Pages

Wednesday, June 11, 2014

Vài nét tự ghi

Huỳnh Ái Tông

Sinh ngày 13 tháng 5 năm 1941, tại ấp Bình Phú, làng Bình Thủy, Tổng Định Thành, quận Châu Thành, tỉnh Long Xuyên. Ấp Bình Phú, Bình Quới, Bình Hòa là ba ấp nằm trên cù lao Năng Gù, ở dòng sông Hậu Giang.

Là ngoại tộc của dòng họ Dương, ông Dương Văn Hóa người lập làng Bình Lâm nay là Bình Thủy và ông Phủ Nguyễn Bá Thanh, thân tộc của Đoàn Trưng trong vụ án Giặc Chày Vôi năm 1886, dưới thời vua Tự Đức ở kinh thành Huế, lánh nạn vào Nam, thay họ đổi tên.

Thuở nhỏ, nhà ở gần trường làng, nhưng lại đi học lớp Đồng Ấu ở trường Bình Mỹ, quận Châu Phú tỉnh Châu Đốc, trường ở bên kia sông, sông ấy có tên là Xép Năng Gù, vì chú ruột làm Trưởng giáo ở trường này.

Do công cuộc Nam Bộ kháng chiến, nhiều trường học đóng cửa, vì các thầy giáo đi kháng chiến chống Pháp, nên thất học từ đó.

Về sau trường gần nhà, có người mở lớp dạy tư, được đi học tư nên năm 1950, xuống Long Xuyên thi đậu bằng Sơ Đẳng Tiểu Học, nhưng vì thời cuộc kinh tế khó khan, nhà có người anh đang học trường tỉnh, nên không thể cùng lúc cả hai anh em theo học ở tỉnh.

Đến năm 1954, cha mẹ lần lượt qua đời vì bệnh, nên được gửi theo chú đi học Trường Nam Tiểu Học Châu Đốc.

Năm 1956, được miễn thi Tiểu Học, thi tuyển đậu vào Trung học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc và Trung học Kỹ thuật Cao Thắng Sàigòn, được chú cho theo học trường Cao Thắng.

Năm 1957, đi sinh hoạt Gia Đình Phật tử Giác Minh tại chùa Kim Cương đường Trần Quang Diệu, Quận 3, Sàigòn.

Năm 1958, trong dịp lễ Thành Đạo tại chùa Giác Minh Sàigòn, được quy y với tam sư là Hòa Thượng Thích Thanh Thạnh, Thượng thủ Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại Miền Nam, Giáo thọ Đại Đức Thích Bình Minh, Duy na Đại Đức Thích Chính Tiến, được Hòa Thượng bổn sư ban cho pháp danh Phúc Trung.

Học lớp Đệ Ngũ Trường Kỹ Thuật Cao Thắng, vào dịp cuối năm, dưới sự dìu dắt của giáo sư hướng dẫn Hiệu đoàn Phạm Văn Luật, cùng với Dương Văn Thơm chủ trương Đặc San Xuân Đệ ngũ D, quay Ronéo, bìa quay Ronéo 4 màu.

Năm 1959, là Đoàn Trưởng Đoàn Thiếu Niên Gia Đình Phật Tử Giác Minh, chủ trương Đặc san Dũng, quay Roneo, bìa in Offset. Cuối năm viết bài đăng trong Đặc san Ánh Đạo của GĐPT Giác Minh

Năm 1960, là Liên Đoàn Trưởng GĐPT Giác Minh, Phó Tổng Thư Ký Ban Hướng Dẫn GĐPT/GHTGBV Tại MN. Sau đó, từ chức sang Hội Việt Nam Phật Giáo tại chùa Phuớc Hòa làm Liên Đoàn Phó, Quyền Liên Đoàn Trưởng GĐPT Minh Tâm. Trong thời gian này, gia nhập Đoàn Huynh trưởng A Dục là Đoàn các Huynh Trưởng tại Thủ Đô Sàigòn.

Năm 1961, trở lại sinh hoạt GĐPT thuộc GHTGBV Tại MN, giữ chức vụ Tổng Thư Ký Ban Hướng Dẫn GĐPT.

Năm 1962, kiêm Đoàn Trưởng Trường Đào Tạo Huynh Trưởng A Dật Đa thuộc BHD/GĐPT/GHTGBVTMN.

Năm 1964, đỗ Tú Tài 2 Kỹ Thuật, thi đỗ Dự khuyết vào Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật, sau đó trở thành Sinh viên chính thức.

Cùng năm này, được bầu giữ chức Tổng Thư Ký Ban Hướng Dẫn GĐPT Miền Vĩnh Nghiêm.

Năm 1965, thành viên thành lập Tổng Hội Sinh Viên Viện Đại Học Vạn Hạnh, được bầu giữ chức Phó Chủ Tịch Nội vụ, sau đó là Quyền Chủ Tịch nhiệm kỳ 1964-1965

Cùng năm này, được bầu giữ chức Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ, nhiệm kỳ 1965-1966. Chủ tịch Cao Ngọc Phượng, Thủ quỹ Nhất Chi Mai.

Năm 1966, tốt nghiệp Giáo sư Chuyên nghiệp Đệ Nhất Cấp, phân bổ đi dạy Trung học Y-JUT tại Banmêthuột.

Năm 1967, lập gia đình với Bùi Kim Chi, người quê Tầm Vu, tỉnh Tân An, cựu nữ sinh Gia Long, nhân viên Tòa Đô Chánh Sàigòn.

Ngày 12-1-1968, vào quân trường Thủ Đức, dự khóa 27 Sĩ Quan Trừ Bị Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Tháng 8 năm 1968, tốt nghiệp cấp bậc Chuẩn Úy, vào Trường Quân Cụ theo học khóa Sĩ Quan Căn Bản Quân Cụ, tiếp theo học khóa Sĩ Quan Quân Xa.

Tháng 4 năm 1969, ra trường được phân bổ về Đại Đội 21 Quân Cụ đóng tại Sóc Trăng, sau đó đơn vị trở thành Đại Đội Bảo Toàn, Tiểu Đoàn 21 Tiếp Vận thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Tháng 7, được phân bổ làm Trung Đội Trưởng sửa chữa 3, đóng tại thị xã Cà Mau, yểm trợ cho Trung Đoàn 32 Bộ Binh. Tháng 8-1969, trở về Đại Đội Bảo Toàn giữ chức Trung Đội Trưởng Trung Đội Hậu Cứ.

Tháng 9 năm 1969, được biệt phái về trường cũ, làm Phụ tá Học vụ và Học sinh vụ kiêm Phát ngân viên.

Tháng 10 năm 1970, được thuyên chuyển về Trường Trung học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ tại Sàigòn.

Năm 1974, Cao Học I Văn học Việt Nam Viện Đại học Vạn Hạnh.

Tháng 9 năm 1974, được Bộ Giáo Dục và Thanh Niên cử làm Hiệu Trưởng trường Trung học Kỹ Thuật Đệ nhị cấp Nguyễn Trường Tộ.

Ngày 25 tháng 6 năm 1975, theo lệnh Ban Quân Quản của thành phố, là Trung Úy biệt phái nên phải đi học tập cải tạo ở Trãng Lớn.

Khoảng tháng 4 năm 1976, chuyển trại lên rừng Kà Tum thuộc tỉnh Tây Ninh.

Ngày 16-9-1977, được tạm tha về theo diện hồi hương lập nghiệp ở xã Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Ngày 10 tháng 10 năm 1977, đi làm nhân viên Phòng Thanh Tra An Toàn Lao Động, Sở Lao Động Tp. HCM.

Tháng 7 năm 1978, chuyển sang Phân Viện Thiết kế thuộc Sở Công Nghiệp Tp. HCM.

Tháng 9 năm 1981, chuyển về Trường Kỹ thuật Nghiệp Vụ (Trường KT Nguyễn Trường Tộ cũ), giữ chức Hiệu Phó Chuyên môn.

Tháng 1 năm 1983, chuyển về Công Ty Trang Bị Kỹ Thuật làm trưởng Phòng Kinh tế Kế hoạch.

Ngày 2-4-1991, gia đình rời khỏi Việt Nam bay sang Bangkok.

Ngày 9-4-1991, rời Bangkok đến Mỹ, định cư tại Louisville, tiểu bang Kentucky.

Cuối năm 1991, cùng Trưởng Tâm Huệ Đoàn Thị Kim Cúc ở Viginia, Diệu Quỳnh Trần Hồng Loan ở San Diego, California thành lập Ái Hữu Gia Đình Phật Tử Vĩnh Nghiêm Hải Ngoại, giữ chức Tổng Thư ký cho tới năm 2006. Chủ trương Bản Tin AHVN cho đến năm 2006.

Năm 1995, chủ trương nguyệt san Phật Học, báo giấy và báo mạng (http://nsphathoc.org).

Năm 1998, chủ trương trang Mạng Ái Hữu GĐPT cho tới nay (http://ahvinhnghiem.org). 
Ngày 15-5-2009, nghỉ hưu sau 18 năm sống tại Mỹ, trải qua các công việc giáo dục, công nhân Waco của hãng Nhật, công nhân vài công ty chế biến thức ăn, lâu nhất là tại Công ty Fabricated Metals đến hơn 15 năm, cuối cùng nghỉ hưu tại đây.

Sau khi nghỉ hưu, có thì giờ biên soạn và hoàn tất các bài viết thành các tập hoặc bộ sách.

Tháng 10 năm 2009, hoàn tất tác phẩm Văn Học MiềnNam (1623-1954), in tại Việt Nam.

Năm 2011, hoàn tất tập sách Học Phật, tập họp những bài viết soạn từ năm 1995, đăng trên nguyệt san Phật Học.

Năm 2012, hoàn tất bộ Văn Học Miền Nam 1954-1975 và Trên cành chim hót, tập họp các bài bút ký.


Năm 2014, đang soạn bộ Văn Học Việt Nam Cận và Hiện đại sẽ hoàn tất trong năm.

Ngày 11-6-2014

Tuesday, May 27, 2014

Bỗng nhớ



Tôi người lính năm xưa chiến bại,
Phải lên rừng đốn củi, làm nương.
Xa vợ con, xa phố phường
Cơm ăn chẳng đủ đêm trường nhớ thương.


          *

Tôi người lính năm xưa chiến bại
Bỏ người thương ở lại nơi nhà
Một vai gánh vác mẹ cha
Một vai hứng chịu nuôi đàn trẻ thơ


          *

Tôi những tưởng sơn hà trút gánh
Chiến y kia rũ bỏ từ lâu
Bỗng dưng nhớ lại những ngày
Áo kia đã khoát, mũ giày đã mang.

          *

Ngày đứt gánh kẻ cười người khóc
Cười vì: “Ta thống nhất sơn hà”
Tưởng đâu chấm dứt can qua
Nào ngờ đất nước đến ra nổi nầy!

          *

Xa đất nước ngàn trùng xa thẳm
Nhìn lên trời mây trắng trời trong
Ước mong con tạo xoay vần
Hoan ca khắp chốn người dân hưởng thái bình

(30-4-2014)

Wednesday, May 7, 2014

Nhớ má tôi



Năm con tròn một Giáp
Má bỏ chốn trần gian
Bỏ cả đàn con lại
Con mồ côi từ đó

Con nhớ má nhọc nhằn
Khi làm rẩy, làm ruộng
Lúc gánh nước tưới hành
Lúc gặt lúa, hái đậu

Năm nào má với con
Bơi xuồng về quê ngoại
Lúc trở lại nhà mình
Cồn Bà Hòa con nhớ
Thuộc đất Mặc-Cần-Dưng
Má bảo gọi Ông Nược đua
Con gọi to: “- Đua Ông Nược!”
Ông Nược đâu chẳng thấy
Chỉ vòi nước phun lên
Cao đến hai, ba thước

Con biết mấy người khách
Họ là nhân tình cha
Má tiếp đãi ân cần
Xa má làm gà, làm vịt
Gần má mời trầu, trà, nước

Đêm đêm má đi xóm
Con nằm chờ một mình
Nghe tiếng guốc ngoài lộ
Con đã tưởng má về
 

Nhưng mà
Tiếng guốc không vào nhà
Vô tình guốc đi qua
Con khóc vì hờn má
Sao chẳng về với con
Con ngủ vì mõi mòn
Đêm đêm nằm chờ má

Lớn lên con mới hiểu
Má lo chuyện bao đồng
Thấy người ta nghèo khó
Má giúp dùm muợn nợ
Má chết rồi không ai trả
Má hiểu, nhưng với lòng từ
“Dù xây chín đợt phù đồ
Sao bằng làm phước cứu cho mạng người”
Má bỏ qua thị phi
“Trên đời có bốn thứ ngu
Làm mai, mượn nợ, gác cu, cầm chầu” 

Một lần má cầm roi
Chỉ con má nói to:
“- Vô đây má dạy bảo !”
Con chạy trốn bị đòn
Thỉnh thoảng con nhớ lại
Tự hỏi, tự trách mình:
“- Sao lại quá ngu dại!
Con là con bất hiếu
Nay muốn nằm chịu đòn
Má đâu còn để dạy con!”

Con nhớ má
Tuổi thất thập đã qua
Sắp đến ngày gặp lại
Cầu con được gặp má
Cho thỏa dạ nhớ mong.
Lexington, 5-7th.2014

Saturday, April 19, 2014

Đến thăm thủ phủ Frankfort của tiểu bang Kentucky



Tôi đến định cư ở thành phố Louisville, thuộc tiểu bang Kentucky đã hơn 23 năm . Nói cho chính xác là đã 23 năm 8 ngày, hôm nay tôi mới đến thăm thủ phủ Frankfort của tiểu bang Kentucky, mặc dù nơi đây chỉ cách nhà tôi chừng 55 miles, và tôi đã đi ngang qua lại trên 10 lần, nhưng thủ phủ nằm cách xa lộ 64 chừng 3 miles nên chưa có lần ghé thăm. Căn cứ trên dân số, nó là thủ phủ nhỏ đứng hàng thứ năm trong Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Tôi đang ở nhà con rể tôi tại thành phố Lexington, nhân được nghỉ 1 ngày, nên con rể tôi đưa chúng tôi đi thăm thủ phủ Frankfort, chỉ cách nhà chừng 30 miles.

Tách khỏi xa lộ 64, theo con đường chạy ven sườn núi, đường dẫn đến Thủ phủ, có chỗ dừng xe để nhìn Toà nhà Chánh phủ của Thủ phủ nằm dưới một thung lủng, cạnh con sông Kentucky River.


Nơi đây có bản ghi lịch sử Thủ phủ Frankfort.
Một bản chào mừng khách tham quan và giới thiệu sơ vài nét về Thủ phủ qua hình ảnh.


Trước tòa nhà Chánh phủ, có một công viên trồng toàn hoa tulip, nơi đây một vòng hoa tulip vàng, nơi kia một vòng hoa tulip đỏ.


Dọc theo hai bên công viên là tư gia, họ trồng những cây anh đào đỏ hay trắng, đang trổ hoa rất đẹp.


Từ công viên, cách khuôn viên tòa nhà Chánh phủ là một vòng xoay cũng trồng toàn hoa tulip màu đỏ. Tòa nhà Chánh phủ nằm trên một ngọn đồi, do đó phải đi lên nhiều bậc thang, đến một tầng sân, bề ngang rộng chừng 14 thước, dài chừng 5, 6 chục thước, hai bên có lối đi chừng 4 thước, lót gạnh nung, ở giữa trồng cỏ, ngoài cùng là rào xây xi măng cao chừng 1 thước,  bên ngoài rào xi măng trồng mỗi bên một hàng hoa đào trắng, cao chừng 3 thước, nhưng chỉ nhô lên khỏi tường rào xây chừng 1 thước mà thôi. Đi hết tầng này phải bước lên những bậc thềm mới tới mặt nền tòa nhà, nền tòa nhà lót gạch nung đỏ hình chữ nhật cạnh chừng tấc rưỡi và ba tấc.


Tòa nhà 3 tầng, bề ngang chừng 100 thước, sâu chừng 40 thước, Nóc bằng, ở giữa có tháp hình tròn, xung quanh có nhiều cột và nhiều cửa, trên nóc tháp có cái vòm cụp lại, trên cái vòm này lại có cái tháp 4 mặt, trên nóc tháp là cái vòm chụp lại.
Ở giữa mặt trước là một tiền sảnh ngang chừng 10 thước, sâu chừng 4 thước, bên trên là một phù điêu tam giác, hình tượng những cảnh vật đăc trưng cho sinh hoạt của tiểu bang.


Trong tiền sảnh này, có một bảng đánh dấu tòa nhà:


Ở trên nóc bằng của tòa nhà Chánh phủ có một cột cờ treo bên trên cờ Mỹ, ở dưới là cờ của Tiểu bang.

Chúng tôi theo hành lang đi xung quanh tòa nhà, mặt sau tòa nhà cùng gần giống như mặt trước, không có phù điêu, không có cột cờ.


Cách một con đường là một tòa nhà khác, cũng bề thế, cũng 3 tầng, cất theo hình chữ U,đây là văn phòng của các Thượng Nghị Sĩ và Dân Biểu của Tiểu Bang.


Hai tòa nhà này có lối đi lại thông thương với nhau bằng đường hầm. Về phía tay phải của hai tòa nhà này có chỗ đậu xe cho du khách, cho các thượng nghị sĩ, Dân biểu là bãi đậu xe có 6 tầng, nằm sát bờ sông, mặt trên cùng lộ thiên ngang với mặt đường trong khu vực các tòa nhà Chánh phủ. Từ đây nhìn thấy mặt hông của Tòa nhà chính và tòa nhà phụ.


Gần với bãi đậu xe là Dinh Thống Đốc của tiểu bang. Dinh cùng bề thế nằm ở mặt trước phía tay phải của tòa nhà Chánh phủ.


Trên đường về, chúng tôi ghé một cửa hàng kẹo có rượu Bourbon, cửa hàng nhỏ, bán đặc sản kẹo có rượu Bourbon và những quà kỷ niệm chủ yếu là tượng đồng, chùm chìa khóa, áo thung với hình những con ngựa rất đẹp.


Trên đường đi, có một tòa lâu đài xây cất cách nay vài chục năm, lâu đài là một thiên tình sử, có anh chàng kia yêu một cô gái đẹp, họ cưới nhau, anh chàng đi vay tiền của vài nhà băng địa phương để xây tòa lâu đài, cốt đê kỷ niệm mối tình ca hai người và nhất là đêgiũ chân cô gái, nhưng chàng trai kia không thể giữ được tình yêu của mình, một ngày nào đó, cô gái đã chia tay chàng trai, cô gái rời khỏi lâu đài, anh ta cũng bỏ đi về vùng biển Florida, tòa lâu đài bị nhà băng xiết nợ, vài giám đốc nhà băng bị mất chức vì đã cho anh ta vay tiền.


Ngày nay tòa lâu đài trị giá trên 30 triệu, không ai ở, chỉ thỉnh thoảng cho thuê để người ta tổ chức đám cưới đầy thơ mộng và linh đình.

Tòa lâu đài ở giữa cánh đồng cỏ, xứ cỏ được mệnh danh là xứ Cỏ xanh – Bluegrass State - những nông trại chỉ trồng cỏ để nuôi bò sữa và nhất là nuôi ngựa đua, chẳng xa tòa lâu đài này có Trường đua Lexington, nhưng trường đua danh tiếng chẳng những khắp nước Mỹ mà còn cả thế giới, đó là trường đưa Churchill Downs tại thành phố Louiville trong tiểu bang Kentucky.


Điều đặc biệt tôi để ý thấy, mọi du khách có thể đi xung quanh tòa nhà Chánh phủ rất tự nhiên thanh thảng như đi trong sân nhà mình, không thấy có bất kỳ hình bóng cảnh sát hay nhân viên an ninh trong khu vực này, khác rất xa ở Việt Nam, nhất là ở Hà Nội, một hôm đi tới Chùa Một Cột, tôi chỉ đi trên vĩa hè bên hông lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã bị nhân viên mặc đồng phục trắng, hắn ra dấu xua đuổi tôi đi qua bên kia đường.
LEX18042014