Pages

Friday, July 24, 2026

Mấy dấu thư hương

Phạm Quốc Bảo.

Lời mở đầu: Trước hết, xin mạn phép được ghi nhận ở đây rằng kể từ mấy năm nay khi tôi bước vào lớp tuổi 80, trong những người bạn cũ thường gặp gỡ có hai nhân vật là anh Đào Ngọc Phong, cùng học ban Triết Tây, và một bạn cùng thời Văn Khoa nhưng học ban khác là anh Nguyễn Thanh Sơn, người có ký ức về các sự kiện đã qua đặc biệt nhớ vào chi tiết, đâu vào đó. Cả hai nhân vật này đã thường bổ túc một số chi tiết để nội dung bài dưới đây được chính xác và phong phú hơn. Trân trọng cảm ơn.

Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Tư năm 2026, tôi nhận được điện thư (email) của chị

Phạm Minh Tâm [1] ở bên Úc Đại Lợi gửi qua. Chị vốn là một trong những thân hữu cũ cùng học tại Văn Khoa Sài Gòn từ mấy năm đầu thập niên 1960. Cho đến nay, nhóm này họa hiếm chỉ còn lại chừng độ bốn năm người định cư rải rác ở

Pháp - Úc - Hoa Kỳ.

Thi thoảng trong năm khi có một vài sự kiện nào xem ra đánh động tâm tư tới những vấn đề cần trao đổi, chị Tâm mới liên lạc để chia xẻ với bằng hữu, trong đó có tôi. Lần này, điện thư của chị có tiêu đề "chữ nghĩa"; tôi xin chép ra đây mấy ý chính, như một cách mào đầu câu chuyện mà tôi muốn đề cập tới trong bài này:

"... Email vừa gửi đã quên chia sẻ chút chuyện vui về chữ nghĩa bên nhà bây giờ: Họ cứ tỉnh bơ theo nhau dùng mà bất phân nghĩa lý. Chẳng hạn, chữ thập niên và thập kỷ.

- Thập niên là khoảng 10 năm giữa hai mốc thời gian cố định...Chẳng hạn, thập niên 1990 hay 90 là từ năm 1991 đến năm 1999.

- Thập kỷ là 10 thế kỷ. Từ điển cả Hán lẫn Việt xưa nay đều không có chữ “thập kỷ” này dùng theo nghĩa là khoảng thời gian 10 năm. Vậy mà bây giờ người ta khơi khơi bắt chước nhau thành thói quen viết mới, bỏ chữ “thập niên” thay bằng “thập kỷ”... Anh Phạm Quốc Bảo ơi, nhớ thầy Nghiêm Toản quá. May mà Thầy không còn để bị chứng kiến cái ông tiến sĩ này giảng

(Hình 01 Thuhuong)

Chữ “hoài” theo ông “giáo mác” này dạy đúng là phải ... bị chửi hoài-hoài ... (Chú hình của chị Phạm Minh Tâm)

Ngoài ra, tôi cũng mới đọc đâu đó một bài “khảo cứu sưu tầm”, nêu tên một tác-giả a, b, c, đ... nào đó với danh hiệu “nữ nhà văn” ...Trách gì cách đây ít lâu có bà Nguyễn Thị Tịnh Thy, nghe nói đang dạy Đại-học Sư-phạm Huế, đã phải viết bài “Hãy cứu lấy tiếng Việt”...Song thực tế với các loại lãnh đạo và trí-thức ( kiểu như nêu ở trên) ấy thì trời cứu cũng chẳng được nữa là!"

* Cọ sát & phản ứng.

Hằng ngày mà đọc được điện thư nào của mấy thân hữu cũ cùng một thời học với nhau một cách hiếm hoi còn sót lại đến giờ, tôi quý lắm. Lần này cũng vậy, nhân dịp nhận được điện thư của chị Tâm tôi cũng muốn khề khà , như nhấp một ngụm trà đậm, để tâm tình thoải mái thổ lộ:

Những sai khác đại loại như hai điểm chị Tâm muốn chia xẻ ở trên, thực ra tôi nghĩ rằng chị ấy cũng đã chứng kiến quá nhiều lần rồi, bây giờ đến lúc bực bội quá thì chị phải bật thành cái cớ để gián tiếp thăm hỏi bạn hữu mà thôi. Có lẽ vậy nên điện thư chị gửi cho tôi mới có nội dung như thế.

Là người tiếp nhận, tôi đồng ý với phương thức và thái độ phản ứng của chị. Thực ra hiện tượng xử dụng sai khác về chữ nghĩa đại loại như thế đã thường xuyên xuất hiện liên tục trên mạng lưới truyền thông cả nửa thế kỷ qua, giữa các cộng đồng người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Nhưng điểm đáng lưu ý ở đây là thực tế chứng minh rằng những phản ứng xem ra nhiều khi quá gay gắt và được biểu lộ qua những từ ngữ thô tục đến độ..., cá nhân tôi cho rằng không nên như vậy: Thứ nhất là chẳng tạo nên được một lợi ích gì cho ai, nếu không muốn nói là phản ứng như thế chỉ lộ ra những giới hạn về hiểu biết - yếu kém về tư cách của vị thế người phản ứng; hơn nữa, còn đào sâu thêm hố ngăn cách không thể giải tỏa nổi trong giao tiếp giữa người với người, nói chung.

Cuộc sống của bất cứ dân cư nào trên thế giới này cũng luôn thường xuyên sinh động: Mọi sự - mọi vật theo lẽ thường hằng, dù muốn hay không, bắt buộc phải biến đổi, cả ở không gian lẫn trong thời gian. Rồi khi thay đổi như vậy, mọi thứ còn được điều chỉnh bằng chính thực tế ứng dụng để có thể tồn tại trong xã hội và đời sống dân cư, khiến hiện tượng nào không phù hợp, không được đa số chấp nhận nữa thì sẽ tự khắc thui chột đi, hoặc sẽ trực tiếp lại thay đổi bằng cách nào đó để có thể lưu trữ lại.

* Được cớ khêu gợi tâm tình.

Nhưng có một điểm quan trọng ở đây là cái câu chị Tâm viết: "...nhớ thầy Nghiêm Toản quá." Một nhắc nhớ gồm chỉ có mấy chữ này nhưng tức khắc trở nên căn cớ đột nhiên ' bứt dây động rừng' khiến ký ức đã được ấp ủ trong tiềm thức của tôi từ lâu, bây giờ chúng cứ thế mà liên tiếp bật dậy, linh hoạt - sống động tuôn trào ngập tràn cả tâm tư của tôi lúc này.

"...thầy Nghiêm Toản?" Cá nhân tôi thì chỉ được nghe nhắc đến tên thầy chứ chưa hề được trực tiếp học thầy...Nhưng dù cho tình cờ mà nghe chị ấy nhắc tới tên thầy, tôi lại như thấy ra rằng chị ấy muốn nhắc đến cả một thời chúng tôi cùng học ở phân khoa này; trong ấy có cả những năm Dự Bị Văn Khoa lẫn các chứng chỉ như Văn Chương Quốc Âm và Văn Minh Việt Nam mà thầy Nghiêm Toản là một trong những giáo sư đã từng giảng dạy ở phân khoa này. Nếu quả như tôi đoán đúng như vừa thổ lộ ở trên thì niên khóa bắt đầu học ở phân khoa này, ai cũng phải trải qua năm dự bị. Tôi cũng vậy, không khác. Tôi đã ghi danh theo ban Triết để được chính thức chấp thuận vào học tập tại trường này... Và tức khắc, tôi nhớ liền đến linh mục Larre, giáo sư gốc người Pháp. Đặc biệt là ông thầy Larregiảng bằng tiếng Pháp mà lại được cho dạy Hán văn ở năm dự bị, thời tôi theo học. Và vị phụ tá giáo sư Larre lại là ông Trần Đức Rật [Nghe nói đúng lúc ấy ông Rật đang được linh mục Larre đỡ đầu để làm tiểu luận cấp cao học.] Đặc biệt hơn nữa, suốt niên học ấy, giáo sư Larre chỉ một mực chọn những bài thơ thuộc dòng Đường Thi, suốt từ đời Tùy cho đến triều đại Thanh bên Trung Hoa để dạy Hán văn!

* Mấy nét chấm phá

Nhưng đấy chỉ là sự hiện mở đầu để ký ức tôi bật ra về những nét riêng biệt của những vị giáo sư khác mà tôi đã được thụ huấn thời ấy mà hiện còn đọng lại sắc nét trong kỷ niệm của riêng tôi. Những nét này làm như khi có dịp va chạm tới thì tự nhiên chợt hiện ra vài chi tiết; có khi chỉ là một hình tượng đơn giản với vài câu chú thích mà thôi. Chẳng hạn như:

- Cụ Tú Riễm [2], cái lưng cụ đã gù. Cụ thường bước từ xe xích lô đạp đến đậu ngay trước cửa bước qua thềm là vào tới sảnh đường của khuôn viên trường.

- Hình ảnh vị khoa bảng xưa còn xót lại với trang phục luôn luôn khăn đống – áo the đen dài của cụ Nghè ( tiến sĩ) Nguyễn Sĩ Giác. Cụ đã được người con cả (trông thoáng qua chúng tôi tạm đoán ra người con này của cụ còn lớn tuổi hơn nhiều so với đa số bọn sinh viên nhóc chúng tôi lúc ấy) chở tới trường, lúc thì bằng xe mobilette, cũng có lúc chỉ bằng xe đạp...

Chưa hết! Ký ức tôi còn lưu trữ những nét khá thú vị và rõ nét về các vị giáo sư khác nữa. Chẳng hạn:

- Thi sĩ Đông Hồ dạy chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm có dáng dấp thư sinh nho nhã, bao giờ cũng ăn mặc complê - cravát tề chỉnh và dường như cũng là một trong những vị giảng viên rất hiếm hồi ấy đến trường bằng xe hơi nhà.

Gia đình ông có một tiệm sách lấy tên là Yểm Yểm Thư Quán. Sinh viên chúng tôi đến thăm bao giờ cũng phải đợi gần nửa tiếng đồng hồ: Ông bận bộ quốc phục - áo the - khăn mũ , ra ngồi bàn thấp có sẵn bộ ấm tách trà đâu vào đó rồi mới chịu tiếp chúng tôi!

- Học giả Vương Hồng Sển dạy chứng chỉ Văn Minh Việt Nam. Ông kể chuyện về

những kinh nghiệm sống động của đời ông rất hấp dẫn bọn sinh viên trẻ chúng tôi, đặc biệt là mỗi khi đề cập đến đồ cổ xưa và sách xưa. Ông sống với vợ là bà Năm Sađéc, một kịch sĩ nổi tiếng thời ấy, tại một nhà vườn rộng xum xuê cây trái trên đường Lê Quang Định bên Gia Định. Sinh viên thường được mời tới nhà ông chơi cả ngày, ăn bánh canh giò heo do bà Năm Sa Đéc tự tay nấu đãi, vừa tản bộ quanh khu vườn vừa nghe ông lan man kể những chuyện thời ông làm thư ký tòa tỉnh ở miền Nam, hoặc chuyện ông thường gặp may mắn thu thập được nhiều đồ cổ giá trị không ngờ...

* Những tia sáng chợt lóe lên Tuy nhiên, cũng có những giáo sư khi được nhắc đến thì chỉ còn sót lại trong ký ức của tôi một vài chi tiết mơ hồ; nhưng không ít vị lại có những chi tiết vô cùng quan trọng lắng đọng trong trí nhớ của cá nhân tôi. Chẳng hạn như:

- Giáo sư Trần Văn Toàn đã giảng dạy môn Duy Vật Biện Chứng Thuyết của Karl

Marx nhưng ông đã sớm rời trường, độ năm 1965 (?) và nghe nói ông được sang

dạy ở một đại học thuộc quốc gia Ma Rốc (Morocco, phía đông bắc Phi Châu), rồi

sau đó không trở lại dạy nữa.

- Ở chứng chỉ Triết Trung Hoa, hai vị giáo sư có những chi tiết đặc biệt mà cá nhân tôi còn nhớ đến tận bây giờ:

Thứ nhất là linh mục Bửu Dưỡng. Nghe nói rằng mấy chục năm trước đấy vị giáo sư này chuyên giảng dạy các môn luận lý - đạo đức - siêu hình tại các khóa huấn luyện linh mục trong hệ thống nhà dòng Thiên Chúa giáo. Nhưng thời tôi học thì linh mục Bửu Dưỡng đặc biệt lại sang dạy sách Đại Học (thuộc bộ Tứ Thư: Đại Học - Trung Dung - Luận Ngữ - Mạnh Tử). Theo như ông thổ lộ rằng tâm nguyện ấp ủ từ lâu của ông là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ chúng tôi những suy tư của ông về nền triết học Đông phương. Chính nhờ tâm tình này mà tôi đã bỏ ra một niên khóa để lấy thêm 2 chứng chỉ Triết Trung Hoa và Triết Ấn Độ cho có được cơ hội xin làm cao học Triết Đông Phương.

Thứ nhì là giáo sư Nguyễn Văn Ba. Ông vốn tốt nghiệp bác sĩ tại Pháp nhưng về sống tại Sài Gòn. Lúc dạy chúng tôi, ông đang làm chủ một tiệm thuốc bắc (lâu quá rồi tôi quên mất tên tiệm) nằm trên đường Phan Đình Phùng, khúc giữa hai đường Lê Văn Duyệt và Cao Thắng. Vào độ giữa thập niên 1960, một khu được phép xây cất thành khu biệt thự gọi là Làng Đại Học tại vùng đất phía bên trái dọc theo xa lộ Biên Hòa - vừa qua nhà máy xi măng Hà Tiên, nếu đi từ hướng Gia Định xuống Biên Hòa, thuộc quận ngoại thành Thủ Đức. Vừa qua hai đợt Việt Cộng xóa giao ước để tấn công (gọi là Tổng tấn công) vào dịp Tết Mậu Thân, vào khoảng độ tháng năm - tháng sáu gì đấy, năm 1968, trên đường đi dạy học về, tôi tình cờ gặp thầy Nguyễn Văn Ba đang đứng ngó lơ trước cửa hiệu thuốc bắc mà ông đã chuyển nhượng lại cho con trai ông làm chủ, từ vài năm trước đó. Tôi vội dừng xe tạt vào kính cẩn chào thầy. Ông bảo tôi vào uống cà phê với ông tại một tiệm ăn Tàu cạnh đấy. Khi nghe tôi thắc mắc: Đại khái đã lớn tuổi lại còn đang loạn lạc mà sao cụ không chịu ở nhà mà lại ra đứng phất phơ giữa nơi phố xá ồn ào náo nhiệt này? Ông ngần ngừ một lát rồi nhẹ giọng tâm sự rằng phải tạm lánh xuống ở đây cả tháng rồi vì giáo sư Nguyễn Văn Kiết ( tốt nghiệp cao học Triết ở Sorbonne - Pháp, đã từng dạy chúng tôi trong chứng chỉ Triết Tây, hiện cũng đang ở trong cùng khu đại học Thủ Đức) đã ngỏ lời rủ ông cùng bỏ Sài Gòn theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nhân dịp này nhưng ông đã không đồng ý bằng cách chỉ yên lặng mà né tránh đi xuống ở dưới phố thị Sài Gòn cho yên thân.

20 tháng Năm 2026

Chú giải:

[1] Phạm Minh Tâm, tác giả cuốn " Còn Ai Giữa Mênh-Mông Đời Mình", Báo Thời Luận Hoa Kỳ xuất bản năm 2023.

[2] Theo như tài liệu để lại giải thích, việc thi cử thời quân chủ xưa ở Việt Nam gồm ba đợt:Thi Hương được tổ chức ở các vùng miền, thí sinh đậu được gọi là Tú Tài. Thi Hội tại kinh thành, ai qua được là đậu bậc cử nhân. Thi Đình do nhà vua quyết định cho đậu ba cấp tiến sĩ: Trạng Nguyên - Bảng Nhãn (Nhỡn) - Thám Hoa; sau này không còn phân cấp như thế nữa, chỉ còn danh hiệu Tiến sĩ và Phó bảng mà thôi. Chẳng hạn như cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng, một trong những vị chủ trì phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội. Trường hợp có những thí sinh đi thi mà chỉ đậu tú tài, 2 lần đậu tú tài thì dân gian gọi là ông "Tú Kép", đi thi 3 lần trở lên mà chỉ đậu được tú tài thì gọi là "Tú Đụp".

Phạm Quốc Bảo.

Phạm Quốc Bảo.

Lời mở đầu: Trước hết, xin mạn phép được ghi nhận ở đây rằng kể từ mấy năm nay khi tôi bước vào lớp tuổi 80, trong những người bạn cũ thường gặp gỡ có hai nhân vật là anh Đào Ngọc Phong, cùng học ban Triết Tây, và một bạn cùng thời Văn Khoa nhưng học ban khác là anh Nguyễn Thanh Sơn, người có ký ức về các sự kiện đã qua đặc biệt nhớ vào chi tiết, đâu vào đó. Cả hai nhân vật này đã thường bổ túc một số chi tiết để nội dung bài dưới đây được chính xác và phong phú hơn. Trân trọng cảm ơn.

Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Tư năm 2026, tôi nhận được điện thư (email) của chị

Phạm Minh Tâm [1] ở bên Úc Đại Lợi gửi qua. Chị vốn là một trong những thân hữu cũ cùng học tại Văn Khoa Sài Gòn từ mấy năm đầu thập niên 1960. Cho đến nay, nhóm này họa hiếm chỉ còn lại chừng độ bốn năm người định cư rải rác ở

Pháp - Úc - Hoa Kỳ.

Thi thoảng trong năm khi có một vài sự kiện nào xem ra đánh động tâm tư tới những vấn đề cần trao đổi, chị Tâm mới liên lạc để chia xẻ với bằng hữu, trong đó có tôi. Lần này, điện thư của chị có tiêu đề "chữ nghĩa"; tôi xin chép ra đây mấy ý chính, như một cách mào đầu câu chuyện mà tôi muốn đề cập tới trong bài này:

"... Email vừa gửi đã quên chia sẻ chút chuyện vui về chữ nghĩa bên nhà bây giờ: Họ cứ tỉnh bơ theo nhau dùng mà bất phân nghĩa lý. Chẳng hạn, chữ thập niên và thập kỷ.

- Thập niên là khoảng 10 năm giữa hai mốc thời gian cố định...Chẳng hạn, thập niên 1990 hay 90 là từ năm 1991 đến năm 1999.

- Thập kỷ là 10 thế kỷ. Từ điển cả Hán lẫn Việt xưa nay đều không có chữ “thập kỷ” này dùng theo nghĩa là khoảng thời gian 10 năm. Vậy mà bây giờ người ta khơi khơi bắt chước nhau thành thói quen viết mới, bỏ chữ “thập niên” thay bằng “thập kỷ”... Anh Phạm Quốc Bảo ơi, nhớ thầy Nghiêm Toản quá. May mà Thầy không còn để bị chứng kiến cái ông tiến sĩ này giảng

(Hình 01 Thuhuong)

Chữ “hoài” theo ông “giáo mác” này dạy đúng là phải ... bị chửi hoài-hoài ... (Chú hình của chị Phạm Minh Tâm)

Ngoài ra, tôi cũng mới đọc đâu đó một bài “khảo cứu sưu tầm”, nêu tên một tác-giả a, b, c, đ... nào đó với danh hiệu “nữ nhà văn” ...Trách gì cách đây ít lâu có bà Nguyễn Thị Tịnh Thy, nghe nói đang dạy Đại-học Sư-phạm Huế, đã phải viết bài “Hãy cứu lấy tiếng Việt”...Song thực tế với các loại lãnh đạo và trí-thức ( kiểu như nêu ở trên) ấy thì trời cứu cũng chẳng được nữa là!"

* Cọ sát & phản ứng.

Hằng ngày mà đọc được điện thư nào của mấy thân hữu cũ cùng một thời học với nhau một cách hiếm hoi còn sót lại đến giờ, tôi quý lắm. Lần này cũng vậy, nhân dịp nhận được điện thư của chị Tâm tôi cũng muốn khề khà , như nhấp một ngụm trà đậm, để tâm tình thoải mái thổ lộ:

Những sai khác đại loại như hai điểm chị Tâm muốn chia xẻ ở trên, thực ra tôi nghĩ rằng chị ấy cũng đã chứng kiến quá nhiều lần rồi, bây giờ đến lúc bực bội quá thì chị phải bật thành cái cớ để gián tiếp thăm hỏi bạn hữu mà thôi. Có lẽ vậy nên điện thư chị gửi cho tôi mới có nội dung như thế.

Là người tiếp nhận, tôi đồng ý với phương thức và thái độ phản ứng của chị. Thực ra hiện tượng xử dụng sai khác về chữ nghĩa đại loại như thế đã thường xuyên xuất hiện liên tục trên mạng lưới truyền thông cả nửa thế kỷ qua, giữa các cộng đồng người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Nhưng điểm đáng lưu ý ở đây là thực tế chứng minh rằng những phản ứng xem ra nhiều khi quá gay gắt và được biểu lộ qua những từ ngữ thô tục đến độ..., cá nhân tôi cho rằng không nên như vậy: Thứ nhất là chẳng tạo nên được một lợi ích gì cho ai, nếu không muốn nói là phản ứng như thế chỉ lộ ra những giới hạn về hiểu biết - yếu kém về tư cách của vị thế người phản ứng; hơn nữa, còn đào sâu thêm hố ngăn cách không thể giải tỏa nổi trong giao tiếp giữa người với người, nói chung.

Cuộc sống của bất cứ dân cư nào trên thế giới này cũng luôn thường xuyên sinh động: Mọi sự - mọi vật theo lẽ thường hằng, dù muốn hay không, bắt buộc phải biến đổi, cả ở không gian lẫn trong thời gian. Rồi khi thay đổi như vậy, mọi thứ còn được điều chỉnh bằng chính thực tế ứng dụng để có thể tồn tại trong xã hội và đời sống dân cư, khiến hiện tượng nào không phù hợp, không được đa số chấp nhận nữa thì sẽ tự khắc thui chột đi, hoặc sẽ trực tiếp lại thay đổi bằng cách nào đó để có thể lưu trữ lại.

* Được cớ khêu gợi tâm tình.

Nhưng có một điểm quan trọng ở đây là cái câu chị Tâm viết: "...nhớ thầy Nghiêm Toản quá." Một nhắc nhớ gồm chỉ có mấy chữ này nhưng tức khắc trở nên căn cớ đột nhiên ' bứt dây động rừng' khiến ký ức đã được ấp ủ trong tiềm thức của tôi từ lâu, bây giờ chúng cứ thế mà liên tiếp bật dậy, linh hoạt - sống động tuôn trào ngập tràn cả tâm tư của tôi lúc này.

"...thầy Nghiêm Toản?" Cá nhân tôi thì chỉ được nghe nhắc đến tên thầy chứ chưa hề được trực tiếp học thầy...Nhưng dù cho tình cờ mà nghe chị ấy nhắc tới tên thầy, tôi lại như thấy ra rằng chị ấy muốn nhắc đến cả một thời chúng tôi cùng học ở phân khoa này; trong ấy có cả những năm Dự Bị Văn Khoa lẫn các chứng chỉ như Văn Chương Quốc Âm và Văn Minh Việt Nam mà thầy Nghiêm Toản là một trong những giáo sư đã từng giảng dạy ở phân khoa này. Nếu quả như tôi đoán đúng như vừa thổ lộ ở trên thì niên khóa bắt đầu học ở phân khoa này, ai cũng phải trải qua năm dự bị. Tôi cũng vậy, không khác. Tôi đã ghi danh theo ban Triết để được chính thức chấp thuận vào học tập tại trường này... Và tức khắc, tôi nhớ liền đến linh mục Larre, giáo sư gốc người Pháp. Đặc biệt là ông thầy Larregiảng bằng tiếng Pháp mà lại được cho dạy Hán văn ở năm dự bị, thời tôi theo học. Và vị phụ tá giáo sư Larre lại là ông Trần Đức Rật [Nghe nói đúng lúc ấy ông Rật đang được linh mục Larre đỡ đầu để làm tiểu luận cấp cao học.] Đặc biệt hơn nữa, suốt niên học ấy, giáo sư Larre chỉ một mực chọn những bài thơ thuộc dòng Đường Thi, suốt từ đời Tùy cho đến triều đại Thanh bên Trung Hoa để dạy Hán văn!

* Mấy nét chấm phá

Nhưng đấy chỉ là sự hiện mở đầu để ký ức tôi bật ra về những nét riêng biệt của những vị giáo sư khác mà tôi đã được thụ huấn thời ấy mà hiện còn đọng lại sắc nét trong kỷ niệm của riêng tôi. Những nét này làm như khi có dịp va chạm tới thì tự nhiên chợt hiện ra vài chi tiết; có khi chỉ là một hình tượng đơn giản với vài câu chú thích mà thôi. Chẳng hạn như:

- Cụ Tú Riễm [2], cái lưng cụ đã gù. Cụ thường bước từ xe xích lô đạp đến đậu ngay trước cửa bước qua thềm là vào tới sảnh đường của khuôn viên trường.

- Hình ảnh vị khoa bảng xưa còn xót lại với trang phục luôn luôn khăn đống – áo the đen dài của cụ Nghè ( tiến sĩ) Nguyễn Sĩ Giác. Cụ đã được người con cả (trông thoáng qua chúng tôi tạm đoán ra người con này của cụ còn lớn tuổi hơn nhiều so với đa số bọn sinh viên nhóc chúng tôi lúc ấy) chở tới trường, lúc thì bằng xe mobilette, cũng có lúc chỉ bằng xe đạp...

Chưa hết! Ký ức tôi còn lưu trữ những nét khá thú vị và rõ nét về các vị giáo sư khác nữa. Chẳng hạn:

- Thi sĩ Đông Hồ dạy chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm có dáng dấp thư sinh nho nhã, bao giờ cũng ăn mặc complê - cravát tề chỉnh và dường như cũng là một trong những vị giảng viên rất hiếm hồi ấy đến trường bằng xe hơi nhà.

Gia đình ông có một tiệm sách lấy tên là Yểm Yểm Thư Quán. Sinh viên chúng tôi đến thăm bao giờ cũng phải đợi gần nửa tiếng đồng hồ: Ông bận bộ quốc phục - áo the - khăn mũ , ra ngồi bàn thấp có sẵn bộ ấm tách trà đâu vào đó rồi mới chịu tiếp chúng tôi!

- Học giả Vương Hồng Sển dạy chứng chỉ Văn Minh Việt Nam. Ông kể chuyện về

những kinh nghiệm sống động của đời ông rất hấp dẫn bọn sinh viên trẻ chúng tôi, đặc biệt là mỗi khi đề cập đến đồ cổ xưa và sách xưa. Ông sống với vợ là bà Năm Sađéc, một kịch sĩ nổi tiếng thời ấy, tại một nhà vườn rộng xum xuê cây trái trên đường Lê Quang Định bên Gia Định. Sinh viên thường được mời tới nhà ông chơi cả ngày, ăn bánh canh giò heo do bà Năm Sa Đéc tự tay nấu đãi, vừa tản bộ quanh khu vườn vừa nghe ông lan man kể những chuyện thời ông làm thư ký tòa tỉnh ở miền Nam, hoặc chuyện ông thường gặp may mắn thu thập được nhiều đồ cổ giá trị không ngờ...

* Những tia sáng chợt lóe lên Tuy nhiên, cũng có những giáo sư khi được nhắc đến thì chỉ còn sót lại trong ký ức của tôi một vài chi tiết mơ hồ; nhưng không ít vị lại có những chi tiết vô cùng quan trọng lắng đọng trong trí nhớ của cá nhân tôi. Chẳng hạn như:

- Giáo sư Trần Văn Toàn đã giảng dạy môn Duy Vật Biện Chứng Thuyết của Karl

Marx nhưng ông đã sớm rời trường, độ năm 1965 (?) và nghe nói ông được sang

dạy ở một đại học thuộc quốc gia Ma Rốc (Morocco, phía đông bắc Phi Châu), rồi

sau đó không trở lại dạy nữa.

- Ở chứng chỉ Triết Trung Hoa, hai vị giáo sư có những chi tiết đặc biệt mà cá nhân tôi còn nhớ đến tận bây giờ:

Thứ nhất là linh mục Bửu Dưỡng. Nghe nói rằng mấy chục năm trước đấy vị giáo sư này chuyên giảng dạy các môn luận lý - đạo đức - siêu hình tại các khóa huấn luyện linh mục trong hệ thống nhà dòng Thiên Chúa giáo. Nhưng thời tôi học thì linh mục Bửu Dưỡng đặc biệt lại sang dạy sách Đại Học (thuộc bộ Tứ Thư: Đại Học - Trung Dung - Luận Ngữ - Mạnh Tử). Theo như ông thổ lộ rằng tâm nguyện ấp ủ từ lâu của ông là truyền đạt lại cho thế hệ trẻ chúng tôi những suy tư của ông về nền triết học Đông phương. Chính nhờ tâm tình này mà tôi đã bỏ ra một niên khóa để lấy thêm 2 chứng chỉ Triết Trung Hoa và Triết Ấn Độ cho có được cơ hội xin làm cao học Triết Đông Phương.

Thứ nhì là giáo sư Nguyễn Văn Ba. Ông vốn tốt nghiệp bác sĩ tại Pháp nhưng về sống tại Sài Gòn. Lúc dạy chúng tôi, ông đang làm chủ một tiệm thuốc bắc (lâu quá rồi tôi quên mất tên tiệm) nằm trên đường Phan Đình Phùng, khúc giữa hai đường Lê Văn Duyệt và Cao Thắng. Vào độ giữa thập niên 1960, một khu được phép xây cất thành khu biệt thự gọi là Làng Đại Học tại vùng đất phía bên trái dọc theo xa lộ Biên Hòa - vừa qua nhà máy xi măng Hà Tiên, nếu đi từ hướng Gia Định xuống Biên Hòa, thuộc quận ngoại thành Thủ Đức. Vừa qua hai đợt Việt Cộng xóa giao ước để tấn công (gọi là Tổng tấn công) vào dịp Tết Mậu Thân, vào khoảng độ tháng năm - tháng sáu gì đấy, năm 1968, trên đường đi dạy học về, tôi tình cờ gặp thầy Nguyễn Văn Ba đang đứng ngó lơ trước cửa hiệu thuốc bắc mà ông đã chuyển nhượng lại cho con trai ông làm chủ, từ vài năm trước đó. Tôi vội dừng xe tạt vào kính cẩn chào thầy. Ông bảo tôi vào uống cà phê với ông tại một tiệm ăn Tàu cạnh đấy. Khi nghe tôi thắc mắc: Đại khái đã lớn tuổi lại còn đang loạn lạc mà sao cụ không chịu ở nhà mà lại ra đứng phất phơ giữa nơi phố xá ồn ào náo nhiệt này? Ông ngần ngừ một lát rồi nhẹ giọng tâm sự rằng phải tạm lánh xuống ở đây cả tháng rồi vì giáo sư Nguyễn Văn Kiết ( tốt nghiệp cao học Triết ở Sorbonne - Pháp, đã từng dạy chúng tôi trong chứng chỉ Triết Tây, hiện cũng đang ở trong cùng khu đại học Thủ Đức) đã ngỏ lời rủ ông cùng bỏ Sài Gòn theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nhân dịp này nhưng ông đã không đồng ý bằng cách chỉ yên lặng mà né tránh đi xuống ở dưới phố thị Sài Gòn cho yên thân.

20 tháng Năm 2026

Chú giải:

[1] Phạm Minh Tâm, tác giả cuốn " Còn Ai Giữa Mênh-Mông Đời Mình", Báo Thời Luận Hoa Kỳ xuất bản năm 2023.

[2] Theo như tài liệu để lại giải thích, việc thi cử thời quân chủ xưa ở Việt Nam gồm ba đợt:Thi Hương được tổ chức ở các vùng miền, thí sinh đậu được gọi là Tú Tài. Thi Hội tại kinh thành, ai qua được là đậu bậc cử nhân. Thi Đình do nhà vua quyết định cho đậu ba cấp tiến sĩ: Trạng Nguyên - Bảng Nhãn (Nhỡn) - Thám Hoa; sau này không còn phân cấp như thế nữa, chỉ còn danh hiệu Tiến sĩ và Phó bảng mà thôi. Chẳng hạn như cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng, một trong những vị chủ trì phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội. Trường hợp có những thí sinh đi thi mà chỉ đậu tú tài, 2 lần đậu tú tài thì dân gian gọi là ông "Tú Kép", đi thi 3 lần trở lên mà chỉ đậu được tú tài thì gọi là "Tú Đụp".

Phạm Quốc Bảo.

No comments:

Post a Comment