ngoái. Em nói chuyện với các cô, dì, các bà bên họ của bà ngoại. Em đã đến thăm Bảo Tàng Mỹ Thuật ở Sài Gòn, đó là nơi em tìm thêm cảm hứng cho luận án của mình.

Nơi đó có một khu trưng bày dành riêng cho họa sĩ Lê Thị Lựu mà em đã nói đến trong Chương II của luận văn. Một nghệ sĩ nổi tiếng! Nữ! Việt Nam! Và em thấy thật thú vị khi bà ấy được triển lãm tại bảo tàng đó, cùng với nhóm phụ nữ gái mới, nhóm văn chương. Em cũng tìm đọc những học giả Việt Nam học như bà Đặng Thị Vân Chi, người viết rất nhiều về vai trò của phụ nữ thế kỷ 20 ở Việt Nam.

Người Việt (NV): Em đặt tên cho Chương III là Publishing Gái Mới. Có phải ý em muốn nói rằng thời điểm này, hình ảnh gái mới thể hiện rõ nhất? Hay nói cách khác, có rất nhiều phụ nữ trẻ đã sẵn sàng vượt qua những rào cản để tìm đến thẩm mỹ của họ?

Julia Đỗ: Em cho rằng đó là thời điểm, và em dùng từ “siêu thị giác” hay “hiển thị rõ ràng nhất” trong chương đó.Vậy nên chắc chắn đó là thời điểm mà thẩm mỹ được nhận thức rõ ràng nhất trong lịch sử Việt Nam. Và lý do em nghĩ điều đó thú vị là vì nó trái ngược với các quốc gia khác như Nhật Bản hay các trung tâm đô thị khác như Thượng Hải hay Hong Kong, xu hướng này dường như xuất hiện ở Việt Nam muộn hơn một chút.

Có thể nói là họ được chấp nhận. Em nghĩ đã có một số thay đổi trong xã hội khiến hình ảnh này được chấp nhận rộng rãi hơn. Với sự bùng nổ của Đệ Nhị Thế Chiến, cũng như với các cường quốc đồng minh, các cường quốc phương Tây, em nghĩ chắc chắn người Việt Nam muốn gắn kết mình với hình ảnh tư bản phương Tây hơn.

Người Việt (NV): Điều làm cho em tự hào nhất về luận văn này là gì?

Julia Đỗ: Em nghĩ điều em tự hào nhất về luận văn của mình là có thể kết hợp rất nhiều ngành học và rất nhiều lý thuyết hàn lâm khác nhau vào cùng một sản phẩm. Em rất yêu thích truyền thông và những buổi hội đàm. Em nghĩ điều đó có thể liên quan đến việc em lớn lên trong môi trường báo chí, trong phòng tin tức.

Có rất nhiều phân tích về văn học và truyền thông, nhưng em cũng là người rất thiên về thị giác. Em thích vẽ. Vì vậy, em có thể kết hợp nhiều lý thuyết thị giác và phân tích các yếu tố thị giác, điều mà em nghĩ cũng rất quan trọng. Và em nghĩ mình sẽ giải thích điều này trong Chương I, bởi vì việc thể hiện phụ nữ và phái nữ, giới tính nữ, rất liên quan đến hình ảnh.

Do đó, em nghĩ việc có thể nói về hình ảnh thị giác và tác phẩm nghệ thuật khi chúng ta nói về một điều gì đó cụ thể dành cho phụ nữ là rất quan trọng.

Người Việt (NV): Về phương diện cá nhân, tôi đồng ý với Julia điều này. Nói nhỏ với em là tôi thích nhất Chương I, trong tổng thể ba chương.

Câu hỏi cuối dành cho em: Sau thời gian nghiên cứu và viết luận văn, em có nghĩ em là một gái mới của thế kỷ 21 không?

Julia Đỗ ôm hình của bà ngoại Vũ Thu Hà trong ngày tốt nghiệp Harvard. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Julia Đỗ: Em nghĩ một phần quan trọng khiến em nghĩ gái mới lại quan trọng đến vậy là vì nó là hiện thân của niềm vui trong một thời đại mà niềm vui ít hiện diện trong cuộc sống. Và em nghĩ, một phần quan trọng của thẩm mỹ gái mới thời bấy giờ, hay của cả trào lưu thời bấy giờ, là nó kết hợp các yếu tố trí tuệ và cộng đồng, thay vì chỉ đơn thuần là theo một vẻ bề ngoài bắt buộc hoặc phải mặc những bộ quần áo theo tiêu chuẩn nhất định.

Đó là cách phụ nữ của một tầng lớp trong xã hội tin rằnghọ có thể tốt hơn. Thật khó để nói em là gái mới vì em nghĩ tất cả phụ nữ ngày nay đều như vậy, là gái mới. Và sự tiến hóa bây giờ là của những gì đã thúc đẩy từ thời điểm đó.

Ý em là xu hướng phụ nữ hiện đại trên toàn cầu bắt đầu vào khoảng năm 1910. Em nghĩ rất nhiều phong trào cộng sản đã xuất hiện như một hệ quả của những gì đã xảy ra vào đầu thế kỷ 20. Chúng ta là một sự tiến hóa tự nhiên của những gì đã xảy ra, tất yếu từ phong trào trong lịch sử.

Do đó, có lẽ em không nói mình là gái mới theo nghĩa một người hoàn toàn chạy theo phong trào AI hay sự phát triển chóng mặt của công nghệ. Nhưng em muốn nói rằng tất cả chúng ta đều là những cô gái hiện đại nhờ những nỗ lực mà những phụ nữ này đã thực hiện vào thời điểm đó. Sau những năm 1950, tất cả chúng ta đều trở thành những cô gái hiện đại.

Người Việt (NV): Cảm ơn Julia Đỗ về cuộc trò chuyện này. Chúc em tiếp tục thành công và luôn hạnh phúc như một cô gái mới của gia đình và công việc.

————–

(*) Bài đã đăng trên Giai Phẩm Xuân Người Việt Bính Ngọ 2026