Phạm Quốc Bảo.
Lời mở
đầu: Trước hết, xin mạn phép được ghi nhận ở đây rằng kể từ mấy năm nay khi tôi
bước vào lớp tuổi 80, trong những người bạn cũ thường gặp gỡ có hai nhân vật là
anh Đào Ngọc Phong, cùng học ban Triết Tây, và một bạn cùng thời Văn Khoa nhưng
học ban khác là anh Nguyễn Thanh Sơn, người có ký ức về các sự kiện đã qua đặc
biệt nhớ vào chi tiết, đâu vào đó. Cả hai nhân vật này đã thường bổ túc một số
chi tiết để nội dung bài dưới đây được chính xác và phong phú hơn. Trân trọng cảm
ơn.
Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Tư năm 2026, tôi nhận được điện thư
(email) của chị
Phạm Minh Tâm [1] ở bên Úc Đại Lợi gửi qua. Chị vốn là một trong những
thân hữu cũ cùng học tại Văn Khoa Sài Gòn từ mấy năm đầu thập niên 1960. Cho đến
nay, nhóm này họa hiếm chỉ còn lại chừng độ bốn năm người định cư rải rác ở
Pháp - Úc - Hoa Kỳ.
Thi thoảng trong năm khi có một vài sự kiện nào xem ra đánh động
tâm tư tới những vấn đề cần trao đổi, chị Tâm mới liên lạc để chia xẻ với bằng
hữu, trong đó có tôi. Lần này, điện thư của chị có tiêu đề "chữ
nghĩa"; tôi xin chép ra đây mấy ý chính, như một cách mào đầu câu chuyện
mà tôi muốn đề cập tới trong bài này:
"... Email vừa gửi đã quên chia sẻ chút chuyện vui về chữ
nghĩa bên nhà bây giờ: Họ cứ tỉnh bơ theo nhau dùng mà bất phân nghĩa lý. Chẳng
hạn, chữ thập niên và thập kỷ.
- Thập niên là khoảng 10 năm giữa hai mốc thời gian cố định...Chẳng
hạn, thập niên 1990 hay 90 là từ năm 1991 đến năm 1999.
- Thập kỷ là 10 thế kỷ. Từ điển cả Hán lẫn Việt xưa nay đều không
có chữ “thập kỷ” này dùng theo nghĩa là khoảng thời gian 10 năm. Vậy mà bây giờ
người ta khơi khơi bắt chước nhau thành thói quen viết mới, bỏ chữ “thập niên”
thay bằng “thập kỷ”... Anh Phạm Quốc Bảo ơi, nhớ thầy Nghiêm Toản quá. May mà Thầy
không còn để bị chứng kiến cái ông tiến sĩ này giảng
(Hình 01 Thuhuong)
Chữ “hoài” theo ông “giáo mác” này dạy đúng là phải ... bị chửi
hoài-hoài ... (Chú hình của chị Phạm Minh Tâm)
Ngoài ra, tôi cũng mới đọc đâu đó một bài “khảo cứu sưu tầm”, nêu
tên một tác-giả a, b, c, đ... nào đó với danh hiệu “nữ nhà văn” ...Trách gì
cách đây ít lâu có bà Nguyễn Thị Tịnh Thy, nghe nói đang dạy Đại-học Sư-phạm Huế,
đã phải viết bài “Hãy cứu lấy tiếng Việt”...Song thực tế với các loại lãnh đạo
và trí-thức ( kiểu như nêu ở trên) ấy thì trời cứu cũng chẳng được nữa
là!"
* Cọ sát & phản ứng.
Hằng ngày mà đọc được điện thư nào của mấy thân hữu cũ cùng một thời
học với nhau một cách hiếm hoi còn sót lại đến giờ, tôi quý lắm. Lần này cũng vậy,
nhân dịp nhận được điện thư của chị Tâm tôi cũng muốn khề khà , như nhấp một ngụm
trà đậm, để tâm tình thoải mái thổ lộ:
Những sai khác đại loại như hai điểm chị Tâm muốn chia xẻ ở trên,
thực ra tôi nghĩ rằng chị ấy cũng đã chứng kiến quá nhiều lần rồi, bây giờ đến
lúc bực bội quá thì chị phải bật thành cái cớ để gián tiếp thăm hỏi bạn hữu mà
thôi. Có lẽ vậy nên điện thư chị gửi cho tôi mới có nội dung như thế.
Là người tiếp nhận, tôi đồng ý với phương thức và thái độ phản ứng
của chị. Thực ra hiện tượng xử dụng sai khác về chữ nghĩa đại loại như thế đã
thường xuyên xuất hiện liên tục trên mạng lưới truyền thông cả nửa thế kỷ qua,
giữa các cộng đồng người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Nhưng điểm đáng lưu ý ở
đây là thực tế chứng minh rằng những phản ứng xem ra nhiều khi quá gay gắt và
được biểu lộ qua những từ ngữ thô tục đến độ..., cá nhân tôi cho rằng không nên
như vậy: Thứ nhất là chẳng tạo nên được một lợi ích gì cho ai, nếu không muốn
nói là phản ứng như thế chỉ lộ ra những giới hạn về hiểu biết - yếu kém về tư
cách của vị thế người phản ứng; hơn nữa, còn đào sâu thêm hố ngăn cách không thể
giải tỏa nổi trong giao tiếp giữa người với người, nói chung.
Cuộc sống của bất cứ dân cư nào trên thế giới này cũng luôn thường
xuyên sinh động: Mọi sự - mọi vật theo lẽ thường hằng, dù muốn hay không, bắt
buộc phải biến đổi, cả ở không gian lẫn trong thời gian. Rồi khi thay đổi như vậy,
mọi thứ còn được điều chỉnh bằng chính thực tế ứng dụng để có thể tồn tại trong
xã hội và đời sống dân cư, khiến hiện tượng nào không phù hợp, không được đa số
chấp nhận nữa thì sẽ tự khắc thui chột đi, hoặc sẽ trực tiếp lại thay đổi bằng
cách nào đó để có thể lưu trữ lại.
* Được
cớ khêu gợi tâm tình.
Nhưng
có một điểm quan trọng ở đây là cái câu chị Tâm viết: "...nhớ thầy Nghiêm Toản
quá." Một nhắc nhớ gồm chỉ có mấy chữ này nhưng tức khắc trở nên căn cớ đột
nhiên ' bứt dây động rừng' khiến ký ức đã được ấp ủ trong tiềm thức của tôi từ lâu,
bây giờ chúng cứ thế mà liên tiếp bật dậy, linh hoạt - sống động tuôn trào ngập
tràn cả tâm tư của tôi lúc này.
"...thầy
Nghiêm Toản?" Cá nhân tôi thì chỉ được nghe nhắc đến tên thầy chứ chưa hề
được trực tiếp học thầy...Nhưng dù cho tình cờ mà nghe chị ấy nhắc tới tên thầy,
tôi lại như thấy ra rằng chị ấy muốn nhắc đến cả một thời chúng tôi cùng học ở phân
khoa này; trong ấy có cả những năm Dự Bị Văn Khoa lẫn các chứng chỉ như Văn
Chương Quốc Âm và Văn Minh Việt Nam mà thầy Nghiêm Toản là một trong những giáo
sư đã từng giảng dạy ở phân khoa này. Nếu quả như tôi đoán đúng như vừa thổ lộ ở
trên thì niên khóa bắt đầu học ở phân khoa này, ai cũng phải trải qua năm dự bị.
Tôi cũng vậy, không khác. Tôi đã ghi danh theo ban Triết để được chính thức chấp
thuận vào học tập tại trường này... Và tức khắc, tôi nhớ liền đến linh mục
Larre, giáo sư gốc người Pháp. Đặc biệt là ông thầy Larregiảng bằng tiếng Pháp
mà lại được cho dạy Hán văn ở năm dự bị, thời tôi theo học. Và vị phụ tá giáo
sư Larre lại là ông Trần Đức Rật [Nghe nói đúng lúc ấy ông Rật đang được linh mục
Larre đỡ đầu để làm tiểu luận cấp cao học.] Đặc biệt hơn nữa, suốt niên học ấy,
giáo sư Larre chỉ một mực chọn những bài thơ thuộc dòng Đường Thi, suốt từ đời
Tùy cho đến triều đại Thanh bên Trung Hoa để dạy Hán văn!
* Mấy nét chấm phá
Nhưng đấy chỉ là sự hiện mở đầu để ký ức tôi bật ra về những nét
riêng biệt của những vị giáo sư khác mà tôi đã được thụ huấn thời ấy mà hiện
còn đọng lại sắc nét trong kỷ niệm của riêng tôi. Những nét này làm như khi có
dịp va chạm tới thì tự nhiên chợt hiện ra vài chi tiết; có khi chỉ là một hình
tượng đơn giản với vài câu chú thích mà thôi. Chẳng hạn như:
- Cụ Tú Riễm [2], cái lưng cụ đã gù. Cụ thường bước từ xe xích lô đạp
đến đậu ngay trước cửa bước qua thềm là vào tới sảnh đường của khuôn viên trường.
- Hình ảnh vị khoa bảng xưa còn xót lại với trang phục luôn luôn
khăn đống – áo the đen dài của cụ Nghè ( tiến sĩ) Nguyễn Sĩ Giác. Cụ đã được
người con cả (trông thoáng qua chúng tôi tạm đoán ra người con này của cụ còn lớn
tuổi hơn nhiều so với đa số bọn sinh viên nhóc chúng tôi lúc ấy) chở tới trường,
lúc thì bằng xe mobilette, cũng có lúc chỉ bằng xe đạp...
Chưa hết! Ký ức tôi còn lưu trữ những nét khá thú vị và rõ nét về
các vị giáo sư khác nữa. Chẳng hạn:
- Thi sĩ Đông Hồ dạy chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm có dáng dấp thư
sinh nho nhã, bao giờ cũng ăn mặc complê - cravát tề chỉnh và dường như cũng là
một trong những vị giảng viên rất hiếm hồi ấy đến trường bằng xe hơi nhà.
Gia đình ông có một tiệm sách lấy tên là Yểm Yểm Thư Quán. Sinh
viên chúng tôi đến thăm bao giờ cũng phải đợi gần nửa tiếng đồng hồ: Ông bận bộ
quốc phục - áo the - khăn mũ , ra ngồi bàn thấp có sẵn bộ ấm tách trà đâu vào
đó rồi mới chịu tiếp chúng tôi!
- Học giả Vương Hồng Sển dạy chứng chỉ Văn Minh Việt Nam. Ông kể
chuyện về
những kinh nghiệm sống động của đời ông rất hấp dẫn bọn sinh viên
trẻ chúng tôi, đặc biệt là mỗi khi đề cập đến đồ cổ xưa và sách xưa. Ông sống với
vợ là bà Năm Sađéc, một kịch sĩ nổi tiếng thời ấy, tại một nhà vườn rộng xum
xuê cây trái trên đường Lê Quang Định bên Gia Định. Sinh viên thường được mời tới
nhà ông chơi cả ngày, ăn bánh canh giò heo do bà Năm Sa Đéc tự tay nấu đãi, vừa
tản bộ quanh khu vườn vừa nghe ông lan man kể những chuyện thời ông làm thư ký
tòa tỉnh ở miền Nam, hoặc chuyện ông thường gặp may mắn thu thập được nhiều đồ cổ
giá trị không ngờ...
* Những tia sáng chợt lóe lên Tuy nhiên, cũng có những giáo sư khi
được nhắc đến thì chỉ còn sót lại trong ký ức của tôi một vài chi tiết mơ hồ;
nhưng không ít vị lại có những chi tiết vô cùng quan trọng lắng đọng trong trí
nhớ của cá nhân tôi. Chẳng hạn như:
- Giáo sư Trần Văn Toàn đã giảng dạy môn Duy Vật Biện Chứng Thuyết
của Karl
Marx nhưng ông đã sớm rời trường, độ năm 1965 (?) và nghe nói ông
được sang
dạy ở một đại học thuộc quốc gia Ma Rốc (Morocco, phía đông bắc Phi
Châu), rồi
sau đó không trở lại dạy nữa.
- Ở chứng chỉ Triết Trung Hoa, hai vị giáo sư có những chi tiết đặc
biệt mà cá nhân tôi còn nhớ đến tận bây giờ:
Thứ nhất là linh mục Bửu Dưỡng. Nghe nói rằng mấy chục năm trước đấy
vị giáo sư này chuyên giảng dạy các môn luận lý - đạo đức - siêu hình tại các
khóa huấn luyện linh mục trong hệ thống nhà dòng Thiên Chúa giáo. Nhưng thời
tôi học thì linh mục Bửu Dưỡng đặc biệt lại sang dạy sách Đại Học (thuộc bộ Tứ
Thư: Đại Học - Trung Dung - Luận Ngữ - Mạnh Tử). Theo như ông thổ lộ rằng tâm
nguyện ấp ủ từ lâu của ông là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ chúng tôi những suy
tư của ông về nền triết học Đông phương. Chính nhờ tâm tình này mà tôi đã bỏ ra
một niên khóa để lấy thêm 2 chứng chỉ Triết Trung Hoa và Triết Ấn Độ cho có được
cơ hội xin làm cao học Triết Đông Phương.
Thứ nhì là giáo sư Nguyễn Văn Ba. Ông vốn tốt nghiệp bác sĩ tại
Pháp nhưng về sống tại Sài Gòn. Lúc dạy chúng tôi, ông đang làm chủ một tiệm
thuốc bắc (lâu quá rồi tôi quên mất tên tiệm) nằm trên đường Phan Đình Phùng,
khúc giữa hai đường Lê Văn Duyệt và Cao Thắng. Vào độ giữa thập niên 1960, một
khu được phép xây cất thành khu biệt thự gọi là Làng Đại Học tại vùng đất phía
bên trái dọc theo xa lộ Biên Hòa - vừa qua nhà máy xi măng Hà Tiên, nếu đi từ
hướng Gia Định xuống Biên Hòa, thuộc quận ngoại thành Thủ Đức. Vừa qua hai đợt
Việt Cộng xóa giao ước để tấn công (gọi là Tổng tấn công) vào dịp Tết Mậu Thân,
vào khoảng độ tháng năm - tháng sáu gì đấy, năm 1968, trên đường đi dạy học về,
tôi tình cờ gặp thầy Nguyễn Văn Ba đang đứng ngó lơ trước cửa hiệu thuốc bắc mà
ông đã chuyển nhượng lại cho con trai ông làm chủ, từ vài năm trước đó. Tôi vội
dừng xe tạt vào kính cẩn chào thầy. Ông bảo tôi vào uống cà phê với ông tại một
tiệm ăn Tàu cạnh đấy. Khi nghe tôi thắc mắc: Đại khái đã lớn tuổi lại còn đang loạn
lạc mà sao cụ không chịu ở nhà mà lại ra đứng phất phơ giữa nơi phố xá ồn ào
náo nhiệt này? Ông ngần ngừ một lát rồi nhẹ giọng tâm sự rằng phải tạm lánh xuống
ở đây cả tháng rồi vì giáo sư Nguyễn Văn Kiết ( tốt nghiệp cao học Triết ở Sorbonne
- Pháp, đã từng dạy chúng tôi trong chứng chỉ Triết Tây, hiện cũng đang ở trong
cùng khu đại học Thủ Đức) đã ngỏ lời rủ ông cùng bỏ Sài Gòn theo Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam nhân dịp này nhưng ông đã không đồng ý bằng cách chỉ yên lặng mà
né tránh đi xuống ở dưới phố thị Sài Gòn cho yên thân.
20 tháng Năm 2026
Chú giải:
[1] Phạm
Minh Tâm, tác giả cuốn " Còn Ai Giữa Mênh-Mông Đời Mình", Báo Thời Luận
Hoa Kỳ xuất bản năm 2023.
[2]
Theo như tài liệu để lại giải thích, việc thi cử thời quân chủ xưa ở Việt Nam gồm
ba đợt:Thi Hương được tổ chức ở các vùng miền, thí sinh đậu được gọi là Tú Tài.
Thi Hội tại kinh thành, ai qua được là đậu bậc cử nhân. Thi Đình do nhà vua quyết
định cho đậu ba cấp tiến sĩ: Trạng Nguyên - Bảng Nhãn (Nhỡn) - Thám Hoa; sau
này không còn phân cấp như thế nữa, chỉ còn danh hiệu Tiến sĩ và Phó bảng mà
thôi. Chẳng hạn như cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng, một trong những vị chủ trì
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội. Trường hợp có những
thí sinh đi thi mà chỉ đậu tú tài, 2 lần đậu tú tài thì dân gian gọi là ông
"Tú Kép", đi thi 3 lần trở lên mà chỉ đậu được tú tài thì gọi là
"Tú Đụp".
Phạm Quốc
Bảo.
Phạm Quốc Bảo.
Lời mở
đầu: Trước hết, xin mạn phép được ghi nhận ở đây rằng kể từ mấy năm nay khi tôi
bước vào lớp tuổi 80, trong những người bạn cũ thường gặp gỡ có hai nhân vật là
anh Đào Ngọc Phong, cùng học ban Triết Tây, và một bạn cùng thời Văn Khoa nhưng
học ban khác là anh Nguyễn Thanh Sơn, người có ký ức về các sự kiện đã qua đặc
biệt nhớ vào chi tiết, đâu vào đó. Cả hai nhân vật này đã thường bổ túc một số
chi tiết để nội dung bài dưới đây được chính xác và phong phú hơn. Trân trọng cảm
ơn.
Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Tư năm 2026, tôi nhận được điện thư
(email) của chị
Phạm Minh Tâm [1] ở bên Úc Đại Lợi gửi qua. Chị vốn là một trong những
thân hữu cũ cùng học tại Văn Khoa Sài Gòn từ mấy năm đầu thập niên 1960. Cho đến
nay, nhóm này họa hiếm chỉ còn lại chừng độ bốn năm người định cư rải rác ở
Pháp - Úc - Hoa Kỳ.
Thi thoảng trong năm khi có một vài sự kiện nào xem ra đánh động
tâm tư tới những vấn đề cần trao đổi, chị Tâm mới liên lạc để chia xẻ với bằng
hữu, trong đó có tôi. Lần này, điện thư của chị có tiêu đề "chữ
nghĩa"; tôi xin chép ra đây mấy ý chính, như một cách mào đầu câu chuyện
mà tôi muốn đề cập tới trong bài này:
"... Email vừa gửi đã quên chia sẻ chút chuyện vui về chữ
nghĩa bên nhà bây giờ: Họ cứ tỉnh bơ theo nhau dùng mà bất phân nghĩa lý. Chẳng
hạn, chữ thập niên và thập kỷ.
- Thập niên là khoảng 10 năm giữa hai mốc thời gian cố định...Chẳng
hạn, thập niên 1990 hay 90 là từ năm 1991 đến năm 1999.
- Thập kỷ là 10 thế kỷ. Từ điển cả Hán lẫn Việt xưa nay đều không
có chữ “thập kỷ” này dùng theo nghĩa là khoảng thời gian 10 năm. Vậy mà bây giờ
người ta khơi khơi bắt chước nhau thành thói quen viết mới, bỏ chữ “thập niên”
thay bằng “thập kỷ”... Anh Phạm Quốc Bảo ơi, nhớ thầy Nghiêm Toản quá. May mà Thầy
không còn để bị chứng kiến cái ông tiến sĩ này giảng
(Hình 01 Thuhuong)
Chữ “hoài” theo ông “giáo mác” này dạy đúng là phải ... bị chửi
hoài-hoài ... (Chú hình của chị Phạm Minh Tâm)
Ngoài ra, tôi cũng mới đọc đâu đó một bài “khảo cứu sưu tầm”, nêu
tên một tác-giả a, b, c, đ... nào đó với danh hiệu “nữ nhà văn” ...Trách gì
cách đây ít lâu có bà Nguyễn Thị Tịnh Thy, nghe nói đang dạy Đại-học Sư-phạm Huế,
đã phải viết bài “Hãy cứu lấy tiếng Việt”...Song thực tế với các loại lãnh đạo
và trí-thức ( kiểu như nêu ở trên) ấy thì trời cứu cũng chẳng được nữa
là!"
* Cọ sát & phản ứng.
Hằng ngày mà đọc được điện thư nào của mấy thân hữu cũ cùng một thời
học với nhau một cách hiếm hoi còn sót lại đến giờ, tôi quý lắm. Lần này cũng vậy,
nhân dịp nhận được điện thư của chị Tâm tôi cũng muốn khề khà , như nhấp một ngụm
trà đậm, để tâm tình thoải mái thổ lộ:
Những sai khác đại loại như hai điểm chị Tâm muốn chia xẻ ở trên,
thực ra tôi nghĩ rằng chị ấy cũng đã chứng kiến quá nhiều lần rồi, bây giờ đến
lúc bực bội quá thì chị phải bật thành cái cớ để gián tiếp thăm hỏi bạn hữu mà
thôi. Có lẽ vậy nên điện thư chị gửi cho tôi mới có nội dung như thế.
Là người tiếp nhận, tôi đồng ý với phương thức và thái độ phản ứng
của chị. Thực ra hiện tượng xử dụng sai khác về chữ nghĩa đại loại như thế đã
thường xuyên xuất hiện liên tục trên mạng lưới truyền thông cả nửa thế kỷ qua,
giữa các cộng đồng người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Nhưng điểm đáng lưu ý ở
đây là thực tế chứng minh rằng những phản ứng xem ra nhiều khi quá gay gắt và
được biểu lộ qua những từ ngữ thô tục đến độ..., cá nhân tôi cho rằng không nên
như vậy: Thứ nhất là chẳng tạo nên được một lợi ích gì cho ai, nếu không muốn
nói là phản ứng như thế chỉ lộ ra những giới hạn về hiểu biết - yếu kém về tư
cách của vị thế người phản ứng; hơn nữa, còn đào sâu thêm hố ngăn cách không thể
giải tỏa nổi trong giao tiếp giữa người với người, nói chung.
Cuộc sống của bất cứ dân cư nào trên thế giới này cũng luôn thường
xuyên sinh động: Mọi sự - mọi vật theo lẽ thường hằng, dù muốn hay không, bắt
buộc phải biến đổi, cả ở không gian lẫn trong thời gian. Rồi khi thay đổi như vậy,
mọi thứ còn được điều chỉnh bằng chính thực tế ứng dụng để có thể tồn tại trong
xã hội và đời sống dân cư, khiến hiện tượng nào không phù hợp, không được đa số
chấp nhận nữa thì sẽ tự khắc thui chột đi, hoặc sẽ trực tiếp lại thay đổi bằng
cách nào đó để có thể lưu trữ lại.
* Được
cớ khêu gợi tâm tình.
Nhưng
có một điểm quan trọng ở đây là cái câu chị Tâm viết: "...nhớ thầy Nghiêm Toản
quá." Một nhắc nhớ gồm chỉ có mấy chữ này nhưng tức khắc trở nên căn cớ đột
nhiên ' bứt dây động rừng' khiến ký ức đã được ấp ủ trong tiềm thức của tôi từ lâu,
bây giờ chúng cứ thế mà liên tiếp bật dậy, linh hoạt - sống động tuôn trào ngập
tràn cả tâm tư của tôi lúc này.
"...thầy
Nghiêm Toản?" Cá nhân tôi thì chỉ được nghe nhắc đến tên thầy chứ chưa hề
được trực tiếp học thầy...Nhưng dù cho tình cờ mà nghe chị ấy nhắc tới tên thầy,
tôi lại như thấy ra rằng chị ấy muốn nhắc đến cả một thời chúng tôi cùng học ở phân
khoa này; trong ấy có cả những năm Dự Bị Văn Khoa lẫn các chứng chỉ như Văn
Chương Quốc Âm và Văn Minh Việt Nam mà thầy Nghiêm Toản là một trong những giáo
sư đã từng giảng dạy ở phân khoa này. Nếu quả như tôi đoán đúng như vừa thổ lộ ở
trên thì niên khóa bắt đầu học ở phân khoa này, ai cũng phải trải qua năm dự bị.
Tôi cũng vậy, không khác. Tôi đã ghi danh theo ban Triết để được chính thức chấp
thuận vào học tập tại trường này... Và tức khắc, tôi nhớ liền đến linh mục
Larre, giáo sư gốc người Pháp. Đặc biệt là ông thầy Larregiảng bằng tiếng Pháp
mà lại được cho dạy Hán văn ở năm dự bị, thời tôi theo học. Và vị phụ tá giáo
sư Larre lại là ông Trần Đức Rật [Nghe nói đúng lúc ấy ông Rật đang được linh mục
Larre đỡ đầu để làm tiểu luận cấp cao học.] Đặc biệt hơn nữa, suốt niên học ấy,
giáo sư Larre chỉ một mực chọn những bài thơ thuộc dòng Đường Thi, suốt từ đời
Tùy cho đến triều đại Thanh bên Trung Hoa để dạy Hán văn!
* Mấy nét chấm phá
Nhưng đấy chỉ là sự hiện mở đầu để ký ức tôi bật ra về những nét
riêng biệt của những vị giáo sư khác mà tôi đã được thụ huấn thời ấy mà hiện
còn đọng lại sắc nét trong kỷ niệm của riêng tôi. Những nét này làm như khi có
dịp va chạm tới thì tự nhiên chợt hiện ra vài chi tiết; có khi chỉ là một hình
tượng đơn giản với vài câu chú thích mà thôi. Chẳng hạn như:
- Cụ Tú Riễm [2], cái lưng cụ đã gù. Cụ thường bước từ xe xích lô đạp
đến đậu ngay trước cửa bước qua thềm là vào tới sảnh đường của khuôn viên trường.
- Hình ảnh vị khoa bảng xưa còn xót lại với trang phục luôn luôn
khăn đống – áo the đen dài của cụ Nghè ( tiến sĩ) Nguyễn Sĩ Giác. Cụ đã được
người con cả (trông thoáng qua chúng tôi tạm đoán ra người con này của cụ còn lớn
tuổi hơn nhiều so với đa số bọn sinh viên nhóc chúng tôi lúc ấy) chở tới trường,
lúc thì bằng xe mobilette, cũng có lúc chỉ bằng xe đạp...
Chưa hết! Ký ức tôi còn lưu trữ những nét khá thú vị và rõ nét về
các vị giáo sư khác nữa. Chẳng hạn:
- Thi sĩ Đông Hồ dạy chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm có dáng dấp thư
sinh nho nhã, bao giờ cũng ăn mặc complê - cravát tề chỉnh và dường như cũng là
một trong những vị giảng viên rất hiếm hồi ấy đến trường bằng xe hơi nhà.
Gia đình ông có một tiệm sách lấy tên là Yểm Yểm Thư Quán. Sinh
viên chúng tôi đến thăm bao giờ cũng phải đợi gần nửa tiếng đồng hồ: Ông bận bộ
quốc phục - áo the - khăn mũ , ra ngồi bàn thấp có sẵn bộ ấm tách trà đâu vào
đó rồi mới chịu tiếp chúng tôi!
- Học giả Vương Hồng Sển dạy chứng chỉ Văn Minh Việt Nam. Ông kể
chuyện về
những kinh nghiệm sống động của đời ông rất hấp dẫn bọn sinh viên
trẻ chúng tôi, đặc biệt là mỗi khi đề cập đến đồ cổ xưa và sách xưa. Ông sống với
vợ là bà Năm Sađéc, một kịch sĩ nổi tiếng thời ấy, tại một nhà vườn rộng xum
xuê cây trái trên đường Lê Quang Định bên Gia Định. Sinh viên thường được mời tới
nhà ông chơi cả ngày, ăn bánh canh giò heo do bà Năm Sa Đéc tự tay nấu đãi, vừa
tản bộ quanh khu vườn vừa nghe ông lan man kể những chuyện thời ông làm thư ký
tòa tỉnh ở miền Nam, hoặc chuyện ông thường gặp may mắn thu thập được nhiều đồ cổ
giá trị không ngờ...
* Những tia sáng chợt lóe lên Tuy nhiên, cũng có những giáo sư khi
được nhắc đến thì chỉ còn sót lại trong ký ức của tôi một vài chi tiết mơ hồ;
nhưng không ít vị lại có những chi tiết vô cùng quan trọng lắng đọng trong trí
nhớ của cá nhân tôi. Chẳng hạn như:
- Giáo sư Trần Văn Toàn đã giảng dạy môn Duy Vật Biện Chứng Thuyết
của Karl
Marx nhưng ông đã sớm rời trường, độ năm 1965 (?) và nghe nói ông
được sang
dạy ở một đại học thuộc quốc gia Ma Rốc (Morocco, phía đông bắc Phi
Châu), rồi
sau đó không trở lại dạy nữa.
- Ở chứng chỉ Triết Trung Hoa, hai vị giáo sư có những chi tiết đặc
biệt mà cá nhân tôi còn nhớ đến tận bây giờ:
Thứ nhất là linh mục Bửu Dưỡng. Nghe nói rằng mấy chục năm trước đấy
vị giáo sư này chuyên giảng dạy các môn luận lý - đạo đức - siêu hình tại các
khóa huấn luyện linh mục trong hệ thống nhà dòng Thiên Chúa giáo. Nhưng thời
tôi học thì linh mục Bửu Dưỡng đặc biệt lại sang dạy sách Đại Học (thuộc bộ Tứ
Thư: Đại Học - Trung Dung - Luận Ngữ - Mạnh Tử). Theo như ông thổ lộ rằng tâm
nguyện ấp ủ từ lâu của ông là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ chúng tôi những suy
tư của ông về nền triết học Đông phương. Chính nhờ tâm tình này mà tôi đã bỏ ra
một niên khóa để lấy thêm 2 chứng chỉ Triết Trung Hoa và Triết Ấn Độ cho có được
cơ hội xin làm cao học Triết Đông Phương.
Thứ nhì là giáo sư Nguyễn Văn Ba. Ông vốn tốt nghiệp bác sĩ tại
Pháp nhưng về sống tại Sài Gòn. Lúc dạy chúng tôi, ông đang làm chủ một tiệm
thuốc bắc (lâu quá rồi tôi quên mất tên tiệm) nằm trên đường Phan Đình Phùng,
khúc giữa hai đường Lê Văn Duyệt và Cao Thắng. Vào độ giữa thập niên 1960, một
khu được phép xây cất thành khu biệt thự gọi là Làng Đại Học tại vùng đất phía
bên trái dọc theo xa lộ Biên Hòa - vừa qua nhà máy xi măng Hà Tiên, nếu đi từ
hướng Gia Định xuống Biên Hòa, thuộc quận ngoại thành Thủ Đức. Vừa qua hai đợt
Việt Cộng xóa giao ước để tấn công (gọi là Tổng tấn công) vào dịp Tết Mậu Thân,
vào khoảng độ tháng năm - tháng sáu gì đấy, năm 1968, trên đường đi dạy học về,
tôi tình cờ gặp thầy Nguyễn Văn Ba đang đứng ngó lơ trước cửa hiệu thuốc bắc mà
ông đã chuyển nhượng lại cho con trai ông làm chủ, từ vài năm trước đó. Tôi vội
dừng xe tạt vào kính cẩn chào thầy. Ông bảo tôi vào uống cà phê với ông tại một
tiệm ăn Tàu cạnh đấy. Khi nghe tôi thắc mắc: Đại khái đã lớn tuổi lại còn đang loạn
lạc mà sao cụ không chịu ở nhà mà lại ra đứng phất phơ giữa nơi phố xá ồn ào
náo nhiệt này? Ông ngần ngừ một lát rồi nhẹ giọng tâm sự rằng phải tạm lánh xuống
ở đây cả tháng rồi vì giáo sư Nguyễn Văn Kiết ( tốt nghiệp cao học Triết ở Sorbonne
- Pháp, đã từng dạy chúng tôi trong chứng chỉ Triết Tây, hiện cũng đang ở trong
cùng khu đại học Thủ Đức) đã ngỏ lời rủ ông cùng bỏ Sài Gòn theo Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam nhân dịp này nhưng ông đã không đồng ý bằng cách chỉ yên lặng mà
né tránh đi xuống ở dưới phố thị Sài Gòn cho yên thân.
20 tháng Năm 2026
Chú giải:
[1] Phạm
Minh Tâm, tác giả cuốn " Còn Ai Giữa Mênh-Mông Đời Mình", Báo Thời Luận
Hoa Kỳ xuất bản năm 2023.
[2]
Theo như tài liệu để lại giải thích, việc thi cử thời quân chủ xưa ở Việt Nam gồm
ba đợt:Thi Hương được tổ chức ở các vùng miền, thí sinh đậu được gọi là Tú Tài.
Thi Hội tại kinh thành, ai qua được là đậu bậc cử nhân. Thi Đình do nhà vua quyết
định cho đậu ba cấp tiến sĩ: Trạng Nguyên - Bảng Nhãn (Nhỡn) - Thám Hoa; sau
này không còn phân cấp như thế nữa, chỉ còn danh hiệu Tiến sĩ và Phó bảng mà
thôi. Chẳng hạn như cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng, một trong những vị chủ trì
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội. Trường hợp có những
thí sinh đi thi mà chỉ đậu tú tài, 2 lần đậu tú tài thì dân gian gọi là ông
"Tú Kép", đi thi 3 lần trở lên mà chỉ đậu được tú tài thì gọi là
"Tú Đụp".
Phạm Quốc
Bảo.
No comments:
Post a Comment