Pages

Wednesday, January 12, 2011

Gia phả của tôi

Năm 1974, về thăm nhà, chú tôi đưa cho một tập giấy, nói:

- Cho con tập Gia phả này, gìn giữ để biết họ hàng gia tộc của mình.

Tôi lật ra, lướt xem nhanh qua, đây là một tập giấy khổ 21x33 cm đánh máy, tôi xếp lại rồi hai chú cháu nói chuyện khác, chú tôi không nói gì thêm về quyển gia phả, tôi không hỏi chi với chú về nó, nhưng tự nghĩ sao chú lại cho mình.

Về nhà, có thì giờ giở lật từng trang đọc, tôi mới biết quyển gia phả này do Bác tôi ghi chép về dòng họ Phan, dòng họ Dương, dòng họ Quách, chú tôi ghi dòng họ Huỳnh và người chú họ ghi dòng họ Nguyễn của chú ấy.

Năm 1981hay 1982, cô tôi lên Sàigòn mổ mắt cườm, cô chỉ cho tôi biết một số người, nhờ đó tôi nhận biết thêm những quyến thuộc của mình.

Quyển gia phả này ghi chính yếu là dòng họ Phan, từ đó sang chi họ Huỳnh của tôi và sang chi họ Nguyễn là chú Nguyễn Văn Sáu. Chú người gốc ở Nhà Bàn làm thầy giáo, sau đổi lên Sàigòn dạy ở Trường Tiểu Học Cầu Kho, khoảng thập niên 80 đi định cư ở Pháp, chú này gọi bà Phan Thị Lợi là bà Nội.

Bà nội của cha tôi là bà Phan Thị Thông, chị ruột của bà Phan Thị Lợi. Do đó gia phả này có dòng họ Phan và chi họ Nguyễn.

Ông nội của cha tôi là người Tàu, gốc họ Tạ xin đọc bài Ô Y Hạng (ngõ áo đen). Nguyên văn bài thơ của Lưu Vũ Tích như sau:

Chu Tước kiều biên dã thảo hoa
Ô y hạng khẩu tịch dương tà
Cựu thời Vương, Tạ đường tiền yến
Phi nhập tầm thường bách tính gia


Dịch nghĩa:

Bên cầu Chu Tước, cỏ dại và hoa chen nhau
Đầu ngõ Ô y, ánh mặt trời về chiều
Cánh én xưa trước nhà họ Vương họ Tạ
Nay đã bay vào nhà bách tính bình thường

Dịch thơ

Bên cầu Chu Tước cỏ chen hoa
Ngõ vắng Ô y bóng ác tà
Én gác Tạ Vương xưa giờ đã
Lạc chốn dân gian đến trăm nhà

Sang Việt Nam nhánh họ Tạ ấy đổi thành họ Huỳnh ở Đình cũ, xã Mỹ Hội Đông, Long Xuyên, tên ông ấy là Huỳnh Quới cưới bà cố tôi là Phan Thị Thông, sanh ra ba người con trai là Huỳnh Văn Thảo, Huỳnh Văn Nghì lập nghiệp ở làng Hòa Tú, tỉnh Sóc Trăng và Huỳnh Văn Đắc theo dì Phan Thị Lợi ở Nhà Bàn lập nghiệp.

Bà ngoại của cha tôi là Dương Thị Út, là dòng dõi của một ông họ Dương, ngày xưa đến cù lao Năng Gù lập nên làng Bình Lâm, thời Pháp thuộc đổi ra là làng Bình Thủy, ông họ Dương này được dân làng tôn kính gọi là ông Tiền Hiền, có bài vị thờ trong Đình làng, con cháu cũng có lập một phủ thờ, mộ của ông Tiền Hiền nằm trong đất bà cố tôi Dương Thị Út.

Ông ngoại của cha tôi là Nguyễn Văn Suốt, tôi gọi là ông cố, sau này gia đình không rõ ông họ chi, nguyên do ngày xưa, bà sơ của tôi có mang ông cố, ông sơ đi xuống miệt dưới là Cần Thơ, Sa Đéc làm ăn, khi bà sơ sanh con, ông sơ không có ở nhà, khi ông sơ về thân sinh của bà sơ tôi đuổi ông sơ tôi không nhận là con rể, vì không làm tròn bổn phận người chồng, ông sơ tôi nhận tội năn nỉ khóc suốt đêm bên vách nhà, đến gần sáng đành bỏ đi biệt tâm mất tích.

Sau, bà sơ tôi cho con làm con nuôi quan phủ Nguyễn Bá Thanh, nên được cải tên họ thành Nguyễn Văn Suốt. Nhờ là con nuôi của quan phủ nên mới cưới được con út của nhà họ Dương là bà Dương Thị Út nói trên.

Bà sơ của tôi bước thêm một bước nữa, lấy chồng họ Quách. Do vậy, trong quyển gia phả này có thêm họ Quách.

Ông bà ngoại của cha tôi sanh ba người con gái là Nguyễn Thị Thoi, Nguyễn Thị Thiềm có chồng ở ngoại vi thị xã Long Xuyên và Nguyễn Thị Kim lập gia đình với họ Lê ở cùng thôn.

Ông nội tôi là trưởng nam Huỳnh Văn Thảo, cưới bà nội tôi là Trưởng nữ Nguyễn Thị Thoi, đúng là môn đăng hộ đối, một bên toàn là nam, một bên toàn là nữ hai bên đều có ruộng vườn tuy không nhiều nhưng cũng có phần chia cho con cháu.

Năm 1945, cha tôi mua một miếng đất, cất nhà trên miếng đất này, đất bên cạnh nhà tôi bên tay trái là của anh Xã trưởng Lý Quốc Chênh, bên phải nhà tôi là nhà Bác Quách Văn Đê.

Giữa nhà tôi và nhà anh xã trưởng có một cái nhà nhỏ, gọi là cái chòi cũng được, có một bà già sống ở đó, tôi gọi là là Bà Cố Chín, thỉnh thoảng mẹ tôi hoặc cô tôi bảo bưng sang cho bà một tô canh hoặc tô nước cơm, dĩa thức ăn cá hay thịt kho.

Bác Bảy gọi Bà Cố Chín ấy bằng cô, nhà bác có che một cái chái, để một cái hòm, đó là cái hòm của Bà Cố Chín mua sẵn để dành trăm tuổi của bà.

Trong nhà tôi có cái tủ gõ mun, cha tôi để một cái hộp sắt có khóa, trong ấy để những giấy tờ quan trọng. Hồi còn nhỏ, có lần tôi mở hộp sắt ấy, đọc một tờ giấy thấy ghi: “Một đàng là Quách Thị Lợi chủ đất bán cho người mua tên Huỳnh Văn Đoan một miếng đất gồm thổ cư và thổ canh, diện tích 0 mẫu 3 sào. Tứ cận bắc giáp đất Quách Văn Tiền, đông giáp rạch Chanh, nam giáp đất Lý Quốc Chênh, tây giáp xép Năng Gù…”

Sau này, nhờ xem gia phả, tôi mới biết Bà Cố Chín Quách Thị Lợi là em cùng mẹ khác cha với ông cố Nguyễn Văn Suốt của tôi, cũng căn cứ theo gia phả Bác Quách Văn Đê gọi Bà Cố Chín là cô ruột. Vậy sao tôi gọi bằng bác mà không phải bằng ông?

Cũng xem trong gia phả thấy thân phụ của bác Quách Văn Đê là ông Quách Văn Tiền cưới bà Dương Thị Các, con của một ông họ Dương anh ruột bà cố tôi Dương Thị Út. Đó là hai anh em ruột cưới hai cô cháu ruột. Tôi gọi bác ấy bằng ông cũng đúng mà bằng bác cũng đúng, nhưng trong họ hàng đã thống nhứt cách xưng hô như trên từ lâu.

Lại còn trường hợp nữa, cũng là em của ông cố Nguyễn Văn Suốt của tôi là ông Quách Văn Nên có người con gái là Quách Thị Trữ. Anh của bà cố tôi Phan Thị Thông là ông Phan Văn Hội (vì làm Cai đội thời chúa Nguyễn, có công trận chi đó, nên được đổi ra họ Nguyễn là Nguyễn Văn Hội). Cháu nội ông này là Nguyễn Văn Toán, tôi gọi bằng Bác, ông cưới bà Quách Thị Trữ tôi gọi bằng Bà.

Có một chi họ Dương là Dưong Văn Cừ, ông ấy cùng làm làng với cha tôi. Cha tôi thứ Ba giũ chức Hương Sư, ông ta thứ chín giữ chức Hương Trưởng, ông ta gọi cha tôi bằng Anh Ba, anh hai tôi gọi ông ta bằng Chú Chín, Cô tôi, chú tôi gọi ông ta bằng Cậu Chín, tôi gọi ông ta bằng Ông Chín. Hồi còn nhỏ xưng hô cứ quen miệng gọi không thấy có chi lạ, đến lớn lên mới thấy có chi không ổn, vì cùng ông ấy sao anh tôi gọi bằng Chú mà tôi gọi tới bằng Ông. Hỏi, Cô tôi mới cắt nghĩa vì bà con cả hai bên, nên có quy định chi họ Huỳnh nhà tôi thứ hai, thứ ba chi họ Dương đó phải gọi bằng Anh, Chị theo họ cha, từ thứ tư trở đi phải gọi lại bên kia bằng Cậu, Dì theo họ mẹ.

Nhờ có Gia phả tôi mới hiểu bà con dòng họ của mình, có những người khác họ nhưng có chung một dòng máu ruột thịt, không biết thì xa lạ nhưng biết rồi thấy thân thiết thương mến nhau nhiều hơn. Cho nên mấy năm trước, tôi đã bắt đầu ghi chép tiếp đến thế hệ của tôi, để sau này con cháu tôi còn biết họ hàng của mình, gốc gác của mình từ đâu đến chốn này.

Louisville, ngày 11-01-2011

Đặt tên cho con

Nhiều nước, người ta đặt tên cho con vì mến mộ người nào đó, lấy tên người đó đặt tên cho con mình, như tên Thánh hay các vị anh hùng. hay trong thân tộc. Hoặc giả là có âm thanh êm tai.

Người Việt và người Trung Hoa không như vậy, luôn luôn đặt tên cho con mình mang một ý nghĩa nào đó. Chẳng hạn như con gái ước mong sau này trở nên mỹ nhân thì chọn tên Mai, Lan, Cúc, Trúc, Huệ, Hồng …, hay các loài chim đẹp như Loan, Phượng… Con trai lựa những tên để mong cho con mình sau này lớn lên trở thành người có tiếng tăm như tên Hùng, Dũng, Mảnh ..., trở nên người có đức hạnh như tên Đức, Nghĩa, Nhân …, trở nên giàu có như tên Phú, Quí … Khi ghét ai, thì lấy tên cha, mẹ người mình ghét đặt cho tên con, để khi kêu tên con mình, chửi con mình là kêu tên, chửi cha mẹ kẻ thù ghét của mình.

Dĩ nhiên những tên mang những ý nghĩa đẹp không nhiều, nên đặt tên tới lui rồi cũng sẽ bị trùng. Người Việt kiêng cử gọi tên của các bậc vua chúa, quan lại, ông bà của mình. Ngày xưa đi thi phải tránh tên vua gọi là húy, làm bài mà phạm húy chẳng những bị đánh rớt mà còn mang tội.

Gánh hát bội ngày xưa, đến làng nào hát người ta phải dò hỏi, những ông Hương chức như Hương Cả, Hương Chủ tên chi để họ tránh gọi tên. Chẳng hạn như ông sơ tôi Nguyễn Bá Thanh, phủ hồi hưu ở trong làng, khi hát tuồng có Địch Thanh thì họ phải gọi trại ra là Địch Thinh.

Do phải kiêng cử tên của vua, quan những bậc trưởng thượng, nhiều khi người ta đặt tên con rất tầm thường. Chẳnh hạn như ông cố tôi tên Suốt, đặt tên bà nội tôi là Thoi, một bà nữa là Kim, đó là những vật dụng may, dệt.

Em của bà cố họ Dương của tôi, đặt tên cho con, cô tôi bảo: “Ông ấy đặt tên, gồm đủ cả làng, không sót một ai: Thôn, Trưởng, Các, Chức, Trùm, Tân, Cựu, Ấu.

Một người nữa là em của bà cố tôi, cũng là em của ông vừa kể, không biết ông ấy có “tứ đổ tường” không, lại đặt tên con: Hạp. Tửu, Sắc, Cầm, Kìm, Tranh, Chung, Huê, Trắc.

Có một anh, cũng con cháu họ Dương, tôi nghĩ anh ta tên Chiêm, nhưng anh ta nghĩ mình tên là Chim, có con gái đặt tên Cò, thằng con trai kế đặt tên Diệc. Như vậy thuộc loài thượng cầm: Chim, Cò, Diệc; đúng ra phải là Chiêm, Cò, Việt.

Hồi nhỏ, trong xóm tôi có một ông cùi, khi tôi biết thì, tay, chân bị rút, mũi và tai bị biến dạng nhưng không còn bị lở lói gì nửa. Cô tôi cho biết, hồi trẻ ông ấy lành lặn, ngày đám cưới của ông ta khi rước dâu về, trên sông có con cá nổi lên, người ta vớt về nấu ăn, không ai bị gì cả chỉ có ông ấy bị cùi.

Sau khi bị cùi, ông ấy có người con trai đầu lòng, ông đặt tên Trân, vài năm sau có người con trai kế, ông đặt tên Nãi, vài năm sau nữa hơi thưa ra một chút, bà sanh con gái, ông đặt tên Lợt, và vài năm sau nữa bà sanh thêm một người con gái, ông đặt tên Lạt sau đó, ông cho phép bà đưa về nhà một người đàn ông cũng ở gần đó chẳng xa, về sống chung vợ chồng. Bấy giờ người ta mới biết ông đã đặt con rất chính xác, người con đầu lòng là con ông, còn những người sau không phải con ông nữa.

Gần nhà tôi có ngưòi bà con họ Quách, tôi gọi bằng ông. Ông ta “không biết chữ nhứt một”, không giao du bạn bè, con ông ta đặt tên rất ý nghĩa: Tưởng (gái), Vũ (trai), Vương (trai), Công (trai), Phụng (gái).

Chẳng những đặt tên con tránh trùng tên các bậc trưởng thượng, người ta cũng tránh đặt những tên quá tốt sợ bị người “khuất mày khuất mặt” quở, vật chết hay bắt theo hầu. Có nhà sanh, con trẻ bị chết khó nuôi, người ta lựa những tên xấu để đặt cho con như “thằng cu”, “cái tủn” …

Ngày xưa, như đã nói đào, kép hát phải kiêng cử tên vua chúa, các quan chức. Giải trí thuở trước có gì ngoài hát bội, Tả quan Lê Văn Duyệt có một gánh hát bội riêng, Thoại Ngọc Hầu cũng có gánh hát bội riêng, trong lăng mộ Thoại ngọc hầu, có 14 ngôi mộ của đào kép và con họ.

Vì sự kiêng cử hoặc vì ghét các quan, gánh hát cũng thường bày trò chửi xéo, người ta kể rằng có hai anh hề ra diễn, để chửi xéo Tả quan, một anh nói:

- Tao đố mày, trên đời này có chi không phải đực, không phải cái.

- Trên đời này, không đực thì cái, có giống chi không phải đực không phải cái, tao chịu thua, nhưng mày phải giải thích cho đứng nghe, không đúng mày biết tay tao!

- Có thiệt tao mới đố chớ !

- Vậy là chi ?

- Dễ ợi mà mày cũng không biết, đó là con thằn lằn!

Tôi có biết chuyện đặt tên liên quan tới ông Đại Hương Cả của làng tôi, nhà ông cách nhà tôi một căn nhà khác, tôi gọi ông là ông Năm, chắc là hàng xóm chớ không phải bà con.

Ông Năm có người cháu, vợ mới sanh con gái. Ba hôm sau, ông mặc áo dài, khăn đống và con trai mang khai trầu rượu tới nhà người cháu này, sau khi an vị ở nhà người cháu, con trai ông rót rượu ra chung, ông ôn tồn nói với cháu:

- Uống chung rượu đi cháu, cậu có việc phải nhờ đến cháu!

- Dạ ! cháu là con cháu, cậu có chi dạy xin cứ dạy bảo, cháu làm theo, cháu đâu dám uống rượu của cậu.

- Cháu đã nói vậy, thì để cậu nói, cháu mới đặt tên cho con của cháu, nên hôm nay cậu đến đây, xin cháu đặt tên khác, cho cậu xin lại tên ấy vì là tên bà thân của cậu.

Thế là người cháu quỳ xuống, lạy lấy lại để thưa với ông cậu Đại Hương Cả của mình.

- Thưa cậu! Vợ chồng cháu không được biết tên bà, cậu đã dạy nay cháu mới biết, cho cháu xin đến ngày mai nấu nồi chè đặt lại tên khác, cháu không dám phạm thượng, xin cậu tha lỗi cho.

Bác tôi biết chữ Nho, nhưng không hiểu sao bác đạt tên cho con gái Huỳnh Dung Vặn, vào khoảng năm 1960 chị ấy đi làm Thẻ Căn Cước. Toán Căn Cước ở tỉnh về làng làm Thẻ, gọi tới tên Huỳnh Dung Vặn chị ấy bước vào, anh chàng phụ trách nói:

- Tôi gọi Huỳnh Dung Vặn, bộ chị không nghe rõ hay sao chị lại vào đây ?

- Thì anh gọi tôi mới vào !

- Tôi nói tôi gọi anh Huỳnh Dung Vặn chớ không gọi chị!

- Tôi tên Huỳnh Dung Vặn, khai sanh tôi nè!

Bấy giờ, anh chàng làm Căn Cước mới hiểu chị ấy thật là tên Huỳnh Dung Vặn. Đến khoảng 10 năm sau, anh tôi làm Ủy viên Hộ tịch, bác tôi đi làm khai sanh cho cháu nội. Anh tôi cẩn thận nói với bác:

- Thưa Bác Hai, trong sổ bộ Khai Sinh không được sửa chữa, chắc Bác dã chọn cẩn thận rồi, muốn đặt tên chi ? Bác cho con biết con ghi vào.

Bác tôi không suy nghĩ nói:

- Nó thứ hai. Bác gái mầy với tao đặt nó là Huỳnh Thị Hai.

Vậy thì để con viết vô, rồi bác ký tên người đứng khai. Sau khi làm xong Bác tôi rời trụ sở Hội Đồng Xã ra về, được một lúc bác ấy quay trở lại, nói với anh tôi:

- Bác muốn sửa tên nó.

- Thưa Bác không được, con đã giải thích cho Bác biết rồi không sửa chữa sổ bộ được, luật pháp đã quy định vậy. Con không làm theo ý Bác được.

Bác ấy suy nghĩ một chút rồi hỏi:

- Thêm được không ?

- Dạ được!

- Vậy thì thêm cho Bác Huỳnh Thị Hai Suyển.

- Huỳnh Thị Hai được rồi! Bác thêm chi tên Suyễn nữa ?

Bác không suy nghĩ, giải thích:

- Ậy! Nó bị bệnh suyễn. Nên đặt nó tên Suyễn cho dễ nhớ!

Vì để cho dễ nhớ đó, nên có người mang tên Lượm, đó là con nuôi, như người ta lượm được từ ngoài mang vào nhà, có người mang tên Rớt, vì người đó bị sanh rơi rớt ở ngoài đồng, ngoài đường chớ không phải ở nhà hay nhà bảo sanh.

Trong gia đình tôi “tên cử, chữ đọc”, nên không có ai thứ Út, cũng như mọi người Nam đều không có anh cả, chị cả. vì người ta cho thứ Cả là đầu tộc, phải đi về Bắc hay Trung giữ Từ đường, gia đình phải ly tán.

“Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”. Những tên Justin, Jason, Davis, Tristine. Leyna …. sẽ thay hết những Hùng, Dũng, Nhân, Nghĩa, Cúc, Lan, Thúy … Hình như người ta có quan niệm phải đặt tên Mỹ cho người Mỹ dễ đọc và nhất là phải thay đổi nhanh chóng trăm phần trăm, để hòa vào dòng chính người Mỹ.

Có những hôm tôi thấy mình bị lạc lỏng, không phải lạc trong đám người Mỹ xung quanh mà lạc lỏng trong chính người Việt của mình, như dòng nước chảy ngược, như bầy cá hồi.

Louisville, ngày 11-1-2011