Pages

Monday, May 2, 2016

Nguyễn Mỹ Ca






(1917-1949)

Nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca, còn có nghệ danh là Nguyễn My Ca, sinh năm 1917 tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. Thân phụ là Nguyễn Tri Lạc, Nguyễn Mỹ Ca là anh họ của giáo sư âm nhạc Trần Văn Khê. Có thể Nguyễn Mỹ Ca học cổ nhạc với chú là soạn giả, nhạc sĩ Nguyễn Tri Khương (1890-1962)

Nguyễn Mỹ Ca học Le Myre de Vilers tức Trung học Nguyễn Đình Chiểu - Mỹ Tho, rồi Pétrus Trương Vĩnh Ký tại Sài Gòn.

Năm 1942, ông ra Hà Nội học Đại học; và sinh hoạt trong nhóm sinh viên yêu nước do Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu. Trong khoảng thời gian này, ông sáng tác nhiều ca khúc vui tươi, lạc quan, thấm đậm lòng yêu nước như: Đến trường, Vui đi học, Dạ khúc, đặc biệt bài Chiêu hồn nước được sinh viên – học sinh công diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội.

Sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23-9-1945, ông ra bưng biền tham gia kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ.

Năm 1948, bộ phận Thông tin tuyên truyền dời về khu 9, ông theo đơn vị về Đồng Tháp Mười rồi bị quân đội Pháp càn quét, ông hy sinh trong năm 1949.

Ông là đồng tác giả một số hành khúc với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.

Nguyễn Mỹ Ca từng dạy đàn mandoline cho Trần Văn Trạch bước đầu học tân nhạc.

Là một nhạc sĩ thời tiền chiến. Cuộc đời rất ngắn nên ông sáng tác không nhiều, trong đó bài Dạ khúc được coi là nhạc phẩm bất hủ.

Nguyễn Mỹ Ca mất vào năm 1949 lúc vừa 32 tuổi.

Trong bài: Nhạc sĩ tiền chiến Nguyễn Mỹ Ca và Dạ khúc bất hủ, trên Văn nghệ Tiền Giang Online, tác giả Cỏ May đã viết:

Nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca là thuộc dòng họ Nguyễn Tri, một dòng họ danh gia vọng tộc và có truyền thống âm nhạc ở Vĩnh Kim. Cha Nguyễn Mỹ Ca là anh của ông Nguyễn Tri Khương (cháu nội của ông Nguyễn Tri Phương, một vị quan nổi tiếng dưới thới triều Nguyễn), là một nhạc sĩ chuyên về sáo, lại thông hiểu về lý thuyết nhạc cổ, đã giúp cho GS Trần Văn Khê khi viết luận án tiền sĩ về nhạc Việt.

Nhạc phẩm:

- Dạ khúc (lời Hoàng Mai Lưu)
- Đến trường
- Tiếng dân cày
- Vui đi học
- Chiêu hồn nước

Tài liệu tham khảo:

- Nguyễn Mỹ Ca Web: Wikipedia
- Cỏ  May, Nhạc sĩ tiền chiến Nguyễn Mỹ Ca và Dạ khúc bất hủ Web: vannghetiengiang.vn

Nhạc phẩm Dạ Khúc do danh ca Thái Thanh trình bày

https://www.youtube.com/watch?v=cuUt0Pbh9nM

https://www.youtube.com/watch?v=cuUt0Pbh9nM





Nguyễn Văn Thương





(1919-2002)

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sinh ngày 22 tháng 5 năm 1919 tại Thừa Thiên-Huế. Năm 9 tuổi, ông học đàn nguyệt và tự học ký xướng âm qua sách của Pháp. Năm 1936, tốt nghiệp Quốc học Huế, ông viết bài Trên sông Hương, cũng là một trong những tác phẩm tân nhạc đầu tiên ở Huế.

Năm 1939, Nguyễn Văn Thương ra Hà Nội học. Trong đêm giao thừa năm đó, vì không có tiền để về Huế, ông đi lang thang trên những con phố của Hà Nội và sáng tác nhạc phẩm Đêm đông bất hủ. 

Năm 1942, Nguyễn Văn Thương vào làm việc ở Trung tâm Bưu điện Sàigòn viết Bướm hoa ở đó. Trong Kháng chiến chống Pháp, ông làm công tác tuyên truyền ở mặt trận Bình Trị Thiên. Bài hát Bình Trị Thiên khói lửa của ông ra đời và gây được ấn tượng mạnh mẽ. Hoà bình lập lại, ông tập kết ra Bắc và là một trong những nhạc sĩ đầu tiên soạn nhạc cho các điệu múa chuyên nghiệp như thơ múa Chim gâu, kịch múa Tấm Cám, Múa ô, Chàm rông... Sau Bài ca trên núi viết cho phim Vợ chồng A Phủ, Nguyễn Văn Thương viết nhiều tác phẩm về đề tài Kháng chiến chống Mỹ cứu nước gồm những ca khúc, hợp xướng gây ấn tượng như: Bài ca Việt - Lào, Dâng Người tiếng hát mùa xuân, Gửi Huế giải phóng, hợp xướng Dân ta đánh giặc anh hùng, Tiến lên toàn thắng ắt về ta... Trong thời kỳ đó, Nguyễn Văn Thương từng là trưởng đoàn kiêm chỉ đạo nghệ thuật của hầu hết các đoàn nghệ thuật ca múa nhạc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đi biểu diễn ở nước ngoài.

Ông còn nổi tiếng với những tác phẩm khí nhạc như Lý hoài nam độc tấu sáo trúc, cùng Ngọc Phan, Buôn làng vào hội, Quê hương cùng Hoàng Dương. Sau khi đi học ở Cộng hoà Dân chủ Đức, Nguyễn Văn Thương viết nhiều tác phẩm khí nhạc khác như Ngày hội non sông độc tấu sáo trúc và bộ gõ, Rhapsodie số 2 cho đàn T’rưng và dàn nhạc giao hưởng, Trở về đất mẹ cho violoncelle và piano... đặc biệt là giao hưởng thơ Đồng khởi của ông đã từng được trình diễn lần đầu tại Leipzig, Cộng hoà Dân chủ Đức năm 1971. 

Sau năm 1975, Nguyễn Văn Thương vẫn tiếp tục sáng tác các tác phẩm như Adagio Bên dòng sông Thương cho violoncelle và piano, ca khúc Thu Hà Nội, mùa thu tuyệt vời. Ngoài ra, ông còn viết nhạc cho nhiều bộ phim như Vợ chồng A Phủ, Dòng sông âm vang, Hai Bà mẹ, Bình minh xôn xao, Sao Tháng Tám, Ngày ấy bên bờ sông Lam, Thành phố lúc rạng đông... và tác phẩm múa như Tấm Cám, Múa ô, Chàm rông, Thiếu nữ bên hồ, Dưới trăng.

Nguyễn Văn Thương cũng từng giữ chức Giám đốc Nhạc viện Hà Nội, ông đã đưa hệ Trung cấp Âm nhạc cổ truyền lên hệ Đại học. Ông cũng viết nhiều cuốn sách về âm nhạc như Tuyển tập piano, Tuyển tập 16 bài dân ca và dân xã Việt Nam. Ngoài ra, ông còn có một số tác phẩm sân khấu như Mệ lệnh, Cải tô.
Ông mất ngày 5 tháng 12 năm 2002 tại Bệnh viện Thống Nhất Tp. HCM. Thọ 83 tuổi, được an táng tại nghĩa trang thành phố. 

Trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia nhận định về nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương:

Bài Đêm đông (1940) được ông sáng tác mang đầy xúc cảm thể hiện lòng nhân ái của người nhạc sĩ trước cuộc đời vất vả và bất hạnh, mang lại thành công lớn cho âm nhạc Việt. Tiếp đến Bình Trị Thiên khói lửa cũng được yêu thích bởi tính bi tráng, nói lên tinh thần quật khởi chống giặc ngoại xâm của nhân dân Việt Nam. Hai bài ca trên là ví dụ điển hình cho sự xuất sắc và những đóng góp lớn lao của ông cho nền âm nhạc nước nhà. Không chỉ vậy, hàng chục nhạc phim, giao hưởng, vũ kịch, càng khẳng định vị trí của người nhạc sĩ có nhiều cống hiến quan trọng cho âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam

Ca khúc:

- Trên sông Hương
- Đêm đông

- Bướm hoa
- Người đẹp vườn xuân
- Bài ca trên núi

- Bình Trị Thiên khói lửa
- Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ
- Dân ta đánh giặc anh hung
- Gửi Huế giải phóng
- Bài ca trong hang đá
- Dâng người tiếng hát mùa xuân
Khí nhạc

- Adagio Bên dòng sông Thương
- Adagio số 3
- Chủ đề và biến tấu cho piano
- Độc tấu cello Trở về đất mẹ
- Độc tấu dàn tre lắc và bộ gõ Buôn làng vào hội
- Độc tấu sáo trúc và bộ gõ Ngày hội non song
- Độc tấu sáo trúc Lý hoài nam
- Giao hưởng thơ Ðồng Khởi
- Rhapsodie số 2 cho đàn T'rưng và Dàn nhạc giao hưởng
- Romance số 5
- Trở về đất mẹ cho violoncelle và piano
- Thơ múa Chim Gâu, Bà mẹ thành đồng
- Tổ chức biến tấu cho piano Quê hương Tây Nguyên
- Vũ kịch Tấm Cám
- Vũ khúc ngày hội

Tác phẩm:

- Tuyển tập piano
- Tuyển tập 16 bài dân ca và dân xã Việt Nam

Tài liệu tham khảo:

- Nguyễn Văn Thương Web: Wikipedia

Nhạc phẩm Đêm Đông do danh ca Bạch Yến trình bày

https://www.youtube.com/watch?v=5pKtxhcTPEc


 (Xem tiếp nhạc sĩ Thu Hồ)



Sunday, May 1, 2016

Đặng Thế Phong


(1918-1942)

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Cha ông là Đặng Hiển Thế, thông phán Sở Trước bạ Nam Định.

Vì cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure) tại trường trung học Saint Thomas d'Aquin. Anh lên Hà Nội vẽ cho một số tờ báo và học với tư cách dự thính tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École supérieure des Beaux-Arts) tới năm 1939. Thời gian anh học ở đây đã để lại một giai thoại. Trong một kỳ thi, Đặng Thế Phong vẽ bức tranh cảnh một thân cây cụt. Giáo sư, họa sĩ người Pháp Tardieu chấm bài, khen ngợi nhưng nói rằng: E Đặng Thế Phong sẽ không sống lâu được!

Cuộc đời Đặng Thế Phong rất long đong, lận đận. Anh phải sống lang bạt và trải qua nhiều nghề. Tháng 2 năm 1941, Đặng Thế Phong lang thang vào Sài Gòn rồi sang Campuchia. Tại Nam Vang, anh có mở một lớp dạy nhạc và đến tháng 8 năm 1941 anh trở lại Hà Nội.

Sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong chỉ có ba nhạc phẩm và đều rất nổi tiếng là: Đêm thu ca khúc viết cho lửa trại của học sinh Hà Nội năm 1940, Con thuyền không bến hoàn chỉnh tại Nam Vang, trình diễn lần đầu tại rạp Olympia, Hà Nội năm 1941 và Giọt mưa thu năm 1942. Nhạc phẩm cuối cùng Giọt mưa thu được anh viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh. Ban đầu bản nhạc mang tên Vạn cổ sầu, nhưng theo ý một vài người bạn, anh đặt lại là Giọt mưa thu cho bớt sầu thảm hơn.

Cả ba ca khúc của anh đều viết về mùa thu và hai trong số đó Con thuyền không bến và Giọt mưa thu được xếp vào những tác phẩm bất hủ của tân nhạc Việt Nam. Giọt mưa thu cũng là cảm hứng cho nhạc sĩ Hoàng Dương sáng tác bài Tiếc thu nổi tiếng. Nhiều ý kiến cho rằng Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng bởi Giọt mưa thu khi viết ca khúc đầu tay Ướt mi.

Trong một bài viết của nhạc sĩ Trương Quang Lục thì Đặng Thế Phong có những sáng tác: Con thuyền không bến, Giọt mưa thu, Đêm thu, Sáng trăng, Sáng trong rừng, Sầm sơn... Trên báo Tiền Phong số ra ngày 11 tháng 1 năm 2006, đăng tư liệu về một nhạc phẩm mới tìm thấy của ông: Gắng bước lên chùa, lời của nhà văn trinh thám Phạm Cao Củng.

Nhận xét của Phạm Duy, các sáng tác của Đặng Thế Phong là những bài hát khởi đầu cho dòng "nhạc thu" Việt Nam, được tiếp nối xuất sắc bởi Văn Cao và Đoàn Chuẩn. Theo Doãn Mẫn, Đặng Thế Phong và Lê Thương là hai nhạc sĩ tiền chiến có sáng tác sâu đậm hồn dân tộc nhất: "Đặng Thế Phong là người hết sức tài hoa. Anh chơi được rất nhiều nhạc cụ. Anh sáng tác Giọt mưa thu, Con thuyền không bến từ khi còn rất trẻ. Đáng tiếc, anh mất quá sớm. Có thể nói sự ra đi của anh là một tổn thất lớn đối với bạn bè và cho cả những người yêu mến âm nhạc Việt Nam."

Đặng Thế Phong được xem như một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của thời kỳ tiền chiến. Ông mất vì bệnh lao trên một căn gác số 9 phố Hàng Đồng, Nam Định năm 1942. Hưởng dương 24 tuổi.

Nhạc phẩm:

- Đêm thu
- Con thuyền không bến
- Giọt mua thu
- Sáng trăng
- Sáng trong rừng
- Sầm Sơn
- Gắng bước lên chùa
(lời của Phạm Cao Củng)

Tài loệu tham khảo:

- Đặng Thế Phong Web: Wikipedia

Nhạc phẩm Giọt mưa thu do Thái Thanh trình bày

https://www.youtube.com/watch?v=5ZppSgMCAI8



(Xem tiếp nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương)

8664010516