Pages

Tuesday, November 18, 2025

Tôi vốn người dân Cù lao Năng Gù

Về nguồn gốc Cù lao Năng Gù, theo tích xưa truyền lại có ông Dương Văn Hóa từ Cần Lố dẫn theo gia nhân đến cù lao Năng Gù khai hoang lập nghiệp, nơi đó thuở ấy trên đất cù lao là những bụi tre gai, đế sậy và có cả thú rừng như Cọp, heo rừng sinh sống. Ngày nay trong sân Đình, bên tay phải có cây Đa (cây Sộp) có cái Miếu, đó là Miếu thờ ông Thần Hổ (Ông Cọp), ngày nay vẫn còn, nhưng biến thành Miếu Thổ Địa, vài chục năm trước có người có con khó nuôi, họ ẩm con đến đó "ký bán cho ông Hổ".


Ông Dương Văn Hóa được dân làng tôn trọng là bậc Tiền Hiền, thờ tự trong Đình Thần, mỗi năm đều có cúng tế ông vào ngày mồng 10 tháng 5 âm lịch. Sau nầy con cháu họ Dương lập một phủ thờ họ Dương, được xây cất trên đất con cháu họ Dương bên cạnh Đình làng.

Trong làng có ngôi chùa Bình Phước Tự nguyên thuộc gia đình ông Dương Văn Tranh, con trai thứ Năm là Dương Văn Nghét là chủ tự, một thời gian có hòa Thượng Thích Phước Quý trụ trì vào thập niên 1950, sau đó HT. Phước Quý viên tịch, nên có anh Dương Văn Bắn làm thủ tự vào thập niên 1960, chùa lợp lá dừng vách lá buông, nay chùa đã tân trang do TT. Thích Giác Minh làm trụ trì từ năm 2002. Ngôi chùa nầy cách Đình làng chừng 500 thước.

Ngày xưa Ban Hội Tề làng có xây cất ngồi chùa làng nằm ở đất của Làng thuộc ấp Bình Thới, cách đường lộ chạy quanh cù lao chừng 200 thước. Ngày nay là Chùa Đông An.

Trước năm 1945 Ban Hội Tề làng Bình Thủy đã lấy tất cả đất Thổ canh và Thổ cư từ Rạch Cát ra tới sông Hậu Giang là đất của làng, ai chiếm canh hàng năm phải đóng thuế cho Công nho của làng để Ban Hội Tề lấy huê lợi trang trải cho chi phí cúng Đình mỗi năm 3 lệ: 21, 22 tháng Giêng, Mồng 9 Mồng 10 tháng Năm và 19, 20 tháng Chạp, tu bổ Đình Thần và những lợi ích công cộng khác.


Đình thần Bình Thủy, phía sau là trường Trung Học Cơ Sở, được xây cất sau 1954, có lẽ vào thập niên 1980. Tôi chưa đến tham quan lần nào, nên không biết Trường ra sao.

Nhìn vào cổng trường, có thể thấi cái Miếu ông Hổ, ngày xưa ông Hổ ấy nhân dân làng tôn xưng là ông xã Cọp. Theo sự tích ông cọp nầy một đêm đã cõng bà mụ Ngũ đi vào giữa cù lao, trong nhừng bụi tre gai, để giúp cho con cọp cái sinh con. Việc sanh đẻ xong cọp còng bà mụ trả về nhà, ba hôm sau cọp tha đến sân nhà bà mụ một con heo nặng cỡ chừng 1 tạ, để đền ơn, gia đình bà mụ xẻ thịt ăn, nhưng dành lại cái đầu heo, đêm đem ra sân kiếng lại ông cọp, sáng ra gia đình bà mụ thấy không còn cái đầu heo, biết ông cọp đã đến nhận, Ban Hội Tề cùng như dân làng nhận thấy trong cù lao có cọp mà con cọp nầy không hề phá phách, ăn thịt heo gà của ai, nên họ làm tờ cử phong cho con cọp đó chức Xả Trương, từ đó dân làng tôn xưng ông là ông xã Cọp, xây một cái Miếu ở gốc cây đa trong sân Đình, hàng năm vào lệ cúng tế, Ban Hội Tề để ở Miếu cái đầu heo và tờ cử, khuya cọp về tha đầu heo và tờ cử mới, cũng mang trả lại tờ cử cũ. Đến ngày nay theo phong tục cái miếu ấy vẫn còn. Dân làng vẫn tôn sùng ông xã Cọp, Vào thập niên 1960, có người do con nhỏ khó nuôi, họ bồng con đến đó thắp nhang, đèn, bài bánh trái, hoa quả ký bán con nhỏ cho Ông Xã Cọp. Họ tin rằng làm như vậy đứa nhỏ dễ nuôi, không bệnh hoạn 

Con gái thứ 4 của Hương Sư Lâm Văn Nguyện là Lâm Thị Hương, trước 1975 chị Hương học ở Long Xuyên rồi xuất thân là Giáo viên dạy ở Trường Tiểu Học Bàn Cờ nằm trong khu Cư Xá Đô Thành, chị lập gia đình sống ở Sàigòn khu Vườn Chuối, Quận 3. Sau 1975, gia đình chị có vượt biên, nhưng không thành công, rồi chị hiến đất cho 1 ni cô lập thành Kỳ Lâm Tự nằm trong giồng đất giữa Rạch Chanh và Rạch Cát.

Trong làng thời Pháp thuộc, có ông quan Phủ Nguyễn Hà Thanh hồi hưu, ông chọn làng tôi để an cư, ông có mua đất từ bờ sông vào tới rạch Chanh (có lẽ xưa kia nước trong rạch có đế, sậy nên bị phèn, nước lợ chua nên dân gian đặt tên là Rạch Chanh, nằm phía Xép Năng Gù), còn con rạch khác chảy từ đầu cù lao, nên nước trong rạch có pha lẫn cát, do đó dân gian đặt tên là Rạch Cát, nằm phía Sông Hậu, trong đất ông Phủ hiến một phần để cất trường làng, nay là Trường Tiểu học A Bình Thủy, phía sau đó lại hiến một lô đất làm nghĩa địa và ông cũng hiến một phần đất xây nên cái Miếu 3 gian, phía sau Miếu là phần mộ của ông và con cháu sau nầy.

Tưởng cũng nói thêm nhà của ông Phủ Nguyễn Hà Thanh ngày nay không còn, nghe cô tôi kể lại nhà ông có lầu, ông họ Đoàn do sự việc “giặc chày vôi” thời Tự Đức, con cháu của “giặc chày vôi” chạy vào trong Nam, phải thay họ, đổi tên.

Nhân tiện cũng nói thêm, bên kia Xép Năng Gù (Xép là con sông nhỏ) là Cù lao Năng Gù (sông Năng Gù - chạy dọc theo Quốc lộ 91 đường Long Xuyên Châu Đốc), đối diện với nhà ông Phủ Nguyễn Hà Thanh bên kia sông là biệt phủ của Thầy Phó Phạm Phú Quý, có hàng rào sắt cập theo lộ 91, hàng rào nầy có 4 cổng ra vào, 2 cổng giữa có lầu, 2 cổng 2 bên xe nhà chạy ra vô được, cổng rào có cẩn gạch hoa nổi, mua từ bên Pháp, nên cổng rào nầy là 10 thì cổng rào nhà Chú Hỏa hay Dinh Độc Lập chỉ bằng 1 mà thôi. Đến năm 1972 người Mỹ sang Việt Nam, mở rộng lộ 91 nên phá cổng rào nầy, được bán lại để xây tường rào cho Bệnh viện Hòa Hảo (Phú Tân).

Thầy Phó Quý (Phó Cai Tổng Phạm Phú Quý) giàu có không thể tưởng, ruộng đất của ông “cò bay thẳng cánh”. Dân chúng vùng đó kính nể ông, nên chỉ gọi là “Thầy Phó” mà thôi. Biệt phủ của ông sau 1945, con cái phải bỏ nhà lên tỉnh Châu Đốc ở lánh nạn, nơi đó bị Lâm Thành Nguyên, Tướng của giáo phái Hòa Hảo lấy làm Trường Đào Tạo Sĩ Quan Hòa Hảo, cũng như Trần Văn Soái có trường Đào Tạo Sĩ Quan ở Cái Vồn.

Vì ruộng đất Thầy Phó rộng lớn nên trong ruộng ông phải đào nhiều con kênh, nên nông dân đạt tên là Kênh Ngang, Kênh Giữa … và ông cũng cho đào một con kênh trổ ra Xép Năng Gù, nên ông phải tự xây cầu đúc trên lộ 91, ngày xưa nó có tên là “Cầu Thầy Phó”, ngày nay nhân viên của Ty Công Cánh An Giang không rành nên ghi là “Cầu Thầy Phó Ký”. Đúng ra phải ghi là “Cầu Thầy Phó Quý”

Nhân đây xin viết luôn, con rạch nầy nước chảy ra Xép Năng Gù cũng là cái hướng đâm thẳng qua Trường tiểu học A Bình Thủy trên cù lao Năng Gù là vùng đất của quan Phủ hồi hưu Nguyễn Hà Thanh, nên ông Nguyễn Hà Thanh cho đào một cái mương từ trong Rạch Chanh cập bên hông nhà ông, đâm thẳng qua biệt phủ của Thầy Phó Quý. Do con kênh và cái mương đó mà nhà ông Phủ về sau con cháu sa sút, gom cây ngói, cất lại một cái nhà gỗ 3 gian lợp ngói trên nền gạch Tàu,  còn nhà Thầy Phó Quý nay chỉ còn cái nền, mặc dù ngày xưa năm 1945 trong phủ thờ, tôi theo mấy anh học trò lớn, chui vào trong đó vẫn còn nguyên cập ngà voi, bộ lư đồng to khắc chạm hình bụi tre bằng bạc, chiếc xe đạp trẻ con màu hường và những cái độc bình to, cao. Mấy anh đó dẫn tôi vào phủ thờ chỉ tìm và lấy pháo chà, rồi chúng tôi leo lên cổng lầu ở hàng rào, lấy cây thước vuông học trò, dộng xuống miếng pháo trên ngạch cửa sổ, kết quả pháo nổ “bốp” còn cây thước của tôi đã tét cả gang tay !

Người ta cho rằng do cái mương Thầy Phó Quý có hướng đâm thẳng qua đất ông Phủ Nguyễn Hà Thanh, nên nhà cửa ông Nguyễn Hà Thanh tiêu tan, có người cháu hút á phiện, nên lén gỡ cửa nhà đi bán, còn cái Mương ông Phủ đâm thẳng qua nhà Thầy Phó, nay những dinh thự trong khu vực nhà nầy, ngày nay đã san thành bình địa. Con cháu hoặc định cư ở Châu Đốc hoặc ở Sàigòn.

Ông Dương Văn Hóa (1723-1818) người gốc ở Cần Lố, Cầu Cần Lố trên Quốc lộ 30 (Km 29+883 QL.30), qua sông Cần Lố, nối thị trấn Mỹ Thọ và xã An Bình (huyện Cao Lãnh - tỉnh Đồng Tháp).

Cầu Cần Lố Effell được xây đựng trước năm 1975, một công trình giao thông chiến lược vào cửa ngõ Cao Lãnh. Sau giải phóng mới làm Cầu mới bằng bê tông cốt thép khá lớn và cao so cầu Cần Lố cũ.

Bộ phim truyện VN Cánh đồng hoang từng quay cảnh nông dân bỏ Đồng Tháp Mười bơi xuống ba lá chạy giặc ở cây cầu này.

Như thế chúng ta biết rằng trước tiên ông Dương Văn Hóa đến Cù lao Năng Gù khai hoang, lập nghiệp. Về sau có ông Phủ Nguyễn Hà Thanh dùng nơi đây an cư sau khi về hưu, hiến đất cho nhà cầm quyền Pháp cất trường, khai hóa dân trí từ đó về sau. Ông Phủ Nguyễn Hà Thanh có người cháu nội là Nguyễn Văn Đe xuất thân từ Ecole Normal de Saigon, tốt nghiệp làm Thầy giáo ở tỉnh Sa Đéc, Long Xuyên rồi về hưu trước năm 1945, có cháu cố là thầy giáo Nguyễn Hoa Hẩu, con của thầy giáo Nguyễn Văn Đe.

Năm 1947, ông Nguyễn Hoa Hẩu lấy trường công mở lớp dạy tư, tôi đã theo học tư với ông, sau khi đã học vở lòng ở trường làng Bình Mỹ, bên kia xép Năng Gù với thầy giáo Lê Văn Thọ, sở dĩ tôi qua sông học vì chú tôi làm Trưởng giáo bên ấy, hàng ngày chú tôi bơi xuồng từ bên Cù lao sang bên kia sông để dạy, hai trường gần như đối diện nhau qua con sông có tên là Xép Năng Gù. 

Năm 1950, đang học tư tôi tự xuống tỉnh Long Xuyên dự thi và đậu bằng Sơ học (tốt nghiệp lớp 3).


Trường làng ngày xưa nhà nước cất, nên gần như giống nhau, mỗi trường có 3 lớp học và một căn phụ bề ngang chừng bằng phân nửa lớp học, để cho Trưởng giáo cư ngụ và giữ gìn Trường. Tuy nhiên trường Bình Mỹ có cái nền cao chừng 1 thước xây bằng đá núi, còn trường Bình Thủy nền cao chừng 1 gang tay mà thôi. Trường Bình Long, Bình Hòa tôi không biết, nhưng đoán chừng cũng giống như Trường Bình Mỳ, Bình Thủy.

Năm sau 1951, trường được nhà nước mở cửa lại dạy lớp Năm, lớp Tư và lớp Ba. Tôi theo học và ngồi lại lớp 3 vì nhà không đủ tiền cho tôi xuống tỉnh học lớp Nhì, do anh tôi đang học lớp Tiếp Liên ở tỉnh, để thi lại vào Trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên.

Năm 1954, cha tôi mất vì bệnh lao, lúc ấy chưa có thuốc Peniciline, năm sau mới có thuốc để trị thì cha tôi đã mất rồi. Trong năm nầy, tôi được lên Châu Đốc ăn ở nhà chú tôi làm thầy giáo Trường Nữ, tôi học lớp Nhì Trường Nam với thầy Lê Quang Điện rồi lên lớp Nhất E học với thầy Châu Văn Tính, thầy dạy giỏi, sau thầy làm Hiệu Trưởng rồi Thanh Tra Tiểu Học.


Thầy Châu Văn Tính và lớp Nhứt E niên khóa 1955-1956, Trường Nam Tiểu Học Châu Đốc

Cũng nhờ có những vị tiền bối khai phá quê hương tôi, nên tôi được học hành tương đối mở mang trí tuệ với xã hội.

Sau khi được miễn thi Tiểu học, tôi dự thi tuyển vào Trung Học Kỹ thuật Cao Thắng với hơn 3 ngàn thí sinh, tôi đậu hạng 132/250 thí sinh Trúng tuyển, nên được chú tôi cho lên Sàigòn theo học Trung học Kỹ thuật Cao Thắng, tôi có học bổng toàn phần 400 đồng/tháng.

Lớp Đệ Nhị A năm 1962

Tốt nghiệp Tú Tài 2 Kỹ thuật Cao Thắng, tôi dự thi tuyển vào Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Phú Thọ, lấy 10 thí sinh chính thức, tôi đậu dự bị hạng 12, đến khi nhập học chỉ có 7 người theo học, sau đó có anh Nguyễn Viết Hoạt được học bổng đi Pháp, nên chỉ còn có 6 người theo học. Học bổng 1000 đồng mỗi tháng.


Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật học tạm tại Trrường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ Sàigòn

Sau 2 năm học, tôi tốt nghiệp ra trường, được phân bổ đi dạy tại Trung học Kỹ thuật U-Út Banmêthuột. Đầu năm 1968 tôi bị động viên đi khóa 27 Sĩ Quan Trừ Bị Trường Bộ Binh Thủ Đức. Tháng 8 năm 1968 ra trường lại được đi học tiếp chuyên môn tại Trường Quân Cụ Gò Vấp theo khóa Quân Cụ Cơ Bản, rồi khóa chuyên môn sửa chữa Quân Xa, Vù Khí. Tháng 5 năm 1969 ra Trường, tôi chọn về vùng IV, được phân bổ về Đại Đội Bảo Toàn, Tiểu Đoàn 21 Tiếp Vận thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Sư Đoàn có bản doanh ở Bạc Liêu, còn Tiểu Đoàn chúng tôi có bản doanh nằm trên đường đi Bãi Sào ở Sóc Trăng. Nay là đưòng Lê Hồng Phong, chỗ đồn trú của chúng tôi nay là nghĩa trang, chỗ cổng chào đi vào thị trấn Mỹ Xuyên (Bãi Xào). Tôi giữ chức Trung Đội Trưởng Sửa Chữa Lưu Động, đóng quân tại thị xã Cà Mau. Đến tháng 7 tôi được chuyển về đơn vị của Tiểu Đoàn, giữ chức Trung Đội Trưởng Hậu Cứ. Đến giữa tháng 9 năm 1969 tôi được biệt phái về dạy học lại ở Trung học Kỳ thuật Banmêthuột.


Chuẩn Úy Quân Cụ

Tại Trung học Kỹ Thuật Banmêthuột tôi được đề bạt làm Phụ tá Học Vụ và Học Sinh Vụ (tương đương Tổng Giám Thị và Giám Học) kiêm Phát ngân viên.

Đến tháng 10 năm 1970, tôi được thuyên chuyển về Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ, địa chỉ 55C Tự Đức Phường Đa Kao, Quận Nhất, Sàigòn.

Giáo sư và nhân viên Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ sau 30/4/1975

Đến tháng 10 năm 1974 tôi được Bộ Giáo Dục và Thanh Niên cử làm Hiệu Trưởng trường nầy và đến tháng 4 năm 1975, miền Nam đứt bóng, sau đó tôi bị đi Học Tập Cải Tạo từ 1975 đến 16-9-1977 được tạm tha. Tháng sau tôi vào làm nhân viên Phòng Thanh Tra Sở Lao Động, Năm sau tôi được chuyển lm nhân viên Phân Viện Thiết Kế thuộc sở Công Nghiệp. Về sau đơn vị nầy cải biến thành Công Ty Trang Bị Kỹ Thuật, tôi được chỉ định làm Trưởng Phòng Thiết Kế, rồi Trưởng Phòng Kinh Tế Kế Hoạch, cho đến tháng 4 năm 1991 tôi rời Tân Sơn Nhất ngày 2-4-1991, đến Bangkok ở 1 tuần, ngày 9 tháng 4 năm 1991 lên máy bay rời Bangkok, đến San Francisco ngày 9-4-1991 và đến Minnosota ngủ 1 đêm, về tới Louisville ngày 10-4-1991, gia đình tôi ở tại đây từ đó, thuộc diện HO.

Ngày đầu tiên dến Louisville, Kentucky 10-4-1991

Tôi đã tốt nghiệp Sư Phạm Kỹ Thuật, học thêm có bằng Cử nhân, đang theo học Cao học thì miền Nam bị đứt bóng, Ra nước ngoài tôi phải lo cho gia đình, nên không thể tiếp tục con đường học vấn.



866418112025









Wednesday, November 5, 2025

Tu sĩ Đức Minh

Khoảng thập niên 1930 có một tu sĩ hiệu Đức Minh tu trên vùng núi Cấm, ngưi ta truyền tụng rằng ông là một vị hoàng tộc của Tây Sơn, sau đó ông lưu lạc về miền Trung và biệt vô âm tín từ đó.

Ở miền Tây, người dân tôn tượng đức Huỳnh Giáo chủ, nhưng có vài nhà lại tôn tượng của ngài Đức Minh, không rõ do chính họ hay do gia đình lưu truyền lại, dù sao cũng là bức ảnh không phải của giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, chứng tỏ gia đình ấy ở trong vùng Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng họ không thuộc hệ phái PGHH.

Cho đến nay cũng trên 50. 60 năm rồi. Tôi không biết những gia đình nầy còn tôn ảnh của ngài Đức Minh nữa hay không ? Có những gia đình tu theo PGHH, nhưng chắc cũng phai nhạt đi nhiều.

Tôi nhớ thời xưa hàng đêm tôi theo cô tôi thắp nhang trong nhà rồi ra bàn Thông Thiên vừa lạy bốn phương vừa đọc kinh thuộc lòng.

Cô tôi mất đã lâu, chừng 30 năm qua rồi, nay tôi theo Phật Giáo chính quy, năm 1958, tôi quy y tại chùa Giác Minh với Hòa Thượng Thích Thanh Thạnh, Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt Tại Miền Nam. Từ đó tôi theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ trong nước trước kia, cũng như ra hải ngoại ngày nay.

Từ năm 1959, tôi là Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Giác Minh, rồi Liên Đoàn Trưởng GĐPT nầy cũng như GĐPT Minh Tâm chùa Phước Hòa. Tôi từng là Tổng Thư Ký Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử GHTGBV Tại MN, sau là GĐPT Miền Vĩnh Nghiêm, trụ sở tại chùa Vĩnh Nghiêm 339 đường Công Lý, nay là Nam Kỳ Khỏi Nghĩa.

Mặc dù tu sĩ Đức Minh ít người biết, nhưng ngài đã để lại trong tôi sự kính ngưỡng sâu sắc, vì từ những ngày thơ ấu của tôi cùng là thời 1945, Việt Nam ta trãi qua một thời kỳ bất ổn, nào là Pháp đô hộ Việt Nam, nào là Việt Minh khởi nghĩa, nào là Hòa Hảo, nào là Quốc Gia. Cuối cùng miền Bắc thống nhất toàn cõi Việt Nam, nhiều người không thích chế độ Cộng sản đã vượt biển, vượt biên sang các Quốc Gia Tự Do để sinh sống.

Thỉnh thoảng về Việt Nam, tôi có đến núi Cấm, leo lên Vồ Bồ Hong, để xem di tích thân phụ tôi ngày xưa đã khắc vào vồ đá hai chữ Hán: Đức Minh và một bài thơ, nhưng ngày nay vật đổi sao đời, nước chảy đá mòn, chữ Đức Minh còn thấy, có thể đọc được, nhưng bài thơ chừ Hán thì không còn nhận ra nét chữ.

Trên Vồ Bồ Hong đó ngày nay người ta còn tôn tượng Ngọc Hoàng, hàng ngày du khách đến viếng khói nhang nghi ngút, hoa quả đủ đầy.

Mọi việc, mọi thứ rồi sẽ đi qua, chính vì vậy mà người đời luôn tôn tượng, ghi dấu nhừng di tích xưa, cho thế hệ mai sau được biết.

866405112025











Friday, October 10, 2025

Công việc của người nông dân ngày trước.

 Để có lúa gạo cho chúng ta ăn người  nông dân phải làm ruộng.

Trước tiên phải cày phá đất, cho lớp đất tốt phơi bày ra ánh nắng và cỏ dại bị đứt gốc rể mà chết đi, không giành sự sống với cây lúa của nhà nông.


Người ta bừa cho đất tơi ra, cỏ dại sè bị đứt gốc rể mà chết.


Sau khi bừa cho đất tơi  ra, người ta sẽ rải hột lúa lên đất, được gọi là xạ lúa.

Sau khi xạ lúa xong, người ta lại bừa thêm lần nữa để đất che dấu hạt lúa lại, không cho chim chóc ăn. 


Cây lúa sẽ phát triển lớn lên trên cánh đồng.

Đến mùa lúa chín, người ta sè gặt lúa,

Đập bó lúa cho hột lúa rời ra.

Ngày nay có máy gặt, đập liên hợp vô bao luôn.

Lấy hột đem về phơi khô rồi xay thành gạo.

Giã gạo cho sạch vỏ lụa, cho được trắng trong

Ngày nay có máy xay lưu động

Hoặc nhà máy có công xuất lớn, xay hàng trăm tấn lúa hàng ngày.


Nhà máy xay lúa ở Cần Thơ Miền Tây Việt Nam

Có gạo, nấu gạo thành cơm chúng ta dùng bữa.

Đó là tất cả những giai đoạn nhà nông vất vả làm ra hạt gạo, thành cơm cho chúng ta ăn, để có đủ sức sống hoạt động, sinh hoạt hàng ngày.

866410102025






 

 

Thursday, October 9, 2025

Trồng dâu nuôi tằm dệt lụa

 Muốn sản xuất tơ lụa, người ta phải trồng dâu


Nuôi tằm

Con Tằm ăn lá dâu

Ươm tơ

Kéo kén

Se sợi


Dệt lụa


Tân Châu ở tỉnh An Giang dệt lụa có tiếng, thành phẩm lụa nhuộm đen có tên là Lãnh Mỹ A sản phâm nầy danh tiếng vì phụ nừ ưa chuộng, vốn là sản phẩm của vùng Tân Châu.

Còn về vải sợi, người ta phải trồng cây bông vải.


Kéo bông thành sợi


Dùng sợi dệt vải


Có lụa, vải chúng ta may áo quần mặc che thân, đấp ấm.

Chúng ta ăn mặc ấm cúng, đẹp đẻ cần phải nhớ ơn những người nông phu trồng dâu, nuôi tằm, trồng cây bông vải và những người thợ dệt, thợ may.

866409102025












Wednesday, October 8, 2025

Hãy sống cho mình

Chúng ta ai cũng nghĩ rằng mình sống cho mình, chúng ta làm để nuôi sống bản thân chúng ta, chúng ta nghĩ vì chúng ta, những điều căn bản đó rất chính xác, rất đúng

Nhưng trên hết, khi nào chúng ta nghĩ ta ăn cho chính ta, ta làm cho chính ta, ta suy vì chính ta. Đó mới chính xác là cho chính ta.

Tuy vậy nhưng trên thực tế rất khó mà sống cho mình bởi vì mỗi người sinh ra đời đều có trước hết là cha mẹ, anh em, cạnh đó là xóm giềng, trên nữa là ông bà là xã hội.

Có những người luôn giúp đỡ những người xung quanh khi những người đó nghèo khó, bệnh tật cần có sự giúp đỡ của người khác. Đó là những việc tốt đáng làm trong xã hội.

Có bài học trong sách giáo khoa khi tôi còn nhỏ được học từ 6, 7 chục năm trước là mỗi người chúng ta sống được là phải nhờ những người nông phu họ trãi nắng dầm mưa, cày cấy để có lúa gạo, thực phẩm cho chúng ta ăn hằng ngày, phải nhờ những người nông phu trồng dâu nuôi tầm, để có những sợi tơ dệt thành những tấm lụa hoặc nhà nông trồng những cây bông vải, có nó dể xe thành sợi, dệt thành những tấm vải, cho chúng ta may áo, may quần. Không có những người đó, chúng ta không có cơm ăn, áo mặc. 

Nói rộng ra, xã hội có nhiều người, mỗi người làm một việc, nhờ đó chúng ta mới có cơm ăn, áo mặc, có phương tiện đi đó đi đây, có giường nệm, mái ấm chăn êm. Ngày nay có điện thoại đem con người lại gần nhau, nói chuyện như đang ở cạnh nhau. Thật là khó tưởng tượng nổi.

Cây bông vải

Ngày nay khoa học, kỹ thuật tiến bộ chúng ta không cần trồng dâu, nuôi tầm, ươm tơ để dệt thành những tấm lụa mới có áo quần để mặc, nhưng chúng ta cũng có vải khác thay thế lụa là, có thể may y phục đẹp và thích hợp với thời đại hơn.

Hãy sống cho chính mình có nghĩa là làm những chi cần thiết cho mình, không cần đến sự khen hay chê của người đời, nhưng luôn phải thích hợp với xã hội, tránh mọi sự rào cản của xã hội vì sự lợi ích chung của mọi người.

Đừng tranh đua với người khác để tránh làm những việc có hại cho xã hội chúng ta đang sống, bởi vì chẳng những làm hại xã hội mà nó cũng sẽ gây tổn hại cho bản thân mình, vì mình là một phần tử của xã hội.

Nhưng trên hết, mỗi cá nhân phải có sự đóng góp cho đời sống xã hội, bởi vì dù muốn dù không chúng ta cũng là một phần tử của xã hội, chúng ta phải có trách nhiệm với xã hội mình đang sống, phải đóng góp một phần của mình để xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Đó cũng là sống cho chính mình vậy.

866408102025






Monday, October 6, 2025

Thư cho người quen

 Anh H.

Người Việt mình có cái bệnh "Thấy ai hơn mình thì ghét", nên tìm cách hạ người đó. Thuở tôi mới qua Mỹ là những đợt HO đầu tiên đến đây và những người "mồ côi" không có ai bảo trợ nên tới đây do hội USCC (United States Catholic Charity) bảo lãnh. (Tôi có bà chị qua đây diện con lai năm 1984, nên chị ấy bảo trợ cho tôi) Có 1 lần ở chùa Từ Ân vào năm kia, có vài người khách ở xa đến, trong đó có bạn tù với tôi ở Kà-tum nên tôi đến đó định rước anh ta về nhà ăn cơm chiều, trong lúc trò chuyện tôi có nói tôi đi học tập 2 năm, 2 tháng 20 ngày nhưng tôi đi theo diện HO. Ông Lê Trọng Dương ngồi bên cạnh tôi liền lên tiếng: "Tôi không biết anh đi diện chi, nhưng không phải HO". Ngay sau đó các anh có chương trình đi thăm chùa Chánh Pháp ở Exit 28 trên I 64, nên sau đó tôi có viết bài Tôi đi Mỹ theo diện HO.

 Tôi từ Việt Nam sang Thái Lan, theo danh sách b..., cùng đi với H06, rời Tân Sơn Nhất ngày 2-4-1991, đến sân bay Bangkok cùng ngày, ký giấy nợ cho chuyến bay, rồi vào nhà tù Bộ Nội Vụ Thái Lan ở 1 tuần, sau đó mới đi Mỹ, lúc ở trong nhà tù Bangkok thì ở chung với anh Hạp và anh ruột anh Hạp, nhưng về đây định cư chỉ có anh Hạp còn anh ruột anh ấy được định cư ở đâu tôi không biết.. Khi về đây ngày 10-4-1991 (do chuyến bay bị trục trặc phải chuyển cảnh ngủ 1 đêm ở Minnosota),  tôi ở nhà do chị tôi thuê sẵn ở tại chung cư Douglass Park (phía sau nhà thờ Saint John Vianney), hôm sau Nguyễn Thanh Tùng, làm cho hội USCC đến cho biết tôi được hưởng diện HO, nay anh Tùng còn nhớ, hôm trước gặp tôi anh còn nhắc.

              Từ trái: A Sang, Tùng, Tông, Hải, Hào, 2 người quay lưng: Lê Trọng Dương, La Diệu Hưng

Năm nào đó, người ta ghét tôi, vu oan cho tôi theo VC khi tôi đang làm Tổng Thư Ký HO còn anh Trần Ngọc Toản làm Chủ tịch sau khi anh Đỗ Nam Kỳ vì sức khỏe nên không ra tranh cử. Tôi từ chức đêm hết hồ sơ giao cho anh Toản và ngồi nói chuyện với anh chừng 1 giờ (vào buổi tối) - Vậy mà người ta vu oan cho tôi là tôi đem hồ sơ giao cho anh Toản rồi bỏ ra về liền ! Tôi với anh Toản vốn không có chuyện chi, tại sao tôi có thái độ đem hồ sơ đưa cho anh Toản rồi bỏ ra về.

Tôi sang đây chùa chiền chưa có, tôi dùng nhà anh Son tổ chức tụng kinh hàng tuần, sau đó mới gầy dựng nên chùa Từ Ân, chùa Chánh Pháp, chùa thầy Thanh Quang, chùa Thầy Hằng Đạt, mỗi chùa ấy bước đầu đều có tôi.


Từ trái: Anh Lê Lợi, Lê Trọng Dương, Nguyễn Văn Thục, Đỗ Nam Kỳ, Trần Văn Hào, Đỗ Xuân Sơn, Đoàn Dự, Nguyễn Thanh Tùng, Trần Ngọc Toản, Lâm Thanh Xuân, anh Hóa
Hoà Thượng Trí Chơn
Hàng quỳ: Chị Hợp, bà Đồ Xuân Sơn, bà Mai

Ở đất Louisville anh Sơn là người ở đây có gốc rể từ lâu, vì gia đình anh Sơn vượt biên qua đây từ trước, nên anh ta quen biết nhiều người, anh ta cũng thuộc loại người không thích ai hơn mình, nhưng tôi vẫn luôn đối xử tốt với anh ta, trước khi anh ta bị đột quỵ vẫn tới nhà thăm tôi, anh em trò chuyện bình thường.

Đỗ Xuân Sơn

 Tôi biết cho đến giờ nầy vẫn có người ganh tỵ, ghét tôi mà tôi không có làm chi xấu đối với họ.

 Trong những người mến tôi phải kể là anh Đỗ Nam Kỳ, Nguyễn Tiến Dũng, Trần Thiện Tùng, Đỗ Văn Năm, những người nầy qua đây trước HO (trừ anh Đỗ Nam Kỳ là HO).

 Anh tôi muốn nói luôn cho anh biết, người ta ghét tôi vì tôi quen biết với những người như Thích Trí Quang, do trước đây giáo sư Nguyễn Văn Hai (1927-2020) từng là Hiệu Trưởng Trường Quốc Học, từng là Giám Đốc Nha Học Chánh Trung Phần, trước đây ông Hai dạy ở JCC (Jefferson County College) có đến nhà tôi chơi vài lần. Thầy Trí Quang và Tuệ Sỹ bà con chú bác và ông Hai cùng quê ở Quảng Bình. Khi tôi làm báo Phật Học, thầy Hai giới thiệu tôi với Thầy Tuệ Sỹ quen biết nhau, để tôi mời thầy Tuệ Sỹ cộng tác viết bài, nhờ đó Thầy Tuệ Sỹ và tôi thân nhau hơn. 

Hồng Dương - Nguyễn Văn Hai (1927-2020)

Với Thầy Tuệ Sỹ chúng tôi quen biết nhau từ khi Thầy Tuệ Sỹ là thị giả của Thích Minh Châu, lúc đó tôi nằm trong Ban Chấp Hành Tổng Hội Sinh Viên, Viện Đại Học Vạn Hạnh (nhiệm kỳ 1964-1965 do Luật sư Trần Tiến Tự làm Chủ tịch và nhiệm kỳ 1965-1966 do chị Cao Ngọc Phượng nay là Sư Bà Chân Không làm Chủ tịch) 

Huỳnh Ái Tông, Vũ Thế Ngọc, Thích Tuệ Sỹ tại Già Lam Gia Định

Hôm đi đám tang anh Đoàn Nhật Tăng, anh ấy và tôi giống nhau cùng sanh năm Tân Tỵ (1941) làm Thế Vì Khai Sinh để có tuổi nhỏ thi vào lớp Đệ Thất  (lớp 6) Trung Học vào thập niên 1950.

Thôi nghe, dài quá làm anh chán đọc.

Chúc vui vẻ

 Huỳnh Ái Tông