Pages

Thursday, June 11, 2026

Huỳnh Ái Tông

Do AI tạo 



Huỳnh Ái Tông (1941-20XX)

Huỳnh Ái Tông (Pháp danh Phúc Trung), sinh năm 1941 tại Long Xuyên. Ông là một nhà giáo, cư sĩ Phật giáo và là nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng. Cuộc đời ông từ thuở nhỏ đến khi trưởng thành gắn liền với việc học hành, các hoạt động phụng sự tôn giáo, cống hiến cho giáo dục và niềm đam mê văn học. 

Dưới đây là các cột mốc quan trọng trong cuộc đời ông:

·         Thuở nhỏ và quá trình học vấn: Ông sinh ngày 13/05/1941 tại làng Bình Thủy, cù lao Năng Gù, tổng Định Thành, quận Châu Thành, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc An Giang). Thuở nhỏ, học trường làng Bình Thủy, Bình Mỹ, quận Châu Phú tỉnh Châu  Đốc, năm 1956, thi đậu vào Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng, được học bổng, nên lên Sài Gòn sinh sống và học tập, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật và Cử nhân Văn Chương Viện Đại Học Vạn Hạnh, đạt học vị Giáo sư Chuyên nghiệp Đệ nhị cấp. 

·         Hoạt động tôn giáo và xã hội (1959 - 1966): Ông hoạt động tích cực trong phong trào thanh niên Phật giáo. Năm 1959, ông trở thành Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử. Giai đoạn 1964 - 1966, ông giữ chức Phó Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Vạn Hạnh qua 2 nhiệm kỳ. 

·         Sự nghiệp Giáo dục và Quân ngũ:

o    Từ 1966 - 1974, ông là Giáo sư tại Trung học Kỹ thuật Ban Mê Thuột và Trung học kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ ở Sài Gòn.

o    Năm 1974 - 1975, ông đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng trường Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ.

o    Ông cũng phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tốt nghiệp khóa 27 (1968) Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức ngành Quân Cụ.

o    Sau năm 1975, ông tiếp tục gắn bó với sự nghiệp "trồng người", làm Hiệu phó Trường Kỹ thuật Nghiệp vụ (1982) và Giáo viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức (1984). 

·        
  
Định cư tại Hoa Kỳ (1991 - nay): Ông sang Mỹ định cư từ năm 1991 và hiện đang sinh sống tại thành phố Louisville, Kentucky. Tại đây, ông nghỉ hưu vào năm 2009 và dành trọn thời gian cho việc nghiên cứu lịch sử, Phật học và biên soạn các bộ sách văn học miền Nam có giá trị. 

Nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu sâu rộng về nền văn học Việt Nam của ông thường được chia sẻ trên các diễn đàn Phật giáo và trang blog cá nhân. Để tìm hiểu sâu hơn về các tác phẩm nghiên cứu của ông, bạn có thể tham khảo thêm trên trang Cư Sĩ Phúc Trung hoặc đọc các tập sách văn học của ông.

- oXo -

Biên Khảo:

  - Học Phật Phúc Trung

Văn, Ký:

- Thế Sự  ( * )
- Trên Cành Chim Hót  ( * )
- Truyện Của Tôi  ( * )
- Dấu Xưa  ( * )
-
Rồng Hiện  ( * )
-
Chiêm bái Phật tích  ( * )
- Một thời đã qua  ( * )
- Tôi sinh hoạt Gia Đình Phật Tử ( * )
- Cuộc đời làm Trưởng
- Một đời làm Trưởng
- Trường tôi
- Những chuyến về Việt Nam
Tập 1
- Những chuyến về Việt Nam Tập 2

- Mùa Thu tới

 - Hò Miền Nam ( * )

- VAN HOC MIEN NAM - (1623-1954) ( * )
- Báo Chí và Nhà văn Quốc ngữ Thời sơ khởi
- Văn Học Miền Nam 1954-1975 - Tập Một
( * )
- Văn Học Miền Nam 1954-1975 - Tập Hai
( * )
- Văn Học Miền Nam 1954-1975 - Tập Ba ( * )
- Văn Học Miền Nam 1954-1975 - Tập Bốn ( * )
- Văn Học Miền Nam 1954-1975 - Tập Năm ( * )
- Văn Học Miền Nam 1954-1975 - Tập Sáu
( * )
- Văn Học Miền Nam 1954-1975 - Tập Bảy ( * )
- Hai Mươi Năm Văn Học Miền Bắc 1954-1975 - Tập 1
( * )
- Hai Mươi Năm Văn Học Miền Bắc 1954-1975 - Tập 2
( * )
- Hai Mươi Năm Văn Học Miền Bắc 1954-1975 - Tập 3
( * )
- Hai Mươi Năm Văn Học Miền Bắc 1954-1975 - Tập 4
( * )
- Hai Mươi Năm Văn Học Miền Bắc 1954-1975 - Tập 5
( * )
- Văn Học Việt Nam Cận và Hiện Đại - Tập 1 ( * )
- Văn Học Việt Nam Cận và Hiện Đại - Tập 2
( * )
- Văn Học Việt Nam Cận và Hiện Đại - Tập 3
( * )
- Văn Học Việt Nam Cận và Hiện Đại - Tập 4
( * )
- Văn Học Việt Nam Cận và Hiện Đại - Tập 5
( * )
- Văn Học Việt Nam Cận và Hiện Đại - Tập 6
( * )
- Văn Học Việt Nam Cận và Hiện Đại - Tập 7 ( * )
- Tân nhạc Việt Nam - Tập 1: Nhạc sĩ ( * )
- Tân nhạc Việt Nam - Tập 2: Ca sĩ ( * )

-Tìm hiểu về sân khấu Cải lương ( * )
- Thà chết vinh hơn sống nhục
( * )
- Những nhà bất đồng chính kiến
( * )
- Các nhà văn Bắc, Trung làm báo ở Nam
( * )
- Lược sử Gia Đình Phật Tử Việt Nam ( * )
- Bảng tra Nhà văn sách Văn Học Việt Nam của Huỳnh Ái Tông

 

 

866411062026








Wednesday, June 3, 2026

Tấm ảnh gia đình

Tôi có tấm ảnh Bà Nội tôi 


Bà Nguyễn Thị Thoi

Tôi cũng có tấm ảnh gia đình gồm chú bác, dượng, thím, cô tôi:


Từ trái: Chú Chín, Chú Tám, Dượng Sáu, Dượng Tư, Bác Hai Trai, Bác Hai Gái, Cô 5, cô 6, cô 7, Thím 8

 
Cha tôi: Huỳnh Văn Đoan                                     Mẹ tôi: Đặng Thị Sảnh      

 
Gia đình tôi: 5 Tộc, 6 Tông, Má, Út Đẹp, Chị 3 Khâm, chị 4 Hân - Cô Bảy: Huỳnh Thị Kiếm


  
Anh Hai: Huỳnh Ái Chủng (1931-2017)  Mrs Chủng Huynh


Veronique Huỳnh's Family at Nhà Hát Lớn Saigòn

Tôi lập gia đình với Kim Chi năm 1967 tại Sàigon

Huỳnh Ái Tông - Bùi Kim Chi

Đãi ăn tại nhà hàng Đồng Khánh, Chợ Lớn

Tại nhà hàng Đồng Khánh, Chợ Lớn


Sinh nhật của tôi thọ 80 tuổị có con gái và cháu ngoại từ Việt Nam sang dự, ảnh chụp tại nhà Quốc.

866408032026
























Saturday, May 16, 2026

Ngũ quả

Trên bàn thờ gia tiên trong nhà vào ngày Tết người ta thường chưng trên bàn thờ những đĩa trái cây. Tôi nhớ trong nhà tôi, lúc tôi lên 10, cha tôi vừa bệnh hoạn, vừa tuổi già, nên những việc trang hoàng bàn thờ, tôi phụ trách chưng dọn, trang hoàng.

Bàn thờ là một cái tủ gỗ quý, danh mộc cẩn Xà Cừ

Trên đó có đặt bộ lư đồng

Vào ngày Tết, tôi chưng giữa bộ chân đèn và Bộ Lư mỗi bên 1 dĩa trái cây gồm có nãi chuối già, trái dưa hấu xanh và những trái quit vàng, trái mận đỏ.

Có người thêm chùm trái sung mang ý nghĩa cầu được sung túc.

Có người thêm trái khóm hay trái thơm để cầu cho gia đình có danh thơm, tiếng tốt với bà con họ hàng cũng như xóm làng.

Có người thêm trái mãng cầu Xiêm hoặc Mãn cầu ta, mang ý nghĩa Cầu được mãn cầu hay mãn nguyện.

Dĩa hay mâm ngũ quả, người ta có lòng trình bày để bày tỏ tấm lòng cúng tổ tiên hay chưng cho đẹp mắt, đều được cả, miễn là trông cho đẹp mắt, còn cao siêu hơn bày tỏ tấm lòng với tổ tiên, ông bà, cha mẹ đều là được cả, nó tùy theo lòng thành của người chưng bày và cách nhìn của chúng ta, người ngoài cuộc nhìn vào.

966416052026














Ngũ quả ngày Tết

 Trên bàn thờ gia tiên trong nhà vào ngày Tết người ta thường chưng trên bàn thờ những đĩa trái cây. Tôi nhớ trong nhà tôi, lúc tôi lên 10, cha tôi vừa bệnh hoạn, vừa tuổi già, nên những việc trang hoàng bàn thờ, tôi phụ trách chưng dọn, trang hoàng.

Nhà tôi căn giữa từ cột hàng nhứt trở ra sau cột hàng nhì là đặt bàn thờ tiền án là cái tủ cẩn, trên đó ở ngay chính giữa đặt bộ lư đồng

Hai bên là 2 dĩa trái cây, trên cái dĩa đặt một nãi chuối già hay chuối sứ, trên đó đặt trái dưa dấu xanh, chung quanh trái dưa hấu đặt thêm những trái quít.

 

Vào thập niên 195o, có những người đặt thêm chùm trái sung, mang ý nghĩa sung túc.   


Có những người đặt trên dĩa những trái dừa, trái mãn cầu, trái Xoài. Họ giải thích: Cầu được sung túc. Cầu vừa đủ xài !

Ngày Tết, người ta chưng trái cây cho đẹp mắt, mang ý nghĩa nào đó cũng là ước nguyện của họ. Ai cũng có ước nguyện hoặc giàu sang, hoặc ấm no hạnh phúc. Có ước nguyện mới có phấn đấu tích cực xây dựng ngày mai tốt đẹp hơn.

866416052026











 

 

 

Friday, May 15, 2026

Ăn Sinh Nhật

 Hôm nay Dâu và cháu nội cùng vợ chồng tôi đi ăn cơm trưa “Mừng Sinh Nhật của tôi 85 tuổi”, ăn ở nhà hàng mà tôi không ngờ buổi ăn trưa thiên hạ ngồi chật kín cả dưới lầu cũng như trên lầu.

Tôi gọi một tô soup nhưng mà họ nấu không ra chi cả, như chúng ta nấu một  tô canh tàu hủ với vài miếng rong biển.

Nhưng mà đứa cháu nội gái của tôi thật ngoan, cháu năm nay ngoài 20, nên chăm sóc tôi thật tươm tất, vì trong người tôi không khỏe, đúng là “tuổi cao, sức yếu”, nên cháu nắm tay tôi dẫn đi chu đáo.

Vậy là một Sinh nhật nửa đã đến, thêm một tuổi già thêm.

Mấy hôm trước tôi nghe bên nhà có 4 người cùng tuổi tôi đã qua đời. Trong đó có thằng Quốc gọi tôi bằng chú, nhà hắn sát vách nhà tôi, ba hắn bị Việt Minh giết chết ở Đốc Vàng trong Đồng Tháp Mười vào năm 1947 vì bị kết án theo Tây, do trước 1945 ba hắn làm chức Xã Trưởng, còn ông thân tôi làm chức Hương Sư.

Người kế là thằng Cuộc, nhà hắn ở làng Hòa Hảo, quân Tân Châu tỉnh Châu Đốc, nay là quận Phú Tân tỉnh An Giang, nhưng ông ngoại hắn có họ hàng với ông thân tôi và nhà ông ấy cách nhà tôi một căn nhà khác, căn nhà khác đó là em của ông ngoại hắn.

Một người nữa là thằng Khuyến, bà nội hắn là em ruột bà nội tôi, nên hắn với tôi là anh em đầu ông cố.

Một người nữa, người thứ tư tôi không nhớ là ai, đúng là tin buồn, đó là những người khi còn nhỏ lúc chơi đá dế, lúc chọi gà, lúc bơi lội dưới sông, lúc leo cây bắt ổ chim cu, con quạ, nay thì ai cũng già, nên không tránh khỏi: Sanh, lão, bệnh, tử. Mặc dù biết thế, nhưng làm sao tránh khỏi buồn khi mình bị mất những người bạn, nhất là bạn thời thơ ấu.

Buổi chiều tôi ăn Sinh nhật tại gia đình, gồm những món nhà tôi nấu như soup măng tây, chả giò, lá lốt chiên, đều là những món ăn tôi thích. Ngày nay lớn tuổi, tôi ăn ít, nhưng ăn nhiều bữa, thường ngày 5 bữa ăn.


866415052026























Wednesday, May 13, 2026

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

 (Điển tích truyện Kiều)


Kim Trọng về hộ chú ở Liêu Dương thì nửa năm sau, chàng trở về đến chốn cũ tìm Kiều, nhìn thấy cảnh đã khác xưa:

Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rả rời
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Xập xè én liệng lầu không
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày
(câu 2745 đến 2750)

        Thôi Hộ, một danh sĩ đời nhà Đường trẻ tuổi đẹp trai, nhân dự hội Đạp Thanh đến một xóm trồng toàn hoa đào (Đào hoa trang), gõ cửa một nhà xin giải khát. Bên cửa cổng, một thiếu nữ thập thò đưa nước cho chàng. Nàng đẹp, duyên dánge lệ. Chàng đưa tay tiếp lấy bát nước. Hai bàn tay trai gái chạm nhau. Nàng ngượng ngùng, cúi mặt xuống. Đôi má hây hây đỏ như đoá hoa đào. Chàng rụt rè, ngượng nghịu đoạn từ giã ra đi

        Nhưng rồi đèn sách và mộng công hầu không xoá mờ hình bóng giai nhân. Xóm hoa đào và con người đẹp vẫn gợi lên một hình ảnh đầm ấm trong trí não, khiến nhà thơ lãng mạn chan chứa biết bao tình cảm lưu luyến mặn nồng. Rồi năm sau, ngày hội du xuân đến, Thôi Hộ tìm đến xóm hoa đào. Cảnh cũ còn đó nhưng người xưa lại vắng bóngCửa đóng then cài. Chỉ có ngàn hoa đào rực rỡ, phe phẩy theo gió xuân như mỉm cười chào đón khách du xuân.

        Ngẩn ngơ, thờ thẩn trước cảnh cũ quạnh hiu, Thôi Hộ ngậm ngùi:
- Hay là nàng đã về nhà chồng?
        Từng bước một, chàng quay gót trở ra. Lòng cảm xúc vô hạn, rồi muốn ghi lại mấy dòng tâm tư của mình, Thôi Hộ lấy bút mực trong bị ra, đề mấy câu thơ trên cửa cổng.

        Chiều đến, nàng thiếu nữ họ Đào cùng thân phụ viếng người thân trở về. Nàng theo sau cha, chợt nhìn trên cổng thấy bốn câu thơ:

Khứ niên kim nhựt thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong

    Nghĩa:

Năm ngoái ngày này vẫn cửa trong
Hoa đào mặt ngọc gợn ánh hồng
Mặt người nay biết đi đâu vắng
Chỉ thấy hoa đào cợt gió đông

        Nét chữ tinh xảo, ý tứ dồi dào chan chứa một tình cảm đậm đà khiến nàng thiếu nữ họ Đào cảm thấy lòng xao xuyến và quả tim tình bắt đầu vỗ đập theo một nhịp yêu đương. Nàng ngậm ngùi thở dài, luyến tiếc duyên vừa gặp gỡ lại khéo bẽ bàng.

        Rồi ngày này sang ngày khác, nàng vẫn tựa mình bên cửa cổng mong đợi và hy vọng gặp lại người khách tài hoa xin nước năm xưa. Nhưng ngày lại ngày qua, mấy lần bóng chiều tắt lịm sau dãy đồi xa mà bóng người xưa chẳng thấy, chỉ thấy vài cánh chim chiều lẻ bạn, bạt gió từ ngàn phương kêu bạn đổ về với một giọng não nùng.

        Rồi từ đó, nàng bỏ ăn bỏ ngủ, thân hình tiều tuỵ, dung nhan võ vàng. Thân phụ nàng ngày đêm lo lắng, tìm thầy thuốc thang nhưng vô hiệu.

        Biết không sống được, nàng đành thuật lại tâm sự của mình cho cha già và xin tha tội bất hiếu. Nhìn đứa con thiêm thiếp trên giường bệnh như chờ đợi tử thần, ông lão thương con, nóng lòng  chạy tìm người đề thơ trên cổng. Nhưng hạc nội mây ngàn, tìm đâu cho thấy.

        Người cha đau khổ ấy bối rối, cứ chạy ra chạy vào, lòng mang một mong mỏi yếu đuối. Trong giờ phút cuối cùng, mong gặp chàng thi sĩ trẻ tuổi xa lạ đã gây sóng gió, bão tố trong gia đình ông, thì giờ phút này, ông cho là một vị cứu tinh của gia đình, nên ông lại chạy tìm nữa. Ông chạy tìm một cách cầu may!

        Vừa ra khỏi cổng nhà một quãng, bỗng chạm phải một người, ông ngẩng mặt nhìn. Đó là một thư sinh tuấn tú. Thấy ông mặt mày ràn rụa nước mắt, cử chỉ hốt hoảng, chàng thư sinh lấy làm lạ hỏi. Ông vừa bươn bả đi vừa kể lể thành thực sự tình. Nghe kể chưa hết câu chuyện, chàng thư sinh bỗng bưng mặt khóc. Ông lão bấy giờ lấy làm ngạc nhiên, chưa kịp hỏi rõ thì chàng thư sinh nói:
- Tôi là Thôi Hộ, người đã đề thơ trên cổng...

        Ông lão mừng rú lên, rồi lôi xềnh xệch chàng vào nhà, đưa thẳng đến phòng.

        Nhưng người thiếu nữ vừa trút hơi thở cuối cùng.

        Nhìn người mang nặng tình yêu đã vì chàng mà phải vóc liễu tiều tuỵ, chết một cách đau đớn, chàng quá cảm động, quỳ bên giường, cầm lấy tay nàng. Chàng áp mặt chàng vào mặt nàng, khóc nức nở... không ngờ nước mắt và hơi ấm của chàng thi sĩ rỏ trên mặt và ủ ấp người nàng có mãnh lực kỳ diệu thế nào, khiến nàng từ từ mở mắt ra, đăm đăm tha thiết nhìn chàng. Nàng thiếu nữ Đào Hoa trang sống lại, và kết duyên với chàng thi sĩ tài danh Thôi Hộ.

"Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông"

Năm năm trước có người có hoa đào
Năm nay vắng người chỉ còn có hoa đào

        Hoa đào còn đó phe phẩy trước gió như cười với gió. Cảnh cũ nhưng lại vắng người xưa, nhà thơ Thôi Hộ đã ghi lại xúc cảm của mình bằng bốn câu thơ. Liêu Dương cách trở nửa năm, Kim Trọng quay lại tìm người yêu thì người yêu vắng bóngtrước cảnh đìu hiu, quạnh quẽ, hoa đào vẫn mơn mởn tươi cười

Sao lại có hoa đào cười?
Sao lại có nụ cười ở đây?

        Nhìn người đương buồn bã đau khổ mà lại cười, phải chăng là nụ cười vô duyên đến quái dị!

        Trước cảnh bất công của xã hội, giữa lúc nơi lầu son gác tía lại rượu thịt ê hề, thừa thải đến hôi thối thì ngoài đường xương kẻ chết vì đói lạnh chất chồng phơi trắng ra, Đỗ Phủ, một thi hào đời nhà Đường cực tả bằng hai câu:

Chu môn tửu nhục xú
Lộ hữu đống tử cốt

        Hai cảnh tượng tương phản.

        Tình cảm thương nhớ, hy vọng của Kim Trọng mong gặp lại Kiều ở một nơi mà ngày xưa được gọi là "thiên thai", "động Đào"... thực hạnh phúc biết mấy; thế mà nay "vách mưa rã rời""rêu phong mặt đất"... thì cái tình cảm hy vọng đột nhiên trở thành tuyệt vọngCực tả trạng thái tình cảm tuyệt vọng này, tác giả dùng lối nhân hình hoá với thế tương phản "hoa đào cười" thì không còn gì tuyệt diệu hơn là làm tăng nỗi đau đớntuyệt vọng thêm lên.

        Tác giả Truyện Kiều dùng điển tích bằng hai câu thơ cuối của Thôi Hộ, nhưng không phải làm một việc "nhai lại" mà vốn chuyển hoá điển tích này một cách có khác hơn để phù hợp với hoàn cảnh, tâm tình của Kim Trọng có một ý tình khá sâu sắc.

Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
(Mặt người nay biết đi đâu vắng
Chỉ thấy hoa đào cợt gió đông)

        Với Thôi Hộ, thì "người không biết đi đâu" tức tác giả nhận định tình trạng dĩ nhiên như thế một cách khách quan. Và, "hoa đào như cũ, cười với gió đông" tức tả cái cảnh thấy đó, chớ thiếu hẳn một ý tình chứa chan sâu sắc.

Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

        Đối với Nguyễn Du, qua những từ "trước, sau, nào" đã cho ta thấy một hình ảnh của một con người đương chăm chú, để ý nhìn trước nhìn sau tìm kiếmcuối cùng hoàn toàn tuyệt vọng... nào thấy bóng người xưa. Và, những từ "năm ngoái", "còn" khiến cho người đọc có thể nhận thức được chàng Kim nhìn hoa đào cười mà chỉ thấy hoa đào năm ngoái là cái hoa đào có Kiều đứng ở bên còn đó, và nụ cười của người yêu xưa cùng với hoa đào xưa, sao nay chỉ còn có hoa phe phẩy nụ cười với gió... Trong một thời gian ngắn ngủi xa cách mà hoa vẫn còn đó nhưng người xưa lại đâu rồi!

        Có khác hơn nhà thơ Thôi Hộ, tác giả Truyện Kiều tả cảnh phối hợp tình, nhưng đi sâu vào tâm tình của đối tượng với tính chủ quan hơn. Tuy cùng mong nhớ một giai nhân, nhưng mối tình của nhà thơ Thôi Hộ đối với cô gái vườn đào không giống mối tình giữa chàng Kim và nàng Kiều. Tình cảm mong nhớ một giai nhân không giống được tình cảm mong nhớ một tình nhân. Mối tình đầu giữa chàng Kim và nàng Kiều đã gắn bó, đương gắn bó.... mà điều này Thôi Hộ chưa có- nên đã tạo được một tình cảm sâu sắc biến động trong tâm tư trước cảnh vật, tất nhiên chất liệu của thơ đã được phát huy- hay tiếng lòng của đương sự đã được rung động với một nhịp độ dồn dập lên cao. Tác giả cực tả cái trạng thái tình cảm và tâm lý chủ quan này.

        Bài thơ của Thôi Hộ cũng như của bao nhiêu bài thơ trữ tình khác. Nhưng sở dĩ còn được người đời nhắc nhở, truyền tụng phải chăng một phần lớn quyết định là do bút pháp điêu luyện, sáng tạo của tác giả Truyện Kiều tạo nên. Cũng như không có tác phẩm Đoạn trường tân thanh hay Truyện Kiều của Nguyễn Du thì quyển Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung Hoa, hẳn không ai tìm biết làm gì?

        Mượn của người xưa mà không làm nô lệ của người xưa, trái lại làm sáng danh cho người xưa mới thực là tuyệt diệu.

        Tuy nhiên, ở đoạn miêu tả này có điểm đem lại nhiều thắc mắc. Tác giả Truyện Kiều đã xác định:

Từ ngày muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà
Vội sang vường Thuý dò la
Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa
(câu 2741 đến 2744)

        Như vậy, chỉ thời gian trong vòng nửa năm mà gia đình của Vương ông (đã vắng Kiều) lại tàn lụi đến thế sao? Phải chăng đây là một kẽ hở còn có thể phê bình được.

        "Điển tích Truyện Kiều" chỉ chú trọng về điển tích và chỉ phát triển hay giải thích ý nghĩa sự việc có liên hệ đến phần điển tích, chớ không phê phán đi sâu vào những sự kiện do tác giả Truyện Kiều sắp xếp trong truyện. Những điểm trên được trích lại, xin làm tư liệu cho phần tham khảo được phong phú, ngoài phạm vi của quyển biên khảo này. Hay nhà thơ giàu cảm nhìn cảnh vật bằng tâm hồn, và đây mới là cái thực chất đặc biệt của nhà thơ?


(theo Điển tích Truyện Kiều, NXB Đồng Tháp)



866412052026















Sunday, May 3, 2026

Một chút ý nghĩ ngày hôm nay :Tôi đi Học Tập Cải Tạo

Hôm nay tôi đã 85 tuổi, muốn nhìn lại chặng đường đã qua, trong đó có những ngày “lên voi, xuống chó”, gọi là lên voi, chớ thật ra con voi nho nhỏ, còn xuống chó thì cùng với nhiều người, tôi không đoán được là bao nhiêu, nhưng cũng vài trăm ngàn.

Theo báo chí có 443.360 người bị đi Học Tập Cải Tạo (學習改造).


Tập trung đi Học Tập Cải Tạo 10 ngày

Tôi bị đi học tập cải tạo. Trước tiên tập trung tại trường Lasan Tabert đường Nguyễn Du Quận 1 Sàigòn, ngày 25 tháng 6 năm 1975.

Tôi ngủ tại đây 1 đêm thì đêm hôm sau 10 giờ tối, tất cả tập trung trong sân trường Tabert với đầy đủ tài sản cá nhân và xếp thành từng trung đội, sau đó lần lượt lên xe Molotova, xe nào cũng phủ bạt kín mít. Không thể nhìn ra bên ngoài cho đến khoảng 2, 3 giờ sáng xe bắt đầu lăn bánh, không nhìn rò bên ngoài, chúng tôi tự hỏi không biết bọn mình được đưa đi đâu ? Đến hơn 5 giờ xe dừng lại cho mọi người đi tiểu bên vệ đường Quốc Lộ 13, có người nhận ra đó là khoảng trên ngã tư Trung Chánh thuộc địa phận Hóc Môn, tôi nhận ra trong xe đi chung với tôi có Trần Trọng Thức tức là phu quân của tài tử Kim Cương. Sau đó anh em được lệnh lên xe, xe chạy cho đến sáng xe dừng lại, đỗ anh em chúng tôi xuống ở Trại Gia Binh thuộc sư Đoàn 25 Bộ Binh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Tại đây, chúng tôi được phân chia thành tiểu độ, Trung Đội, Đại Đội. Chúng tôi nhận ra anh em chúng tôi toàn là thầy giáo, phần đông là các Thầy giáo thuộc các Trường Tiểu Học, Trung học vùng Thủ Đức.

Có hôm ra ngoài sân, Nghiêm Phú Phương là em ruột của nhạc trưởng Nghiêm Phú Phi bắt giọng và cầm cương đánh nhịp cho chúng tôi hát “ Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng …” Rồi bắt đầu đi lào động, trước tiên ra phi trường gần đó tháo gở những ghi sắt đem về Trại làm hàng rào, che chắn… Rồi một số anh em được chuyển trại, về sau mới được biết họ chuyển đi ra Trại tù Phú Quốc ngày xưa, sau một số được chuyển đi trại tù Suối Máu ở Biên Hòa, cuối cùng chúng tôi được chuyển đi lên rừng ở Kà-Tum gần biên giới Tây Ninh – Kampuchea.

Những ngày đầu, không có nhà cửa chi cả, chúng tôi phải vào rừng đi chặt tre rừng để làm cột, kèo, đi cắt tranh đan thành những tấm lợp láng trại, mỗi cái láng, bề ngang chừng 8 thước, dài chừng 20 thước, chung quanh có vìa hè chừng 1 thước, ở giữa có lối đi chừng 1,5 thước, chung quanh có dừng phên tre, từ dưới đất cao lên 1 thước, tiếp theo chừng 1,5 được đan một tấm chắn thành những ô hình thoi, có kích thước chừng 2 tấc x 1 tấc, ở giữa chiều dài cùng như bề ngang có chừa lối đi chừng 2 thước. Dùng để ở cho 50 người.

Sau khi dựng nhà xong, anh em bắt đầu đắp con đường từ ngoài lộ đi vào trại chừng hơn 2 cây số và cất một căn nhà thăm nuôi, để khi có thân nhân được phép thăm nuôi, người cải tạo được ra căn nhà đó gặp thân nhân có sự giám sát của quản giáo, mỗi gia đình chỉ được thăm một thời gian nhất định trong 1 giờ đồng hồ.

Có một ngày, trong B của tôi đi làm công tác là sữa chữa đường bị hư do trời mưa đường đất bị ổ gà, chúng tôi phải đi đấp vá lại, trong công tác có anh Trần Ngọc Tân (sau ầy anh được định cư ở Úc) và những người thăm nuôi có gia đình anh Tân, nên anh em giúp làm phần công tác của anh Tân, để anh Tân được gặp vợ con. một lần có anh Thắng (sau định cư  Úc), với anh X, hai anh có công tác ra nhà thăm nuôi, nấu nước để khi thân nhân thăm nuôi đến có nước uống. Riêng anh X hôm sau có thân nhân đi thăm. Vao giờ trưa là giờ nghỉ, anh Thắng đã canh gát cho anh X gặp vợ ở nhà thăm nuôi, sau chuyến thăm nuôi đó vài tháng, anh X vui mừng báo cho anh Thắng biết vợ anh ta đã mang bầu !


Học tập chánh trị trong trại

Trong B tôi có một anh rất hiền, một hôm sau khi đi công tác làm xong chỉ tiêu, anh ta đi tìm thức ăn (trái cây trong rừng chẳng hạng như trái bứa, chùm chòi mòi, hay là măng le gọi là cải thiện, để ăn thêm cho đỡ đói), vào khoảng 5 giờ chiều trời đỗ cơn mưa tầm tả, sau đó đến giờ ăn chiều không thấy anh ta có mặt, tôi báo cáo cho Đại Đội Trưởng, Đội Trưởng báo cáo cho Tiểu Đoàn, anh quản giáo đi vào rừng bắn vài phát súng chỉ thiên, để cho anh đi lạc có nghe thấy biết hướng mà về.

Nhưng đêm đó không thấy gì hết. Sáng ra thấy anh ta có mặt ở Trại. Hỏi ra mới biết anh vào rừng kiếm măng, sau khi mưa tạnh anh từ rừng ra gặp con lộ trải nhựa, anh theo con lộ ấy đi một đoạn thì tới con đường đất, anh đi lui lại, đến 12 giờ khuya thì về đến trạm gát, nhờ lính gát đã được báo trước có người đi lạc, nên anh được vệ binh lấy cơm thừa thức ăn còn dư cho anh ăn và chỉ chỗ cho anh ngủ tạm, sáng ra cho anh đi về Trại.

Rồi sau đó khai hoang, phá rừng, diệt đế sậy trồng đậu, bắp, chỗ đất trũng, mùa mưa có nước thì trồng lúa, tính chuyện lâ dài. Nhưng năm 1977 Kampuchea đánh sang Việt Nam ở Tây Ninh, một số trại sinh đưa đi nơi khác, một số cho về rồi giải tán trại ấy.


Lao động trong trại

Còn tôi và một số ít trại sinh khác được cho về trước đó nửa tháng để gia đình đi kinh tế mới hoặc hồi hương lập nghiệp. Chừng một vài tháng sau, thỉnh thoảng có người, trong đó có anh Bình đến thăm tôi, về sau không thấy nữa. Coi như chấm dứt một thời, đời tù tội của tôi dưới Chế độ mới.

866403052026