Pages

Wednesday, April 27, 2016

Lê Yên






(1917-1998)

Nhạc sĩ Lê Yên tên thật là Lê Đình Yên sinh ngày 30 tháng 7 năm 1917 tại Đông Yên, Quốc Oai, Sơn Tây nay thuộc Hà Nội. Ông tự học nhạc từ khi 14, 15 tuổi và biết kéo violon, violoncelle để tham gia vào các ban nhạc tài tử lúc đó, trình tấu nhạc cổ điển.

Lê Yên thuộc nhóm Tricéa cùng với Văn Chung và Doãn Mẫn. Họ cùng nhau chơi nhạc và bắt đầu sáng tác khi tân nhạc chưa chính thức hình thành. Lê Yên viết những ca khúc đầu tay Vườn xuân, Một ngày vui khi 18 tuổi, vào năm 1935.

Năm 1935 ông viết bản Bẽ bàng, năm 1937 viết Xuân nghệ sĩ hành khúc và 1945 bài Ngựa phi đường xa. Những nhạc phẩm này vẫn được các ca sĩ của Sài Gòn trước 1975 trình diễn. Ngựa phi đường xa là một trong những ca khúc ban Thăng Long trình bày được khán giả yêu thích nhất.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Lê Yên có những ca khúc với nội dung mới mẻ Đoàn kỵ binh Việt Nam, Trận Đoan Hùng (1949), Bộ đội về làng (1950). Trong đó Bộ đội về làng được xem như một trong những sáng tác thành công của ông. Lê Yên còn phổ thơ cho nhiều bài như Nhớ thơ Thanh Hải, Kể vè tướng Mỹ thơ Tạ Hữu Yên, Ai về Hà Bắc quê ta thơ Phùng Quốc Thụy...

Ngoài lĩnh vực ca khúc, Lê Yên sáng tác nhạc cho sân khấu. Ông đã viết nhạc cho hàng chục vở tuồng, chèo, cải lương và đã bỏ nhiều công sức trong việc tìm tòi, nghiên cứu những sự thể hiện cũng như hình thành các mô hình âm nhạc cho sân khấu dân tộc. Một số vở được Lê Yên viết nhạc nổi tiếng như Cô gái Kinh Bắc đoạt huy chương vàng Hội diễn nghệ thuật toàn quốc 1985, Âm vang trống đồng (1984). Ngoài ra ông còn viết nhạc cho một số bộ phim như Câu chuyện làng Vũ Đại, Bài ca trên vách đá...

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Lê Yên có sang học âm nhạc tại Liên Xô. Ông cũng là một trong những giảng viên đầu tiên của trường Âm nhạc Việt Nam, nay là Nhạc viện Hà Nội. Ngoài công việc sáng tác và giảng dạy, ông còn là một nhà nghiên cứu lý luận với nhiều tham luận về âm nhạc cho sân khấu truyền thống, viết các sách Kinh nghiệm phổ thơ, Đô rê mi tự học viết chung với La Thăng... góp phần phổ cập âm nhạc cho quần chúng và đào tạo nhiều thế hệ nhạc sĩ Việt.

Trong Khái quát về tân nhạc Việt Nam. Thời kỳ thành lập (1938-45). Phạm Duy đã viết về nhạc sĩ Lê Yên:

Nhạc tình của Lê Yên sẽ luôn luôn theo nhạc pháp tây phương, còn tứ nhạc thì cũng không ra ngoài chủ đề nhạc tình cảm. Nhưng nhạc Lê Yên không thể buồn sâu sắc được vì tính hiếu động của chàng thanh niên nghịch ngợm mang tên Lê Yên. Tôi không được quen biết Lê Yên nhiều, chỉ gặp ông vài lần để hiểu ông là con người rất nhanh nhẹn, rất thông minh, rất bén nhạy, và không phải là người soạn nhạc tình thâm trầm. Sở trường của Lê Yên là nhạc vui, chẳng hạn bài Nghệ Sĩ HànhKhúc soạn theo thể pasodoble và bài Ngựa Phi Ðường Xa mà ban Thăng Long đã coi như bản nhạc dễ khích động khán thính giả nhất, trong do Lê Yên cho ta thấy cái tài soạn Tân Nhạc có tiết điệu nhanh nhẹn, một nhạc tính mà ta ít thấy trong nhạc Việt Nam vào thời đó.

Ông qua đời ngày 15 tháng 11 năm 1998 tại Hà Nội. Thọ 81 tuổi.

Năm 2007, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Nhạc phẩm:

- Bẽ bàng
- Bộ đội về làng
- Đoàn kỵ binh Việt Nam
- Một ngày vui
- Ngựa phi đường xa
- Trận Đoan Hùng
- Vườn xuân
- Xuân nghệ sĩ hành khúc

Tài liệu tham khảo:

- Lê Yên Web: Wikipedia
- Phạm Duy Khái quát v
ề tân nhạc Việt Nam Web: phamduy.com

Nhạc phẩm Ngựa phi đường xa, Ban Hợp ca Thăng Long trình bày

https://www.youtube.com/watch?v=wWyz3k0LYhg




Tuesday, April 26, 2016

Thẩm Oánh




(1916-1996)

Nhạc sĩ Thẩm Oánh tên thật là Thẩm Ngọc Oánh, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1916 trong một gia đình trung lưu ở Hà Nội. Thuở nhỏ học nhạc qua sách viết bằng tiếng Pháp.

Khi học xong bậc trung học tại các trường Clémenceaux, Albert Sarrault và Puginier ở Hà Nội, ông bắt đầu dạy nhạc từ năm 1934, khi mới 18 tuổi, tại các trường trung học Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Trưng Vương. 

Tuy số tác phẩm của ông lên tới tới con số trên 1000, nhưng ông chỉ cho phổ biến vài chục bài đắc ý nhất, sáng tác dưới những đề tài chính là:

- Nhạc anh hùng ca
- Nhạc Phật giáo
- Nhạc nhi đồng
- Nhạc tình cảm

Năm 1943, ông là sáng lập viên cũng là Chủ bút tờ Việt Nhạc, trước đó ông đã viết bài đăng trên tạp chí Việt Báo và tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy.

Năm 1945, ông thành lập đài phát thanh Hà Nội, thay cho đài của Pháp trước đó và là Trưởng ban Việt Nhạc của đài. 

Năm 1948, Thẩm Oánh thành hôn với cô Tô Anh Đào nhạc sĩ dương cầm, do gia đình theo đạo Phật nên đã làm lễ Hằng Thuận tại chùa Quán Sứ Hà Nội. Đây là đám cưới đầu tiên của người Việt tổ chức theo nghi lễ Phật Giáo.

Theo nhạc s ĩ Nguyễn Hiền cho biết, nhạc sĩ Thẩm Oánh từng sửa lời Quốc ca hai miền Nam Bắc Việt Nam do Văn Cao và Lưu Hữu Phước sáng tác.

Năm 1954, gia đình ông di cư vào Nam, ông làm Chủ sự phòng Văn nghệ và Ngoại ngữ Đài phát thanh Sàigòn, cho đến năm 1961.

Năm 1955, ông giữ chức Giám đốc trường Ca-vũ-nhạc phổ thông Sài Gòn cho đến khi trường đóng cửa năm 1958. tài tử Thẩm Thúy Hằng tên thật là Nguyễn Thị Minh Phụng theo học trường nầy, nên đã lấy họ Thẩm của ông làm họ của nghệ danh nầy. 

Năm 1991, Thẩm Oánh cùng gia đình sang định cư tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

Vào tháng 4 năm 1993, Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương vùng Hoa Thịnh Đốn đã tổ chức một đại nhạc hội với chủ đề 60 Năm Âm Nhạc Thẩm Oánh. Đồng thời đã cho phát hành tuyển tập Nhớ Nhung để vinh danh một nhạc sĩ đã tận tụy đóng góp cho nền tân nhạc Viết Nam và cũng để tri ân một vị giáo sư đã giảng dạy âm nhạc nhiều năm tại các trường Trưng Vương, Chu Văn An và Nguyễn Trãi.

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết về nhạc sĩ Thẩm Oánh:
 
Là người tha thiết với đất nước dân tộc, Thẩm Oánh đã viết nhiều ca khúc để đời như “Việt Nam Hùng Tiến” được dùng làm đài hiệu cho đài phát thanh Hà-Nội và Saigon, “Nhà Việt nam”, “Trưng Nữ Vương”, “Chu Văn An Hành Khúc”, “Thiếu Phụ Nam Xương”v.v...

Nhạc sĩ Thẩm Oánh đã mãn phần ngày 10 tháng 1 năm 1996 tại Virginia, Mỹ. Thọ 80 tuổi.

Nhạc phẩm:
 
- Bình Định Vương
- Chu Văn An hành khúc
- Cô hàng hoa
- Chiều hè
- Chiều tưởng nhớ
- Chim gió tha phương
- Giấc Hoàng Lương
- Gió hoang ca
- Gươm thần
- Hồ xuân
- Hồn xuân
- Hương cốm
- Hưng Đạo Vương
- Khúc yêu đương
- Mưa khuya
- Ngàn cánh chim về
- Người trai Việt nhớ chăng?
- Nhà nông
- Nhà Việt Nam
- Nhạc thu
- Nhạc xuân
- Nhớ nhung
- Suối huyền
- Thời chinh chiến
- Thiếu phụ Nam Xương
- Trưng Nữ Vương
- Tiền
- Trên mây
- Tôi bán đường tơ
- Việt Nam hùng tiến
- Xa cách muôn trùng
- Xuân về
Tác phẩm:

- Quán giang hồ
- Bá Nha - Tử Kỳ
- Đoàn kết là sức mạnh

Tài liệu tham khảo:

- Nhạc sĩ Thẩm Oánh Web: gio-o.com

Mời nghe nhạc phẩm Tôi bán đường tơ do ca sĩ Cao Minh trình bày:

https://www.youtube.com/watch?v=WRQ3TVkmC2c

https://www.youtube.com/watch?v=WRQ3TVkmC2c




Monday, April 25, 2016

Dương Thiệu Tước


(1915-1995)

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh ngày 15 tháng 5 năm 1915, quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông nay thuộc Hà Nội. Xuất thân trong gia đình Nho học truyền thống, ông là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định. Cùng vai vế với giáo sư Dương Thiệu Tống ở Việt Nam và Nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh ở Hoa Kỳ, trong khi nhiều người dựa vào tuổi tác cho rằng bà gọi 2 người là bác, không đúng. Trong gia phả họ Dương, mỗi đời con cháu đều dùng thống nhất một chữ lót khi đặt tên, bên nhánh nam thì lần lượt là Tự, Thiệu, Hồng, Nghiệp, nhánh nữ lần lượt là Hạ, Nguyệt, Vân, Thúy. Ví dụ, bà Dương Nguyệt Ánh có một người chị họ tên là Dương Nguyệt Thường (1901 - 1978) hơn bà 59 tuổi, là con gái của ông Dương Tự Trác, con thứ của Dương Lâm

Thuở nhỏ Dương Thiệu Tước học ở Hà Nội, trong thập niên 1930 ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Vũ Khánh... Dương Thiệu Tước cũng là người có sáng kiến soạn nhạc "bài Tây theo điệu ta", những nhạc phẩm đầu tay của ông thường được viết bằng tiếng Pháp. Mặc dù theo học nhạc Tây, nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm hồn dân tộc. Trong một ấn phẩm viết tay, ông ngỏ ý: „Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền".

Ông vào miền Nam sinh sống từ năm 1954. Tại Sài Gòn ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại Đài phát thanh Sài Gòn đồng thời được mời làm giáo sư dạy lục huyền cầm/Tây Ban cầm tại trường Quốc gia Âm nhạc. 

Sau 30 tháng 4 năm 1975, nhạc của ông bị cấm đoán và ông cũng bị mất chỗ dạy học tại trường Quốc gia Âm nhạc.

Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại Đức và Hoa Kỳ.

Vợ sau của ông là Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng thập niên 1950, có con riêng là ca sĩ Quỳnh Giao. Ông bà sống hạnh phúc trong 30 năm, có với nhau 5 người con là: Dương Hồng Phong, Vân Quỳnh (ca sĩ hải ngoại), Vân Dung, Vân Hòa, Vân Khanh.

Sau năm 1975 do bệnh tật nên ông ở lại Tp. HCM. Năm 1978 bà Minh Trang cùng các con định cư ở nước ngoài.

Đầu thập niên 1980 ông về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh và được bà chăm lo cho tuổi về chiều.

Ông mất ngày 1 tháng 8 năm 1995 tại Tp. HCM. Thọ 80 tuổi. Gần đây, sau thời đổi mới, nhạc của ông đã được phép lưu hành lại trên đất nước Việt Nam.

Trong bài: Nhân 100 năm ngày sinh Dương Thiệu Tước: Một Nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc Việt Nam. Tác giả Hoa Hướng Nam viết:

Qua các công trình sáng tác và những cống hiến cho âm nhạc, Dương Thiệu Tước được vinh danh là một trong các nghệ sĩ đầu tiên đã đặt nền móng cho nền tân nhạc của Việt Nam và có công nối kết phong hóa cổ truyền với nghệ thuật cao nhã Tây phương.

Ra đi vĩnh viễn Nhạc sỉ để lại cho đời nhiều nhạc phẩm bất hủ.

Nhạc phẩm:

- Áng mây chiều
- Bạn cùng tôi
- Bến hàn giang
- Bên ngàn hoa thắm
- Bến xuân xanh
(Dương Thiệu Tước & Minh Trang)
- Bóng chiều xưa (Dương Thiệu Tước & Minh Trang)
- Buồn xa vắng (Dương Thiệu Tước & Minh Trang)
- Cánh bằng lướt gió
- Chiều
(thơ Hồ Dzếnh)
- Chiều lữ thứ (Dương Thiệu Tước & Minh Trang)
- Đêm ngắn tình dài
- Đêm tàn bến Ngự
- Dòng sông xanh
- Dưới nắng hồng
- Dưới trăng
- Giáng xuân
- Hội hoa đăng

- Hờn sóng gió
- Khúc nhạc dưới trăng
(Dương Thiệu Tước & Minh Trang)
- Kiếp hoa
- Mơ tiên (Dương Thiệu Tước & Minh Trang)
- Nắng hè (Dương Thiệu Tước & Minh Trang)
- Ngọc lan
- Nhớ cánh uyên bay
- Ôi quê xưa
- Ôi, quê hương
(Dương Thiệu Tước & Minh Trang)
- Ơn nghĩa sinh thành
- Phút say hương
- Sóng long
- Thuyền mơ
- Tiếc một thời xuân
- Tiếng xưa
- Tiếng xưa 2
- Tình anh
- Trời xanh thẳm
- Ước hẹn chiều thu
- Uống nước nhớ nguồn
(Dương Thiệu Tước & Hùng Lân)
- Vui xuân (Dương Thiệu Tước & Minh Trang)

Mời nghe Đêm Tàn Bến Ngự do danh ca Thanh Thúy trình bày
https://www.youtube.com/watch?v=8HoteGJFmKI

https://www.youtube.com/watch?v=8HoteGJFmKI

 (Xem tiếp nhạc sĩ Thẩm Oánh)