Pages

Tuesday, October 18, 2022

Đi chùa thăm viếng Tăng Ni

Hôm nay ngày Thứ Ba 18-10-2022, chúng tôi có hẹn nhờ Thiện Đạt đưa đi viếng Quan Âm Tu Viện, Phường Bửu Hòa Thành phố Biên Hòa. Cùng đi có phu nhân của Thiện Đạt là Ngọc Thanh, để tránh kẹt xe nên chúng tôi khởi hành lúc 7 giờ. Mặc dù tôi đã thức dậy từ lúc 5 gìờ, đã ăn lót lòng với Oatmilk, uống coffee rồi nhưng vợ chồng Thiện Đạt chưa ăn sáng, nên đưa nhau đi ăn sáng trước khi lên đường.

Từ Tân Hòa Đông, Thiện Đạt đưa sang đường Tân Hóa, ăn sáng ở một quán Chay, xong Thiện Đạt chạy ra Ngã Bảy rồi theo đường Điện Biên Phủ để qua cầu Bình Triệu, từ đây theo đường Kha Vạn Cân đi đến Cầu vượt Linh Chiểu để theo Quốc Lộ 1A đi thẳng tới Quan Âm Tu Viện.

Trước tiên, chúng tôi vào thăm Hoà Thượng Giác Quang, nay ngài là Trụ trì Quan Âm Tu Viện là Trưởng Tông phái Tịnh độ Non Bồng, tông phái nầy do Hòa Thượng Thiện Phước - Nhật Ý thành lập từ năm 1959, năm 1986 ngài viên tịch, Ni Trưởng Thích nữ Huệ Giác, tiếp nối trưởng môn, Ni trưởng viên tịch năm 2021, nay đến Hòa Thượng Giác Quang đãm trách Trưởng môn phái Liên Tông Tịnh độ Non Bồng.

Khi ở Mỹ, tôi được tin HT. Giác Quang bị bệnh, nên đã đưa đi bệnh viện điều trị, thăm ngài được biết ngài mới về, hoàn toàn bình phục, ngài liền đưa chúng tôi đi tham quan những nơi ngài vừa mới xây dựng, như Tổ đường, Thư viện, Phòng truyền thống, đặc biệt ngài đưa chúng tôi đi viếng Tịnh thất của Ni trưởng Huệ Giác tịnh tu và viên tịch ở đó, tại đây có tượng sáp của Ni trưởng, tượng làm ở Thái Lan sống động đến 90%.

Ngọc Thanh, Kim Chi, HT. Giác Quang, Thiên Đạt

Hôm nay tại Quan Âm Tu viện có người cúng Trai Tăng, HT. Giác Quang có bảo chúng tôi ở lại thọ trai, nhưng chúng tôi có hẹn với Ni sư Thích nữ Hương Nhũ, Viện chủ Thiền Quang Ni viện, nên chúng tôi xin phép kiếu từ.

Đến Thiên Quang Ni viện, được biết Ni sư Hương Nhũ có việc đi khỏi, chúng tôi phải chờ. Trong khi chờ đợi, chúng tôi thăm Ni cô thân mẫu của Ni sư Hương Nhũ, vị nầy đã 93 tuổi nhưng còn khỏe mạnh, vẫn tinh tấn tu hành, niệm Phật công phu.

Rồi Ni sư Hương Nhũ về chùa, chúng tôi gặp lại, với Ni sư Hương Nhũ cũng như thân mẫu Ni sư, chúng tôi quen biết nhau từ trước, từ những ngày Ni sư chưa xuất gia, rồi xuất gia, rồi du học ở Ấn Độ.

Ni sư đưa chúng tôi đi lễ Hậu Tổ rồi Chánh Điện, giới thiệu tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn, Trống đồng, tượng La hán đặt ở Chánh điện.

Chúng tôi được Ni sư đãi cho bữa cơm trưa thịnh soạn, có lẫu chay với rau cải, nắm, tráng miệng với Cam, Bưởi, đặc biệt mỗi người một ly trái bơ. Tôi nhớ trước kia khi thân mẫu Ni Sư chưa xuất gia, bà có một vườn cây ăn trái ở Long Thành, gần Bửu Hoa Ni Viện, nơi đó Ni Sư Lan Nhã con của bà cũng là chị của Ni sư Hương Nhũ là trụ trì.

Trước khi ra về, Ni sư và chúng tôi có chụp vài tấm ảnh làm kỷ niệm, Trước tiên, nhà tôi chụp ảnh với thân mẫu Ni sư Hương Nhũ. 


Ảnh chụp với Ni sư Hương Nhũ

Rồi chụp ảnh chung, kỷ niệm một chuyến viếng thăm Thiền Quang Ni Viện.

Từ trái: Thân mẫu Ni Sư HN, Ni Sư Bửu Đức, Kimchi, Ni sư Hương Nhũ, tôi, Thiện Đạt, Ngọc Thanh.

Chúng tôi cáo lui, trở ra QL 1A rồi lên Xa Lộ Đại Hàn, chạy về nhà kết thúc một chuyến viếng chùa thăm quý Tăng, Ni phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, Ni sư Hương Nhũ hứa khi nào sang Mỹ thuyết pháp, sẽ ghé lại thăm chúng tôi, như mấy năm về trước Ni sư đã đến nhà chúng tôi trong phái đoàn Tăng, Ni Quan Âm Tu Viện do Ni trưởng Huệ Giác hướng dẫn đi Mỹ.

8664191022











Friday, October 14, 2022

Về Việt Nam năm 2022

 Tôi đã về tới Việt Nam vào đêm Thứ Bảy 8 tháng 10 năm 2022, một chuyến đi sau mua dịch bệnh Covid-19. Tôi nhớ lại đầu năm 2020, tôi đã chạy trốn dịch Covid-19 tại Việt Nam về Mỹ.

Năm nay chuyến hành trình của tôi từ Mỹ về Việt Nam coi như không bị ảnh hưởng chi về Covid, tức là không phải Test Covid trước khi lên phi cơ, không phải trình giấy tờ chích ngừa Covid -19, nhưng hơi vất vả vì khi phi cơ bay qua vùng trời Thái Bình Dương chắc bị bão tố nên thân phi cơ bị lắc lư, chao đão, nhớ lại 31 năm về trước, chính xác hơn là ngày 9 tháng 4 năm 1991, gia đình chúng tôi đáp chuyến bay từ phi trường Narita bay qua Thái Bình Dương, để đến phi trường Seatle thuộc tiểu bang Washington State, ngày hôm đó chắc là bão to, gió lớn nên phi cơ rung chuyển toàn thân, gia đình chúng tôi lại ngồi ở băng ghế sau cùng, chuyến đi lần nầy được ngồi ở dãi ghế 12A và 12C, và từ Nariat về Tân Sơn Nhất ngồi hàng ghế 27K và 27H phi cơ Boeing 787 của hãng American Airlines và Japan Airlines nên được êm ái hơn.

Phi trường Tân Sơn Nhất đêm 9-10-2022

Tôi không hiểu vì sao mà rất nhiều người cần đi xe đẩy, mặc dù họ còn trẻ và đi đứng rất khỏe mạnh, cho nên khi làm thủ tục nhập cảnh tại Tân Sơn Nhất, những người khác không đi xe đẩy đã làm xong, trong khi những người đi xe đẩy còn độ 10 người phải xếp hàng chờ làm thủ tục.

Tại phi trường Narita mọi người đều phải mang khẩu trang, những ai nhập cảnh vào Nhật phải Test Covid, còn những ai chuyển cảnh không phải Test Covid, chỉ bị khám hành lý xách tay mà thôi.

Mấy năm trước về Việt Nam tôi lái xe gắn máy đi ăn sáng, đi thăm bạn, đi dạo phố Sàigòn-Chợ Lớn-Gia Định, nhưng đầu năm ngoái tôi lái xe gây tai nạn, tôi đụng ngang hông xe người ta, nhưng tôi không rõ nguyên nhân, vì tôi chạy qua 2 làn xe gần và làn xe thứ 3 bên kia cũng không sao, đến làn thứ 4 tôi mới đụng xe người ta, trên xe tôi đụng có người đàn bà bước ra khỏi xe với đứa con nhỏ khóc, người chồng lái xe tôi nhìn thấy anh ta máu mũi, máu miệng đầy mặt, cánh cửa bị xe tôi đụng ép vào nên anh ta không rời chỗ tay lái được. Có thể tôi vượt đèn đỏ, mà cũng có thể xe kia vượt đèn đỏ ?

Khi Cảnh Sát tới hỏi tôi: “Chuyện chi đã xảy ra”, tôi đáp:

-        -  Tôi không biết.

Rồi xe cứu thương tới, đứa bé được người mẹ ẳm lên xe cứu thương, anh chồng lên theo. Còn tôi được con gái tới, đưa chúng tôi vào bệnh viện, họ đưa chúng tôi vào máy MRI chụp hình cắt lớp, sau đó bác sĩ khám nghiệm rồi cho về vì không có bị thương tích chi cả.

Xe tôi bể thùng nước, bể mặt nạ, cảnh sát kéo bỏ vào bãi xe bị tai nạn, con trai tôi bỏ xe luôn không sửa chữa, vì xe ấy của con trai tôi. Hắn nói với tôi:

-         - Cha lớn tuổi rồi. Thôi đừng lái xe nữa, đi đâu chúng con đưa đi.

Do vậy hơn năm nay khi đi chợ, đi bác sĩ khám sức khỏe, chữa mắt, con gái tôi đều đưa đi. Tuy nhiên con gái tôi đưa ý kiến với tôi:

-   Cha đi gần như đi đến nhà bank hay cửa hàng Dollars General cứ lấy xe mà đi.

Nhưng những nơi đó, tôi thả bộ chừng 30 phút là tới, cũng là đi như đi bộ thể dục, nên tôi thường đi bộ cho được lưỡng tiện.

Do vậy, lần nầy về Việt Nam các con tôi đều yêu cầu, đi đâu dùng Grab hay Taxi chớ không nên đi xe gắn máy. Con rể tôi đề nghị:

-        -  Cha đi đâu cho con biết, con đưa cha mẹ đi.

Nhưng con rể tôi cũng còn các công trình phải làm, con gái tôi còn phải lo cơm nước.

Có người quen có xe con, đưa đề nghị:

-         - Anh đi đâu, đừng ngại, em sẵn sàng đưa anh chị đi.

Là một người tốt, nhưng mình không thể lợi dụng lòng tốt của người ta, cho nên chắc chúng tôi cũng phải nhờ đưa đi chùa Linh Sơn Cổ Tự ở Núi Dinh ở Bà Rịa-Vũng Tàu, đi Quan Âm Tu Viện ở Biên Hòa hoặc vài nơi khác.

Tôi thích đi về quê ở An Giang bằng xe đò, Xưa kia khi còn Bă;c Mỹ Thuận, Vàm Cống, Cần Thơ. Có khi Mồng Một Tết trực buổi sáng xong, tôi ra xe đi Cần Thơ, rôì Cần Thơ đi Long Xuyên, có khi không có xe phải đi xe chuyền Cần Thơ - Thốt Nốt, Thốt Nốt – Long Xuyen hay Thốt Nốt – Vàm Cống, Vàm Cống về Long Xuyên, cuối cùng cũng tối mồng Một Tết về đến nhà.

Nay tôi cũng muốn đi xe đò, nhưng nhà tôi sức khỏe yếu, không thể ngồi xe đò, chỉ muốn đi xe riêng, xe nhà hay xe thuê bao. Tuổi cao sức khỏe yếu, Miễn an vui là tốt.

Những bài viết:

Đi chùa thăm viếng Tăng Ni

Họp mặt với các đồng môn.

Đi Linh Sơn Cổ Tự viếng tháp Ni trưởng Thích Nữ Huệ Giác.

Họp mặt với các cháu cùng đi chiêm bái Phật tích Ấn Độ.

Trở lại Quan Âm Tu Viện thăm Ni trưởng Kim Sơn

Một bài học Phật

Hôm qua đi ăn cưới ở Sàigòn

Đi bộ thể dục tại Công Viên Phú Lâm

Chuyện buồn mới đến

Về quê ngoại dự đám giỗ mẹ

          Họp mặt truyền thống NTT-PĐP 27-11-2022 Tri ân Thầy Cô

Tôi bị Covid-19

Về 5 Ông Thẻ hay Ngũ Long trấn phục

Dạo Phố Sàigòn 2022

Một nghề cao quý

          Trở về Mỹ

866414102022
866414122022





Tuesday, September 20, 2022

Những tấm ảnh chụp chung cả lớp

 
Trường làng Bình Thủy Huyện Châu thành tỉnh Long Xuyên

Trường Nam Tiểu học tỉnh Châu Đốc năm 1956

Trung học kỹ thuật Cao Thắng lớp Đệ Nhị A năm 1961

Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật năm 1966

Tiệc mừng Đăng Khoa Cử nhân Văn Học VĐH Vạn Hạnh năm 1973


866420092022






Nhớ tới bạn học, đồng nghiệp ngày trước.

 Mấy hôm nay bỗng dưng tôi nhớ tới những bạn học ngày trước ở Đại học Vạn Hạnh. Đại học Vạn Hạnh được thành lập năm 1964, trước tiên chỉ có 2 Phân khoa. Phân khoa Phật học được cải biến từ Trường Cao Đẳng Phật Học có trụ sở tại Chùa Pháp Hội trên đường Nguyễn Văn Hai thuộc Quận 3 Sàigòn, nơi đây đặt Van phòng Viện Đại Học Vạn Hạnh. Còn Phân khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn đặt tạm tại chùa Xá Lợi. Đầu năm 1965 mới đặt viên đá đầu tiên xây cất Viện Đại Học Vạn Hạnh tại 222 Trương Minh Giảng, Quận 3 Sàigòn. Cũng năm 1965 nầy thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hột, đặt trụ sở tại Chùa Ấn Quang.

Ngay sau khi Viện Đại Học được thành lập, tôi là sinh Viên Ban Cao Đẳng Sư Phạm kỹ Thuật, ghi danh học them tại Phân khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn. Tôi còn nhớ ngày 12 tháng Giêng năm 1965, ngay sau khi lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Đại Đức Chơn Thiện cổ võ thành lập Tổng Hội Sinh Viên Vạn Hạnh, thầy là em của Huynh  Trưởng Nguyên Lam Nguyễn Văn Quýnh, Thầy biết tôi nên mời tôi vào liên danh của Thầy, tôi nhận lời và mời thêm Huynh Trưởng Nguyễn Đình Nam, Liên danh nầy đắc cử. Ban Chấp Hành Tổng Hội đầu tiên nhiệm kỳ 1964-1965 gồm có:

- Chủ tịch: Luật sư Trần Tiến Tự.
- Phó Chủ tịch Nội vụ: Sinh viên VK&KHNV Huỳnh Ái Tông
- Phó Chủ tịch Ngoại vụ; Sinh viên Phật Khoa Thích Chơn Thiện
- Tổng Thư ký: SVPK Trần Thiện Bật
- Phó TTK: SVPK Nguyễn Đình Nam
- Thủ quỹ: SVPK Nguyễn Thị Nghĩa

Vào dịp Hè, anh Trần Tiến tự tham gia một phái đoàn Sinh Viên Việt Nam đi Mỹ để giải độc về Chiến tranh Việt Nam đối kháng với phong trào phản chiến ở Mỹ. Do đó anh Trần Tiến Tự bị sinh viên phản đối, vì anh không đại diện cho lập trường của Sinh Viên Vạn Hạnh, họ truất phế anh cho nên tôi phải xử lý thường vụ Tổng Hội Sinh Viên Vạn Hạnh, chờ bàn giao cho Ban Chấp Hành mới nhiệm kỳ 1965-1966.

Anh Trần Tiến Tự đã mất vì bệnh tật sau 1975. Thầy Chơn Thiện sau nầy là Hòa Thượng Thích Chơn Thiện, trụ trì Tổ đình Tường Vân Huế, viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh, Sàigòn, Đại biểu Quốc hội khóa XII – XIV, Phó Pháp Chủ Hội Đồng chứng minh, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Viên tịch ngày 8-11-2016.

Anh Bật và chị Nghĩa từ sau ngày mãn nhiệm kỳ tôi không gặp lại họ lần nào. Còn anh Nguyễn Đình Nam và tôi thỉnh thoảng có gặp lại, nhưng thường xuyên liên lạc qua Điện thư, hiện nay anh sinh sống ở Dustin, thủ đô của tiểu bang Texas.

Nhiệm kỳ sau của THSVVH tôi có tham gia, Liên danh của chị Cao Ngọc Phượng đắc cử có tôi trong đó:

- Chủ tịch: SVPK Cao Ngọc Phượng
- Phó Chủ tịch Nội Vụ: SVPK Phúc
- Phó Chủ tịch Ngoại Vụ: SV VH&KHNV Huỳnh Ái Tông
- Tổng Thư ký: SVPK Đỗ Văn Khôn
- Phó Tổng Thư ký: SVPK Chị Uyên
- Thủ quỹ: SVPK Nhất Chi Mai

Chị Cao Ngọc Phượng vốn là giáo sư khoa học Đại Học Đường Sàigòn, sau nầy xuất gia ở Làng Mai nay là Ni Sư Chân Không.

Ni sư Chân Không

Nhất Chi Mai tên thật là Phan Thị Mai pháp đanh Diệu Huỳnh tự Nhất Chi Mai, đã tự thiêu tại chùa Từ Nghiêm ngày 16-5-1967, để cầu nguyện cho Hòa Bình Việt Nam.

Nhất Chi Mai - Phan Thị Mai (1934-1967)

Anh Đỗ Văn Khôn đã mất vì bệnh tật,

Đỗ Văn Khôn

Anh Phúc, chị Uyên, chị Thanh (tôi không nhớ chức vụ của chị) từ ngày tôi rời khỏi Ban Chấp Hành lên Banmêthuộc dạy học, tôi không còn gặp lại họ từ tháng 9 năm 1966.

Đi dạy học ở cao nguyên rồi bị động viên vào quân trường Thủ Đức năm 1968, quân trường Quân Cụ 1968-1969, ra đơn vị thuộc Sư Đoàn 21, đồn trú ở Cà Mau, Sóc Trăng đến cuối năm 1969 được biệt phái về dạy học lại ở Cao nguyên, cho đến năm 1970 mới được chuyển về Sàigòn, có điều kiện đi học lại ở Đại Học Vạn Hạnh, lần nầy học chung với sinh viên thuần túy cũng như những công chức hoặc giáo chức đi học thêm.

Tôi nhớ lúc mới vào học năm thứ 2, có mấy sinh viên trẻ như cô Thủy, cô Vân, anh Đức là học viên Trương Quốc Gia Hành Chánh, về sau Đức và Thủy trở thành đôi bạn, từ năm thứ 3 không thấy 2 bạn đó theo học nữa, còn cô Vân thấy rất siêng năng, nhưng năm cuối cùng không thấy cô tốt nghiệp, còn những sinh viên kia có anh Vũ Văn Trung lớn tuổi nhất, anh sinh năm 1926, lúc đó anh là Liên Đoàn Trưởng khóa sinh Trường Quân Cụ, trước đó anh phục vụ ở vùng 4 chiến thuật. Thập niên 2010, tôi sang Santa Ana, anh Trung có chỡ tôi đi chơi, anh ở trong một chung cư sát tượng đài Việt Mỹ và anh đã mất vài năm sau đó.

Sinh viên kế là anh Bùi Văn Sớm, anh sinh năm 1934, trước kia anh là giáo sư, sau chuyển về Nha Khảo Thí Bộ Giáo Dục, anh cũng định cư ở Santa Ana, mỗi lần tôi sang đó đều có ghé thăm anh, đôi khi anh em còn đi dạo hay đi ăn ở Little Sàigòn, anh đã mất vào năm ngoái, thọ 87 tuổi.


Bùi Văn Sớm (1934-2021)

Sinh viên kế là Lý Trương Quang, anh là giáo sư dạy một trường công, nhà anh ở Cư xá Bưu Điện trên đường Hồng Thập Tự cạnh sân Hoa Lư, mấy năm trước tôi về tìm thăm anh, người láng giềng cho biết đã bán nhà dọn đi nơi khác từ lâu.

Lý Trương Quang (1948-20  )

Có anh Trần Hổ Từ sinh viên thuần túy, anh người Việt gốc Hoa, sau khi có bằng Cử Nhân anh du học ở Đài Loan vào năm 1973.

Năm thứ tư có một số Sinh viên học lại như Mai Vi Phúc là em vợ của đồng nghìệp tôi là anh Trần Hữu Phụng, anh Vũ Thế Ngọc tác giả quyển Trà Kinh, cách nay mấy năm anh và tôi có gặp nhau tại tịnh thất Thầy Tuệ Sỹ và lần khác ở quán cà-phê trước nhà thờ Đức Bà, trên đường Nguyễn Du.

Vũ Thế Ngọc (1949-20  )

Mấy nữ sinh viên còn có Trần Thị Bích Bướm phu nhân của chị là đồng môn Cao Thắng của tôi, sau 1975 anh ta vượt biên, để lại chị Bích Bướm về sau chị tái hôn rồi cùng chồng định cư ở Mỹ.

Trần Thị Bích Bướm (1951-20  )

Trương Thị Bích Vân cô giáo dạy ở Trung Học Trung Thu bên cạnh Trường Sư Phạm Thực Hành Sàigòn, chị Nguyễn Ngọc Mai phu quân của chị là Thiếu Tá Hải Quân, nên đã di tản sang Mỹ trước ngày 30-4-1975, Sinh viên Chu Thị Xuân Mai giáo viên nhà ở vùng Chợ Nancy. Các chị nữ sinh viên nầy hầu hết tôi đều không gặp lại, chỉ trừ chị Bích Bướm có mở quán cà-phê trong con hẽm xế quán cơm chay Giác Đức ở đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3 Sàigòn,  thỉnh thoảng tôi có ghé quán uống cà phê chuyện trò cùng bạn bè.

Hàng đứng từ trái: Huỳnh Ái Tông, Lý Trường Quang, Bùi Văn Sớm, Vũ Văn Trung, Lê Xuân Mai, Trương Thị Bích Vân
Hàng ngồi:Gs Ngô Văn Phát, Nguyễn Sung, Kim, Nguyễn Đăng Thục, Doãn Quốc Sỹ, Huỳnh Minh Đức, KTS Vinh đứng sau Gs Đức

Tôi có những bạn học ở Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng, họ sinh vào thập niên 1930, 1940 dần dần họ rời xa chúng tôi, những người bạn sinh viên như anh Vũ Văn Trung, Bùi Văn Sớm đã ra đi, còn những đồng nghiệp giáo chức của tôi như Bùi Khắc Triệu, Lâm Văn Trân, Trần Văn Sáng, Hồ Ngọc Thu, Hồ Ngọc Điển … cũng đã ra đi.

Gs Trường THKT Nguyễn Trường Tộ SG Tống Cựu Nghin Tân Hiệu Trưởng tháng 10 năm 1974

Đầu tháng 5 năm 1975, một cán bộ vốn là cô giáo mẫu giáo nằm vùng ở Gia Định, đại diện Ban Quân Quản thành phố tiếp quản trường, sau đó anh em quân nhân biệt phái phải đi học tập cải tạo, rồi sau đó đi định cư nước ngoài như anh Nguyền Tấn Lợi, đi vượt biên như Vũ Hữu Vĩnh … Qua bao nhiêu năm tháng, thế sự thăng trầm, kẻ còn người mất, khiến chẳng bao giờ gặp lại.

Toàn thể giáo sư và nhân viên văn phòng của THKT Nguyễn Trường Tộ tháng 5 năm 1975

Bạn bè ngày càng thưa vắng, thỉnh thoảng nhớ tới họ, nhớ tới nhiều kỷ niệm thân thương.

Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật họp mặt ngày 25-2-2017


866420092022






Saturday, September 3, 2022

Gợi nhớ kỷ niệm xưa

 Trong những ngày gần đây, tôi xem những Video clip Hồi Ký Miền Nam, lần đầu tự nhiên có Video Clip Mối tình thời chinh chiến của tác giả Phạm Văn Sanh hiện ra trong máy tôi, tôi bắt đầu xem từ đó và những Video clip khác như Chuyện tình thế kỷtrước tác giả Huy Văn Trương, rồi những Video khác trong đó có Trong 5 ngày cuối cùng của tác giả Chuẩn tướng Trần Quang Khôi…

Chuẩn tướng Trần Quang Khôi

Nhờ Video Clip Mối tình thời chinh chiến, tôi biết phần nào về Trường Võ Bị Đà Lạt mà tôi có 2 người bạn học đã tình nguyện vào quân ngũ. Đó là Trần Thanh Quang và Huỳnh Văn Dân. Từ năm 1960 cho tới năm 1962 tôi làm Trưởng lớp Đệ Tam A, đệ Nhị A và cuối năm học tôi thi rớt Tú Tài 1 nên ở lại lớp, còn các bạn khác đa số thi đỗ rồi học tiếp Tú Tài 2, Quang và Dân sau khi đỗ Tú Tài 2 đã tình nguyện vào học trường Võ Bị Đà Lạt hình như là khóa 20. Sau đó Quang đi binh chủng Nhảy Dù, bị thương cụt hết cánh tay trước Tết Mậu Thân.

Lúc Mậu Thân Quang đang ở Mỹ tập sử dụng cánh tay giả, sau đó Quang về Việt Nam trở thành cựu chiến binh, rồi ghi danh đi học Khoa Báo Chí và Văn Chương Anh Mỹ tại Đại học Vạn Hạnh, có đôi giờ Quang và tôi cùng học chung giờ, tốt nghiệp cùng năm 1973. Đến năm 1974 Quang được bổ nhiệm giáo sư dạy tại Trung Tâm Chuyên Nghiệp Phan Đình Phùng ở Sàigòn, vài tháng sau Quang được học bổng đi Mỹ du học, hiện Quang sinh sống tại thành phố St. Louis, tiểu bang Missouri, còn Dân ở Denver, Colorado. Xem Vido Clip làm cho tôi nhớ bạn thuở tuổi học trò.

Lớp Đệ Nhị A KTCT năm 1962 Hàng ngồi từ Trái: 1. Trần Thanh Quang, 2. Chi, 3. Chính, 4. Huỳnh Văn Dân

Còn Chuyện tình thế kỷ trước làm cho tôi nhớ tới Banmêthuộc rất nhiều. Anh chàng sinh viên sĩ quan Đà Lạt  sau khi ra trường, được phân bổ về Banmêthuộc, anh đi máy bay Air Việt Nam từ Đà Lạt sang Banmêthuộc, được xe đưa về trạm vé ở đường Lý Thường Kiệt, rồi đi xe Cyclo đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, làm cho tôi nhớ đến năm 1966, từ Sàigòn lên Banmêthuột chỉ có phương tiện duy nhất là Air Việt Nam.

Sau 45 phút bay, phi cơ đáp xuống phi trường Phụng Dục, chung quanh đất đỏ bao trùm, rồi cũng đi bộ vào nhà ga, sau đó được xe của hãng Air Việt Nam đưa về trụ sở ở đường Lý Thường Kiệt, ngay trung tâm thành phố, tôi cũng gọi Cyclo về Trường Kỹ Thuật Banmêthuộc. Cyclo chạy qua ngã sáu, quẹo phải, qua trạm Điện Lực, qua Bưu Điện bên tay phải, còn bên tay trái là biệt thự của cụ Tôn Thất Hối, thân phụ của bác sĩ Tôn Thất Niệm đương nhiệm Giám Đốc Bệnh Viện Banmêthuộc, kế đó là Tiểu khu rồi Tòa Hành Chánh, qua khỏi Tòa Hành Chánh là Ty Ngân Khố, tại đây xe quẹo phải gặp ngay Ty Tiểu học, bên cạnh là Trường Tiểu học, bên tay trái là đường đi tới Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, kế đó là bệnh viện, đi tiếp nữa là dẫn vào kho đạn. Còn Trường Kỹ Thuật Banmêthuộc nằm cạnh Trường Tiểu học, đối diện với Nhà Xác của Bệnh viện.

Trong truyện, anh Sĩ quan mới ra trường đi tìm đơn vị để trình diện, hỏi thăm một cô nữ sinh bị cô ta phang cho một câu: “Vô duyên”, bởi vì ở Banmêthuộc trẻ con lên 6 lên 7 ai cũng biết Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, còn anh nầy hỏi tức là chọc ghẹo cô ta. Nhưng sau đó cô ta đã hối hận vì mình lỡ lời.

Rồi anh tân sĩ quan được phân bổ về Trung Đoàn 45, đóng quân tại cây số 5, tức là cách thị xã 5 cây số, thỉnh thoảng anh ra phố mua tạp chí hay báo để đọc. Tại cửa hàng sách báo, anh sĩ quan gặp lại cô gái đã sẳn giọng khi anh hỏi đường đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, anh nhìn rõ cô gái bán sách cũng đẹp, còn cô gái ấy là cô Luận đã hối hận vì mình lỡ lời trước đây, nên nay gặp lại anh sĩ quan tiếp đón anh ân cần, họ dần dần làm quen, có cảm tình và yêu nhau.

Tôi nhớ hồi đó lên Banmêthuộc không có ai quen, may nhờ anh Giám học giới thiệu cho tôi ăn cơm tháng ở nhà ông Giáo sư, kiêm Thủ kho, còn ở thì sống chung phòng với anh Giám học và anh Trưởng phòng hành chánh, tất cả chúng tôi đều độc than, nên được ở một phòng trong Trường thuộc Ký túc xá.

Banmêthuộc người ta cho nó cái biệt danh Bụi Mịt Trời, Buồn Muôn Thuở cũng như thuốc lá Pallmall được gán biệt danh Phải Anh Là Lính Mời Anh Lên Lầu. Đối với tôi Banmêthuộc là nắng bụi, mưa bùn. Nơi chốn nầy buồn quá chỉ có một rạp chiếu bóng Lodo, có một rạp hát cải lương Thống Nhất năm khi mười họa mới có gánh hát cải lương đến hát, còn rạp chiếu bóng tôi chưa đi xem lần nào, nên chẳng biết ra sao. Mỗi chiều ăn cơm xong, chúng tôi thả bộ ra chợ, có thì giờ thì đi đến chùa Khải Đoan lễ Phật, hoặc đến quán sách báo gần cuối chợ.

Cinéma LODO đầu chợ Banmêthuộc vào thập niên 1960

Nơi quán sách báo nầy tôi không còn nhớ tên, ông bà chủ trên 60 nhà ở Sàigòn lên đây kinh doanh, họ có 2 cô con gái chị Phượng và cô Phi, cả 2 đều có nét da trắng, gương mặt hồng hào dễ nhìn, nói năng nhỏ nhẹ để vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Khách đến quán nầy đa số là sĩ quan. Trong số họ có ai trồng cây si tôi không biết.

Đầu năm 1968, tôi được lệnh nhập ngũ đi khóa 27 Thủ Đức, tháng 8 ra Trường, tiếp tục theo học chuyên môn ở Trường Quân Cụ Gò Vấp, đến tháng 4 năm 1969 ra Trường được phân bổ đến Đại Đội Bảo Toàn, Tiểu Đoàn 21 Tiếp Vận, Tại đây tôi được phân bổ làm Trung Đội Trưởng Sửa Chữa, đồn trú bên cạnh Trung Đoàn 32 đóng tại Trung tâm Thị xã Cà Mau, chừng một tháng, tôi được thuyên chuyển về hậu cứ làm Trung Đội Trưởng Hậu Cứ thuộc Đại Đội Bảo Toàn của Tiểu oàn 21 Tiếp Vận đóng quân tại Thị xã Sóc Trăng, trên đường đi Bãi Xào, cách Đài Phát Thanh Ba Xuyên chừng nửa cây số. Đến gần cuối tháng 9 tôi được biệt phái, lên phi cơ Air Việt Nam về Sàigòn từ giả đơn vị nầy.

Tháng 10 năm 1969, tôi trở lại Banmêthuộc, vài hôm đi ra quán sách báo, vẫn còn đó hai chị em chị Phượng, cô Phi nhưng không như ngày nào, trên gương mặt họ có nét buồn phiền hay là tôi suy bụng ta ra bụng người.

Tôi vẫn xem mấy cái Video Clip Hồi ký Miền Nam, nhất là những trận đánh oai hùng, những ngày tù cải tạo gian nan, xót xa cho kiếp tù đày, xót xa cho thân phận nhược tiểu, bị cường quốc bỏ rơi không hề thương tiếc.


Một anh lính dù ngồi nghỉ bên đường

Chuyện anh chàng sĩ quan có mối tình với cô Luận, làm cho tôi liên tưởng tới cô Phi và ngày tôi mới đặt chân lên xứ Buồn Muôn Thuở nầy. Tôi nghĩ sẽ có một ngày tôi trở lại đó, để nhơi lại kỷ niệm xưa.

866403092022







Friday, August 19, 2022

Hậu sanh khả úy

Người ta thường cho rằng người trẻ sẽ có tài năng hơn những người đi trước, nghĩa là những người sinh sau học được nhiều kinh nghiệm của người đi trước, sẽ có tài đức giỏi hơn, nên tục ngữ có câu nói “Hậu sanh khả úy” (后生可畏).

Hôm qua tôi nhận được 2 tập sách từ bên nhà gửi sang, một tập Đình và Làng Bnìh Thủy của tác giả Vĩnh Thông gửi biếu cho tôi, còn tập sách kia là Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình thần Bnìh Thủy do Huỳnh Thị Mỹ Thanh biên soạn và do Tổ chức biên soạn: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Châu phú, Ban Quản lý di tích kiến trúc nghệ thuật đình thần Bình Thủy và Ban Quý tế di tích kiến trúc nghệ thuật đình thần Bình Thủy.

Sách in trên giấy láng có in nền trống đồng, trình bày trang nhã và hình ảnh phụ họa chẳng những đẹp mà còn rõ ràng sắc nét.

Nội dung trình bày xúc tích, người đọc theo đó biết được lịch sử của làng cũng như ngôi đình thần.

Tôi không nhớ rõ đình xây cất lại vào năm nào, vì lúc đó tôi còn nhỏ nhưng nhớ được là nhà Võ Ca có xây một bàn thờ tổ quốc bằng xi măng, để ngay chính giữa, nhằm mục đích không cho hát xướng và cúng đình các lệ tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chạp đều cúng chay. Đó là theo chủ trương của ông Hương Chủ Phan Hòa Huỡn, một tín đồ thuần thành và có uy tín theo đạo Phật Giáo Hòa Hảo.

Mặc dù Ban Hội Tê cũ đồng loạt từ chức vào mùa thu năm 1945, trừ có Hương Quản Nguyễn Văn Bổn vẫn làm việc, vì gia đình ông ở tại xóm đạo, gần nhà thờ Năng Gù, nên rất bình yên. Từ  những năm cúng chay đó, để tránh sát sanh theo đạo Phật, trong làng xảy ra dịch bệnh và thất mùa, dân chúng bàn tán, kêu rêu, Ban Quý tế họp lại và quyết định cúng mặn trở lại như xưa, vì cho rằng ông Thần là vị ăn mặn chớ không phải Phật hay Bồ Tát ăn chay, đa số trong Ban Quý tế tán đồng, ông cựu Hương Chủ phải theo đa số nên ông từ chức Chánh bái. Ông thân tôi là Hương sư, trong Ban Hộ Tề cũ là người có chức vị đứng kế Hương chủ, nên đương nhiên trở thành Chánh Bái, Bồi bái có Dương Văn Cừ và Lâm Văn Chẩn. Còn Hương Cả Lê Bửu Linh, cũng như Hương Quản Nguyễn Văn Bổn là hai người theo Thiên Chúa giáo, nên không có cúng đình và cũng vì vậy nên Ban Hội Tề đồng ý mời vị Hương Cả tiền nhiệm làm cố vấn với danh nghĩa là Đại Hương Cả. Đó là ông hương cả Phạm Tứ Thể.

Tôi còn nhớ, vào năm 1945 có gánh hát bội về làng, Ban Hội Tề cũ được mời xem hát, ông thân tôi không đi, nên anh Hai tôi dẫn tôi đi xem hát, dưới ánh đèn manchon chói chang, tôi thấy có nhiều người gắn huy hiệu trên ngực áo lấp lánh cờ đỏ sao vàng, sau nầy tôi mới biết đó là những người theo Thanh niên tiền phong. Chứng tỏ lúc đó đình chưa xây cất lại, nhà Võ ca cũ vẫn còn đó.

Khi các lệ cúng đình trở lại như xưa, cái bàn thờ tổ quốc dẹp bỏ để cho các gánh hát bội có thể trình diễn. Tôi nhớ khi Đình xây cất lại, nhà Võ Qui và nhà Võ Ca xây cất mới, còn Chánh điện và nhà họp bên cạnh vẫn giữ nguyên.

Nhà Võ qui (nằm giữa Chánh điện và Võ Ca), ông thân tôi phải làm giàn giá leo lên trên đó, để vẽ những bức tranh theo sự tích Tam Quốc Chí hay Lục Vân Tiên. Ông thân tôi vẽ cũng như đắp nổi bức bình phong ở ngoài đường để che bàn thờ cúng Thần Nông. Tôi nhớ để có mắt Nai hay mắt Cọp, ông thân tôi phải xin chị Ba Chuông con của bác Hương Sư Lâm Văn Nguyện, vì ngày trước lúc chưa lập gia dình, chị học thêu, chị phải đặt hàng mua từ bên Pháp, phải nói là nhờ chị Lâm Thị Chuông mới có được mắt Nai, mắt Cọp bằng thủy tinh rất đẹp.

Ông thân tôi đắp bức bình phong hay vẽ trang trí trong đình, đều làm thí công mấy tháng hay cả năm, cũng là ông thân tôi muốn bày tỏ sự biết ân đối với thần hoàng, vì có người vu oan cho ông thân tôi ăn hối lộ của nhà thầu cung cấp cát để xây dưng đình, ông thân tôi đến bàn thờ thần kêu oan, xin thần linh phò hộ cho tai qua nạn khỏi, rồi ông thân tôi xin quẻ, quẻ cho biết “tiền hung, hậu kiết”, trong khi chờ đợi quan trên xử kiện thì cách mạng mùa thu xảy ra, nên việc thưa kiện bỏ luôn.


Lần nữa người ta định băt ông thân tôi cho “mò tôm” vì cái tội trong nhà không treo trần điều, chống đối những người thờ cúng, đọc sấm giảng. Họ định đêm đó sẽ thi hành, có người nghe được tin ấy, liền báo cho ông thân tôi lúc gần tối. Ông thân tôi tức tốc xuống đình, vào nằm dưới bàn thờ thần, cầu nguyện ông thần phù hộ cho tai qua nạn khỏi. Ngày hôm sau, ông thân tôi nhờ người nhà đi sang làng Mỹ Hội Đông nhờ gia tộc họ Huỳnh ở đó, sang làng Hòa Hảo báo cáo sự việc nói rõ ông thân tôi không có bài bác sự việc đọc sấm giảng, thờ cúng ở bàn thông thiên. Nhất là ông thân tôi theo đạo Phật, cũng họ Huỳnh với giáo chủ Huỳnh Phú Sổ.

Sau có những người thân đến nhà thăm hỏi hay uống trà, ông thân tôi giải thích cho biết trên bàn thờ có ảnh Phật Thích Ca, ông thân tôi theo đạo Phật, trước kia đã trường trai 10 năm, sau đau phổi bị bác sĩ cấm ăn chay. Còn chuyện bài bác đọc Sấm Giảng, trẻ con thay vì lúc đưa em hát những bài ru em, có đứa đọc Sấm giảng, nên ông thân tôi khuyên đừng nên làm như vậy. Có người cột bò ở chỗ bàn thông thiên, chúng đái đọng vũng, ông thân tôi cũng khuyên không nên cột trâu bò gần bàn thông thiên sẽ ô uế nơi thờ cúng. Vì thế người ta hiểu lầm, quy kết sai. Do vậy ông thân tôi làm thí công, để trả ân thần hoàng đã phò hộ ông thân tôi tai qua, nạn khỏi.

Trong chánh điện ông thân tôi có làm đôi liễn bằng xi-măng, một đôi làm cho ông Hương Chủ và một đôi làm cho ông Hương Sư, lúc đó  có 2 ông Hương Chủ, tôi không biết là ông nào: Hương chủ Phan Hòa Huỡn và cựu Hương chủ Hồ Văn Ổn, cũng có 2 ông Hương Sư là cựu Hương sư Lâm Văn Nguyện và ông thân tôi, nhưng chắc chắn là ông thân tôi làm cho Bác Lâm Văn Nguyện, làm cho ai thì người đó phải trả tiền vật liệu gồm có cốt sắt, cát, xi-mang và nước sơn, xem lạc khoản trên liễn thì biết ngay là của ai tiến cúng.

Năm 1945, Ban Hội Tề làng Bình Thủy huy động dân đào con kênh xuyên qua cù lao nối liền Xép Năng Gù và con sông Hậu. Đó là quyền hạn sau cùng của Ban Hội Tề làng Bình Thủy.

Trước đó, từ Rạch Cát ở đầu cù lao chạy dài xuống cuối cù lao ra phía sông Hậu, đất của ai cũng bị sung công thành Công điền làng cho mướn thu lúa ruộng bán lấy tiền bỏ vào Công nho. Đình xây cất lại, gặp lúc vận nước nổi trôi nên công nho khó khăn, việc xây cất, tu bổ kéo dài đến vài năm.

Tôi muốn nhắc lại những chi ông thân tôi đã làm cho đình làng, nay vẫn còn di tích về nghệ thuật. Tiếc rằng soạn giả Huỳnh Thị Mỹ Thanh chắc có học, có bằng cấp cao, nhưng ít hiểu biết nên tự động tỏ ra người học rộng hiểu nhiều, do sau tên ông thân của tôi lại thêm chữ ĐAN. Trong quyển Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình thần Bình Thủy, Ở trang 11: “…. Năm 1949, ông Huỳnh Văn Đoan (Đan) trực tiếp đắp, vẽ mặt trước và mặt sau bức bình phong phía trước đình…”

Thú thật tôi không biết cô ta nghĩ gì ? Nghĩ ông bà tôi dốt nên Đan viết thành Đoan, hoặc giả Chánh lục bộ ít học nên viết sai chánh tả. Tôi muốn nói thêm là khi ông thân tôi sinh ra năm 1895, lúc đó ông phủ hồi hưu Nguyễn Bá Thanh vẫn còn sinh tiền, ông ấy là ông nội của bà tôi, nhà của ông phủ và nhà của ông bà tôi sát vách nhau ở nhà quê, lúc đó có khi ông bà nội tôi đặt tên cho con, còn phải xin ý kiến ông Phủ. Chữ Đoan 端 đây có nghĩa là ngay thẳng, giềng mối, còn Đan có nghĩa là đan rổ rá hoặc đọc trại của chữ “cao đơn hoàn tán”. Mà đọc trại giống như mấy anh nhà quê thay vì đọc một trăm, hai trăm lại đọc một “chăm”, hai “chăm”, đi ra đi vô, đi “ga” đi vô !!!   

Người cầm bút, nhà văn viết sai tên một người là một lầm lỗi đáng trách, còn sửa tên người ta lại càng đáng trách hơn.

866417082022