Gần đây,
một hôm có việc sắp xếp lại Tử sách gia đình, tìm ít tài liệu, tôi mới có dịp
xem lại những số Bản Tin đầu tiên, mặc
dầu không ghi ngày tháng, nhưng do những sự kiện đã xảy ra, tôi cho rằng Bản Tin đầu tiên của Ái Hữu Gia Đình Phật
Tử Vĩnh Nghiêm Hải Ngoại thường viết tắc là AHVN, đã phát hành vào những tháng
cuối cùng của năm 1991.
Cho rằng
số đầu tiên phát hành vào cuối năm 1991, vì vào ngày 9-4-1991, tôi mới đặt chân
đến xứ tạm dung nầy, trước tiên đặt chân xuống phi trường Seattle, tiểu bang
Washington State, ngủ qua đêm ở khách sạn Holiday Inn tại Minneapolis, sáng sớm
hôm sau đi 2 chuyến bay, một từ Minneapolis tới Saint Louis của tiểu bang
Missourri, rồi từ đây đáp chuyếp bay bằng phi cơ nhỏ khoảng 12 chỗ ngồi, mới về
đến nơi định cư của tôi tại thành phố Louisville, tiểu bang Kentucky.
Sau khi ổn
định chỗ ăn ở, đi làm, liên lạc được một số các anh chị đến Mỹ trước tôi. Chị Hồng
Loan mới gợi ý thành lập Nhóm cựu thành viên Gia Đình Phật Tử Miền Vĩnh Nghiêm
để thắt chặt tình Lam trên xứ người. Được sự khuyến khích của chị Đoàn Thị Kim
Cúc, chúng tôi mạnh dạn liên lạc và kêu gọi anh chị em tham gia vào Nhóm. Có tất
cả 8 thành viên đầu tiên đó là các chị Đoàn Thị Kim Cúc (VA), chị Trần Hồng
Loan (CA), chị Trần Hồng Ngọc (CA) – con gái anh Lạc và chị Loan - chị Lê Thị
Nhung (NJ), chị Nguyền Thị Tuyết Mai (CA), anh Trần Ngọc Lạc (CA), anh Phạm
Minh Tâm (TN), anh Đặng Đình Khiết (VA) và tôi (KY).
Cũng vì
trong Bản Tin đầu tiên có ghi tin anh
Nguyễn Đình Thống sẽ tới Mỹ ngày 23-1-1992, tôi mới định số đầu tiên được gửi
ra vào cuối năm 1991, do những sự kiện vừa kể.
Nhìn lại
số đầu tiên ấy, nó được đánh máy chữ Việt phải dùng viết thêm dấu, gồm có 2
trang, chắc là copy 2 mặt bỏ vào phong bì gửi đi. Các chi phí 1, 2 năm đầu không
là bao nhiêu, cho nên tôi chi trả hết, về sau chị Cúc quyết định, chi Hồng Loan
xuất quỹ trả cho chúng tôi. Đến năm 1995 và 1996, có một thành viên bảo trợ cho
Bản Tin, trả tất cả tiền Copy và tiền
Tem, được đúng 1 năm, 12 số Bản Tin,
thành viên nầy ngưng, không bảo trợ thêm.
Năm 1992,
chị Lê Thị Dung ở Washington DC gia nhập vào Nhóm, lúc đó chị đang làm cho Ngân
hàng Thế Giới (World Bank), chị tình nguyện gõ Computer cho 2 số Bản Tin 03 và 04, thời đó chị vẫn chưa sử
dụng gõ chữ Việt có dấu, do phải gửi đi gửi lại, nên đến Bản Tin số 05 cho đến Bản Tin
số 12, tôi lại dùng máy đánh chữ gõ Bản
Tin, mãi cho đến Bản Tin số 13 dù
không ghi ngày ấn hành nhưng phần cuối Bản
Tin có ghi ngày 19-2-1994. Đến đây, Bản
Tin được gõ vi tính và có đánh dấu chữ Việt hẳn hoi, Đây là Bản Tin được dùng computer do con trai tôi
mua máy mới của HP (Hewlett-Packard), hình như ngày đó ổ cứng chỉ mới có 40 MB,
về sau con tôi nâng lên 700MB, còn software chữ Việt do người quen cài đặt giúp,
do anh ta mua từ Cali với 4 hay 5 cái đĩa 1,44MB.
Khởi đầu từ 1, 2, 3, 4 trang cho đến số 17 mới có ghi ngày ấn
hành mỗi số, sô nầy ấn hành ngày 20-5-1994. Cho đến Bản Tin số 20 mới ấn
hành 4 trang mỗi số và từ Bản Tin số 30, ấn hành ngày 15-12-1994, từ đó mới ấn hành đều
đặng vào ngày 15 mỗi tháng.Đến Bản Tin số 32,ấn hành tháng 2 năm
1996, nâng lên 8 trang cho mỗi số. Tôi phụ trách 11 năm, ấn hành 85 số Bản
Tin, trong đó có vài Bản Tin do anh Ngô Mạnh Thu dàn trang, nhưng sau đó
anh chuyển lại cho tôi tiếp tục.
Cho đến Bản Tin số 86, ấn hành ngày 15-1-2002, chị Tâm Diệu Lê Dương Mỹ được Ban
Chấp Hành AHVN giao cho phụ trách Bản Tin, đã ấn hành 12 trang cho mỗi
số, cứ 2 tháng ấn hành 1 số Bản Tin. Chị Mỹ phụ trách 8 năm, từ năm 2002
cho đến năm 2010, ấn hành được 40 số Bản Tin.
Cho đến Bản Tin số 126, do công việc làm và tình trạng
sức khỏe, chị Lê Dương Mỹ thôi giữ chức Ủy viên Thông Tin và Báo Chí, nên Bản
Tin từ đó do Ban Chấp Hành điều hành, giao nhiệm vụ cho chị Diệu Thu Nguyễn
Thị Tâm phụ trách dàn trang, chị Minh Châu phụ tá, từ số nầy, bìa cho đến nội
dung Bản Tin đẹp hơn và bài vở phong phú hơn, phát hành có năm 1 số, có
năm 4 số, mỗi số trung bình có 32 trang. Chị Tâm và chị Minh Châu trách nhiệm Bản
Tin cho đến số 144 đã được 8 năm, ấn hành được 18 số.
Trong Bản Tin số 39, anh Nguyên Mẫn Lê Viết Lâm,
Chủ tịch Hội đồng Quản Trị Huynh Trưởng GĐPT Úc Đại Lợi (nguyên Đoàn trưởng của anh Tâm Trí Nguyễn Quang Vui), đã viết thư cho người phụ
trách Bản Tin:
“… Tôi vẫn thường xuyên hàng tháng nhận được BẢN TIN của anh gửi
cho. Nếu nhìn một cách chung chung, một nhận định bao quát, chắc có nhiều người
nghĩ rằng có gì khó khăn đâu, chỉ có 8 trang, sơ sài vài bài viết ngắn, vài tin
tức, vài quan điểm v.v… vội phê bình “tầm thường, ai làm mà không được”. Tôi
nghĩ khác, rõ ràng trong cái tầm thường, đơn giản, ngắn gọn bài vở, tin tức ấy
mà nhịp độ thường xuyên ấn hành hàng tháng vẫn liên tục, tấm lòng của Lam viên
càng ngày càng đậm đà, trách nhiệm càng xẻ chia, có được một chút pháp hỷ và
thiền duyệt để sống có ý nghĩa và trọn vẹn, thật là quí hóa vô cùng…” Đó là nhận định và lời khích lệ của bậc đàn anh đã dành cho Bản Tin.
Nhưng tôi
nghĩ rằng cái đáng hãnh diện của Bản Tin
là Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã được khai sinh từ năm 1951 đến nay đã trên 60 năm,
còn nếu kể từ Gia Đình Phật Hóa Phổ thì đã trên 70 năm, tuy có nhiều tờ báo, bản
tin do Gia Đình Phật Tử ấn hành từ cấp Gia Đình cho đến Ban Hướng Dẫn Tỉnh, Miền
hay Trung Ương, chưa có tờ báo hay bản tin nào đã sống liên tục như Bản Tin đã được 27 năm, bên cạnh đó có
Trang nhà Ái Hữu Vĩnh Nghiêm cũng hiện diện vào cuối thập niên 1990 cho đến nay
cũng được 20 năm liên tục.
Thành quả
trên cho phép các thành viên, thân hữu Ái Hữu GĐPT Vĩnh Nghiêm Hải Ngoại đáng tự
hào và cố gắng chung sức gìn giữ truyền thống của chúng ta luôn luôn tinh tấn,
làm cho tốt Đạo, đẹp đời.
Tôi
ít có thì giờ nhàn rỗi để đọc truyện trên mạng hay đọc sách báo, vì nhiều
youtube có lẽ trẻ con, hay là những kẻ còn trẻ đưa lên mạng những youtube đưa
tin nghệ sĩ nầy chết, nghệ sĩ kia chết, đều là những tin bịa đặt chi vậy ? Chẳng
lẽ để nguyền rủa vì thù oán ? Hay là một kế hoạch để người ta không còn tin vào
youtube?
Tuy
nhiên đôi khi tôi cũng xem lướt qua vài youtube, vài bài người ta bỏ lên trên
web hay blog của họ, nhiều khi bạn bè chuyển đến cho đọc.
Lâu
lắm rồi, tôi có xem một youtube, nói về một cô gái trong viện mồ côi, năm 1975
rời Việt Nam sang Mỹ, sau nầy cô tìm về cội nguồn của mình, có nhờ người ở Việt
Nam giúp, khi chiếc lá rụng tìm về đúng cội nguồn của mình thì người mẹ đã chết.
Có
lúc tôi theo dõi cuộc tìm mẹ của ca sĩ hải ngoại Randy, chẳng hạn như bài của
nhà báo Tiểu Vũ sau đây:
Randy lên tiếng bác bỏ thông tin anh
đã tìm được mẹ:
Randy kể rằng, sau khi thành danh ở Mỹ và trở về Việt Nam anh đã
dành rất nhiều thời gian cho việc tìm lại người mẹ ruột của mình. Từ đó đến nay
qua sự giúp đỡ của một số tổ chức cũng như cá nhân, anh đã có hàng trăm cuộc
gặp gỡ trên mọi miền đất nước để tiếp xúc với những người phụ nữ mà có nhiều
khả năng là mẹ ruột của mình. Sau khi sàng lọc những thông tin đáng tin cậy
Randy đã qua 8 cuộc thử ADN với 8 người phụ nữ được cho là mẹ ruột của mình.
Tuy nhiên tất cả những cuộc xét nghiệm ADN đều cho ra kết quả không như mong
muốn. Không có ai trong số những người phụ nữ đã xét nghiệm ADN có trùng huyết
thống với anh cả.
Gần đây nhất là vào tháng 5.2017, có một người phụ nữ quê ở
Quảng Nam tìm gặp anh, trong linh cảm của mình anh thấy người này rất giống mẹ
ruột của mình, Randy rất mừng và hi vọng sẽ kết thúc cuộc tìm kiếm tại đây. Tuy
nhiên sau khi kiểm tra có một số thông tin, Randy nhận thấy có quá nhiều điểm
không trùng khớp, điều này làm anh rất buồn và hụt hẫng. Phía người phụ nữ đi
tìm con bị thất lạc, khi biết Randy không phải là con ruột của mình bà cũng tỏ
ra rất đau buồn, Randy đã an ủi bà rất nhiều.
Randy luôn tâm niệm rằng tình mẫu tử là vô cùng thiêng liêng, có
thể vì một lý do bất khả kháng nào đó mẹ anh đã bỏ rơi mình từ lúc nhỏ, tuy
nhiên trong sâu thẳm từ trái tim của người mẹ và đưa con luôn có một một sợi
dây vô tình ràng buộc không thể nào chia cắt được.
Tính đến thời điểm hiện tại, ca sỹ Randy có hàng trăm cuộc tìm
kiếm và tiếp xúc với nhiều người phụ nữ trong đó có nhiều lần đi xét nghiệm ADN
với những người được cho là mẹ ruột của anh, nhưng tất cả đều không có kết quả
như mong muốn, không có ai trong số đó trùng huyết thống với anh.
“Những thông tin sai lệch nói rằng tôi đã tìm được mẹ không
những làm tổn thương tinh thần của tôi còn ảnh hưởng rất lớn đến việc tôi tìm
lại mẹ ruột của mình. Bởi vì khi đọc được những tin tức như vậy thì chắc chắn
những bà mẹ đang nghĩ tôi con của sẽ không bao giờ tìm đến tôi nữa. Điều đó
đồng nghĩa với việc cơ hội tìm lại mẹ ruột của tôi ngày càng nhỏ lại và đi vào
ngõ cụt - Mọi hi vọng tìm được mẹ đang ngày càng nhỏ lại, tuy nhiên tôi không
bỏ qua bất cứ một cơ hội nào dù nhỏ nhất. Tôi vẫn đang tiếp tục tìm kiếm” –
Randy khẳng định.
Ca sĩ Randy có tên khai sinh là Trần Quốc Tuấn, theo giấy khai
sinh tại cô nhi viện ghi anh sinh ngày 25.1.1971. Sau khi ra đời đúng một tháng
anh được mẹ mang đến cô nhi viên Thánh Tâm tại Đà Nẵng. Có một chi tiết Randy
chắc chắn rằng cái tên Trần Quốc Tuấn là do chính mẹ ruột anh đặt cho mình. Bởi
vì theo quy định tại cô nhi viên Thánh Tâm, khi nhận trẻ mồ côi vào nuôi nhưng
ai chưa được cha mẹ ruột đặt tên đều được cô nhi viện đặt cho tên lót là Bảo, riêng
Randy thì trong khai sinh thì trong khai sinh được ghi là Trần Quốc Tuấn.
Randy lớn lên tại cô nhi viện Thánh Tâm Đà Nẵng đến 5 tuổi thì
được một gia đình ở Cẩm Hà (Hội An) nhận làm con nuôi. Đến năm 1983 sang định
cư tại Mỹ theo chính sách con lại của chính phủ Mỹ, sau đó anh nỗi danh tại
trong cộng đồng người Việt tai đây trong vai trò ca sĩ.
Sau khi thành danh, năm 1990 Randy bắt đầu có chuyến trở về Việt
Nam, từ đó đến nay, cứ mỗi lần về thăm hoặc biểu diễn tại quê hương là hình ảnh
người mẹ trong tâm tưởng luôn hiện diện trong tim mình từng giây từng phút. Cho
đến thời điểm hiện tại, dù mọi thứ gần như mờ mịt, nhưng hi vọng một lần thật
sự gọi lên tiếng “mẹ ơi !” trong anh vẫn chưa bao giờ dừng lại trong suy nghĩ
của anh.
Chính
vì vậy mà tôi bỏ thì giờ xem Youtube: Mẹ ơi con đã về. Độc giả nào chưa xem cũng
nên xem:
Rồi có người quen gửi kèm theo email cho tôi một truyện ngắn của Thạch Lam, tưởng cũng nên đưa
vào đây cho độc giả đọc:
Một
cơn giận
Một buổi tối mùa đông,
chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu
chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta
và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến
riêng của mình.
Anh Thanh, từ nãy đến
giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:
– Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết
hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu
chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.
Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán
nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó
chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế
mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt
hơn.
Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay đằng xa đi lại,
anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi
khi, tôi mặc cả:
– Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
– Thầy cho sáu xu.
– Không, bốn xu là đúng giá rồi.
Tôi vừa nói vừa bước
đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: “Bốn đồng
xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó
chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho
người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
– Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một
quãng xa, anh ta ới gọi:
– Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi.
Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có
cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
– Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lai còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
– Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
– Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra
phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn
cái tay xe.
Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn” cái tên hiệu cũng xứng
đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo
trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân
lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng
ghét anh xe nữa.
– Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
– Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền.
Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
– Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi
quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính
tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe
ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau
một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi.
Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
– Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
– Lạy thầy… thầy nói giúp con… thầy làm ơn…
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt
già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung
động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
– Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần
này bằng tiếng Pháp.
– Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy
hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời
nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe
khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì
người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho
tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
– Tôi đi từ phố hàng Bún.
– Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh
phu xe, cười một cách tinh quái:
– Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi
thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào
lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.
Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta
phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong,
sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ,
nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá
lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi
khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi
yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và
lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.
Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố
hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt
đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.
Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử
tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà
nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu
ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong
một cơn mê.
Người phu xe Dư ở
trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái
cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và
thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
– Bẩm thầy muốn gì?
Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép
một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà
nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn
tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ
rách nát vắt trên xà.
– Bác Dư có nhà không?
– Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi
giảng giải:
– Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì
khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:
– Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
– Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất
với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả
một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh
một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà
nó còn bắt mai phải trả ngay.
Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:
– Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.
– Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:
– Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không
thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với
nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không
biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Tôi yên lặng, trong lòng náo nức.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
– Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không
biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã
nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy
cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.
– Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền
mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại
gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.
Cái cảnh đau thương ấy
làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy
tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai
người nhìn theo ngờ vực.
Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan
con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra
tiếng khóc của hai người đàn bà.
Đứa bé con đã chết.
Anh Thanh lặng yên một
lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:
– Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các
việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một
cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn
trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.
Thạch Lam
Có một youtube nói về một ông lão bán rau, một người phụ nữ ghét
ông ta vì giọng rao hàng, có sự thiên kiến về ông ta, nhưng khi đã biết ông ta
có tấm lòng chung thủy đáng ca ngợi, người phụ nữ nầy đã nhận ra sự sai lầm của
mình, nên cô ta đã thay đổi nhận thức của mình, không nên đánh giá người khác về
bề ngoài, về những thứ do chính mình đặt để cho người khác.
Cho nên mời độc giả xem luôn youtube sau đây, nguyên gốc là 2 câu
chuyện, nhưng tôi đã cắt bỏ một câu chuyện ở trước, chỉ còn lại câu chuyện phần
sau, và tôi đã đặt tên mới là Ông lão bán
rau, mong rằng nó không làm mất thì giờ của quý vị.