Pages

Friday, November 21, 2025

Tìm về "đồi thông hai mộ" - nơi phát tích biểu tượng tình yêu xứ Mường

 

Khánh Linh

Hoà Bình - "Đồi thông hai mộ" nằm tại huyện Kim Bôi, từ lâu nay được coi là biểu tượng tình yêu của xứ Mường.

Hai ngôi mộ của đôi trai gái xứ Mường yêu nhau nhưng không đến được với nhau. Ảnh: Khánh Linh

Biểu tượng tình yêu xứ Mường

Một ngày cuối tháng 9.2022, trong ánh nắng vàng ngọt và gió nhẹ của tiết trời thu Tây Bắc, PV Báo Lao Động có dịp về xã Hùng Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình, nơi có "đồi thông hai mộ" trong tuyệt tác thi phẩm cùng tên của văn sĩ Tùng Giang - Vũ Đình Trung về mối tình sắt son mà bi thảm của đôi trai tài gái sắc xứ Mường.

Lần theo chỉ dẫn của người dân, men theo con dốc ngoằn ngoèo, uốn lượn, PV đã tìm gặp bà Bùi Thị Bảy - người hiện đang trông coi hai ngôi mộ, cũng là người có công giúp ông Vũ Đình Thảo, cháu nội tác giả tìm ra ngôi mộ sau gần chục năm miệt mài tìm kiếm.



Thursday, November 20, 2025

Hồi tưởng lại năm xưa

Hôm nay, tôi mở Computer và vào mục Hình ảnh do tôi lưu lại trong USB, thấy có những tấm ảnh, nó đã gợi cho tôi nhớ lại một thời sinh hoạt Gia Đình Phật Tử xa xưa, nào là chuyến đi Lộc Ninh, có lẽ khoảng năm 1958, nào là chuyến đi Đà Lạt vào dịp Giáng Sinh năm 1960, nào là chuyến đi Huế lần đầu tiên năm 1964, những chuyến đi đó đến nay đã trên 60 năm qua rồi, nhiều người đã mất như Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Thiện Minh, Thiện Châu, Quảng Long. Các Huynh Trưởng như Hồng Liên Phan Cảnh Tuân, Nhật Minh Nguyễn Hữu Huỳnh, anh Tôn Thất Sỹ, anh Phan Lợi Sanh, chị Cung Thị Lan Phương, anh Phan Tùng ... Còn một số khác tôi không biết rõ như anh Hổ, anh Biên, anh Mã Văn Tố tự Long, anh Bùi Công Phương là Liên Đoàn Trưởng GĐPT Chánh Đạo, anh Huỳnh Minh Tâm, anh Thanh Mai thuộc GĐPT Minh Tâm sinh hoạt tại Chùa Phước Hòa, Quận 3, Sàigòn.

Chị Trần Thị Thanh Minh vẫn còn khỏe và sinh hoạt với anh chị em bình thường. Trong hình chị Minh mang kính râm, đứng giừa hai chị mặc áo len đen. Còn tôi ngồi bìa bên phải. cạnh bác Hải chùa Phước Hòa Sàigòn, bác ấy không phải là huynh Trưởng GĐPT mà là Hội viên Hội Phật Giáo Bắc Việt (Chùa Phước Hòa, Quận 3, Sàigòn).


Đoàn Huynh Trưởng A DỤC Thủ đô Sàigòn du ngoạn Tp. ĐàLạt vào dịp Giáng Sinh 1960

Thời gian đó, em Nguyễn Hữu Hồng Đức (con trai anh Nguyễn Hữu Huỳnh) mến tôi, nên khi lên Đà Lạt em theo tôi khi dạo chơi cũng như lúc ngủ nghỉ.

Ảnh trước chợ Đà Lạt từ trái: Tông, Hổ, Biên và em Nguyễn Hữu Hồng Đức

Một thời trai trẻ đã qua, sau nầy tôi vẫn còn nhiều lần đến Đà Lạt, viếng chùa Linh Phong, Trại Hầm, Thác Cam Ly, Hồ Than Thở nơi có Đồi Thông 2 mộ. Khoảng trước năm 1975 nơi đây có một tấm bảng ghi sự tích Đồi Thông 2 mộ, ngày nay không còn. May mắn tôi còn giữ được tấm ảnh, có thể do phòng Thông Tin hay Công Ty Du Lịch nào đó đã dựng nên.


Bảng Thông Báo tại Đồi Thông Hai Mộ nơi Hồ Than Thở Tp. Đà Lạt trước năm 1975

Thân phụ hay thân mẫu anh Tâm lúc tuổi già sức yếu, không thể hàng năm lên Đà Lạt thăm mộ của anh, nên đã bốc mộ, cải táng về quê của anh ở Vĩnh Long.

Ngày nay người ta xây 2 phần mộ, nhưng mộ anh Vũ Minh Tâm là mộ gió (không có hài cốt).

Chuyện tình cô giáo Lê Thị Thảo và anh Sĩ Quan xuất thân từ Trường Võ Bị Đà Lạt là Vũ Minh Tâm, đó là một Chuyện tình buồn như một số chuyện tình buồn khác, khiến cho nhiều người thương cảm và nhớ mãi sau nầy.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  866420112025








Tuesday, November 18, 2025

Tôi vốn người dân Cù lao Năng Gù

Về nguồn gốc Cù lao Năng Gù, theo tích xưa truyền lại có ông Dương Văn Hóa từ Cần Lố dẫn theo gia nhân đến cù lao Năng Gù khai hoang lập nghiệp, nơi đó thuở ấy trên đất cù lao là những bụi tre gai, đế sậy và có cả thú rừng như Cọp, heo rừng sinh sống. Ngày nay trong sân Đình, bên tay phải có cây Đa (cây Sộp) có cái Miếu, đó là Miếu thờ ông Thần Hổ (Ông Cọp), ngày nay vẫn còn, nhưng biến thành Miếu Thổ Địa, vài chục năm trước có người có con khó nuôi, họ ẩm con đến đó "ký bán cho ông Hổ".


Ông Dương Văn Hóa được dân làng tôn trọng là bậc Tiền Hiền, thờ tự trong Đình Thần, mỗi năm đều có cúng tế ông vào ngày mồng 10 tháng 5 âm lịch. Sau nầy con cháu họ Dương lập một phủ thờ họ Dương, được xây cất trên đất con cháu họ Dương bên cạnh Đình làng.

Trong làng có ngôi chùa Bình Phước Tự nguyên thuộc gia đình ông Dương Văn Tranh, con trai thứ Năm là Dương Văn Nghét là chủ tự, một thời gian có hòa Thượng Thích Phước Quý trụ trì vào thập niên 1950, sau đó HT. Phước Quý viên tịch, nên có anh Dương Văn Bắn làm thủ tự vào thập niên 1960, chùa lợp lá dừng vách lá buông, nay chùa đã tân trang do TT. Thích Giác Minh làm trụ trì từ năm 2002. Ngôi chùa nầy cách Đình làng chừng 500 thước.

Ngày xưa Ban Hội Tề làng có xây cất ngồi chùa làng nằm ở đất của Làng thuộc ấp Bình Thới, cách đường lộ chạy quanh cù lao chừng 200 thước. Ngày nay là Chùa Đông An.

Trước năm 1945 Ban Hội Tề làng Bình Thủy đã lấy tất cả đất Thổ canh và Thổ cư từ Rạch Cát ra tới sông Hậu Giang là đất của làng, ai chiếm canh hàng năm phải đóng thuế cho Công nho của làng để Ban Hội Tề lấy huê lợi trang trải cho chi phí cúng Đình mỗi năm 3 lệ: 21, 22 tháng Giêng, Mồng 9 Mồng 10 tháng Năm và 19, 20 tháng Chạp, tu bổ Đình Thần và những lợi ích công cộng khác.

Con gái thứ 4 của Hương Sư Lâm Văn Nguyện là Lâm Thị Hương, trước 1975 chị Hương học ở Long Xuyên rồi xuất thân là Giáo viên dạy ở Trường Tiểu Học Bàn Cờ nằm trong khu Cư Xá Đô Thành, chị lập gia đình sống ở Sàigòn khu Vườn Chuối, Quận 3. Sau 1975, gia đình chị có vượt biên, nhưng không thành công, rồi chị hiến đất cho 1 ni cô lập thành Kỳ Lâm Tự nằm trong giồng đất giữa Rạch Chanh và Rạch Cát.

Trong làng thời Pháp thuộc, có ông quan Phủ Nguyễn Hà Thanh hồi hưu, ông chọn làng tôi để an cư, ông có mua đất từ bờ sông vào tới rạch Chanh (có lẽ xưa kia nước trong rạch có đế, sậy nên bị phèn, nước lợ chua nên dân gian đặt tên là Rạch Chanh, nằm phía Xép Năng Gù), còn con rạch khác chảy từ đầu cù lao, nên nước trong rạch có pha lẫn cát, do đó dân gian đặt tên là Rạch Cát, nằm phía Sông Hậu, trong đất ông Phủ hiến một phần để cất trường làng, nay là Trường Tiểu học A Bình Thủy, phía sau đó lại hiến một lô đất làm nghĩa địa và ông cũng hiến một phần đất xây nên cái Miếu 3 gian, phía sau Miếu là phần mộ của ông và con cháu sau nầy.

Tưởng cũng nói thêm nhà của ông Phủ Nguyễn Hà Thanh ngày nay không còn, nghe cô tôi kể lại nhà ông có lầu, ông họ Đoàn do sự việc “giặc chày vôi” thời Tự Đức, con cháu của “giặc chày vôi” chạy vào trong Nam, phải thay họ, đổi tên.

Nhân tiện cũng nói thêm, bên kia Xép Năng Gù (sông Năng Gù-chạy dọc theo Quốc lộ 91 đường Long Xuyên Châu Đốc), đối diện với nhà ông Phủ Nguyễn Hà Thanh bên kia sông là biệt phủ của Thầy Phó Phạm Phú Quý, có hàng rào sắt cập theo lộ 91, hàng rào nầy có 4 cổng ra vào, 2 cổng giữa có lầu, 2 cổng 2 bên xe nhà chạy ra vô được, cổng rào có cẩn gạch hoa nổi, mua từ bên Pháp, nên cổng rào nầy là 10 thì cổng rào nhà Chú Hỏa hay Dinh Độc Lập chỉ bằng 1 mà thôi. Đến năm 1972 người Mỹ sang Việt Nam, mở rộng lộ 91 nên phá cổng rào nầy, được bán lại để xây tường rào cho Bệnh viện Hòa Hảo (Phú Tân).

Thầy Phó Quý (Phó Cai Tổng Phạm Phú Quý) giàu có không thể tưởng, ruộng đất của ông “cò bay thẳng cánh”. Dân chúng vùng đó kính nể ông, nên chỉ gọi là “Thầy Phó” mà thôi. Biệt phủ của ông sau 1945, con cái phải bỏ nhà lên tỉnh Châu Đốc ở lánh nạn, nơi đó bị Lâm Thành Nguyên, Tướng của giáo phái Hòa Hảo lấy làm Trường Đào Tạo Sĩ Quan Hòa Hảo, cũng như Trần Văn Soái có trường Đào Tạo Sĩ Quan ở Cái Vồn.

Vì ruộng đất Thầy Phó rộng lớn nên trong ruộng ông phải đào nhiều con kênh, nên nông dân đạt tên là Kênh Ngang, Kênh Giữa … và ông cũng cho đào một con kênh trổ ra Xép Năng Gù, nên ông phải tự xây cầu đúc trên lộ 91, ngày xưa nó có tên là “Cầu Thầy Phó”, ngày nay nhân viên của Ty Công Cánh An Giang không rành nên ghi là “Cầu Thầy Phó Ký”. Đúng ra phải ghi là “Cầu Thầy Phó Quý”

Nhân đây xin viết luôn, con rạch nầy nước chảy ra Xép Năng Gù cũng là cái hướng đâm thẳng qua Trường tiểu học A Bình Thủy trên cù lao Năng Gù là vùng đất của quan Phủ hồi hưu Nguyễn Hà Thanh, nên ông Nguyễn Hà Thanh cho đào một cái mương từ trong Rạch Chanh cập bên hông nhà ông, đâm thẳng qua biệt phủ của Thầy Phó Quý. Do con kênh và cái mương đó mà nhà ông Phủ về sau con cháu sa sút, gom cây ngói, cất lại một cái nhà gỗ 3 gian lợp ngói trên nền gạch Tàu,  còn nhà Thầy Phó Quý nay chỉ còn cái nền, mặc dù ngày xưa năm 1945 trong phủ thờ, tôi theo mấy anh học trò lớn, chui vào trong đó vẫn còn nguyên cập ngà voi, bộ lư đồng to khắc chạm hình bụi tre bằng bạc, chiếc xe đạp trẻ con màu hường và những cái độc bình to, cao. Mấy anh đó dẫn tôi vào phủ thờ chỉ tìm và lấy pháo chà, rồi chúng tôi leo lên cổng lầu ở hàng rào, lấy cây thước vuông học trò, dộng xuống miếng pháo trên ngạch cửa sổ, kết quả pháo nổ “bốp” còn cây thước của tôi đã tét cả gang tay !

Ông Dương Văn Hóa (1723-1818) người gốc ở Cần Lố, Cầu Cần Lố trên Quốc lộ 30 (Km 29+883 QL.30), qua sông Cần Lố, nối thị trấn Mỹ Thọ và xã An Bình (huyện Cao Lãnh - tỉnh Đồng Tháp).

Cầu Cần Lố Effell được xây đựng trước năm 1975, một công trình giao thông chiến lược vào cửa ngõ Cao Lãnh. Sau giải phóng mới làm Cầu mới bằng bê tông cốt thép khá lớn và cao so cầu Cần Lố cũ.

Bộ phim truyện VN Cánh đồng hoang từng quay cảnh nông dân bỏ Đồng Tháp Mười bơi xuống ba lá chạy giặc ở cây cầu này.

Như thế chúng ta biết rằng trước tiên ông Dương Văn Hóa đến Cù lao Năng Gù khai hoang, lập nghiệp. Về sau có ông Phủ Nguyễn Hà Thanh dùng nơi đây an cư sau khi về hưu, hiến đất cho nhà cầm quyền Pháp cất trường, khai hóa dân trí từ đó về sau. Ông Phủ Nguyễn Hà Thanh có người cháu nội là Nguyễn Văn Đe xuất thân từ Ecole Normal de Saigon, tốt nghiệp làm Thầy giáo ở tỉnh Sa Đéc, Long Xuyên rồi về hưu trước năm 1945, có cháu cố là thầy giáo Nguyễn Hoa Hẩu, con của thầy giáo Nguyễn Văn Đe.

Năm 1947, ông Nguyễn Hoa Hẩu lấy trường công mở lớp dạy tư, tôi đã theo học tư với ông, sau khi đã học vở lòng ở trường làng Bình Mỹ, bên kia xép Năng Gù với thầy giáo Lê Văn Thọ, sở dĩ tôi qua sông học vì chú tôi làm Trưởng giáo bên ấy, hàng ngày chú tôi bơi xuồng từ bên Cù lao sang bên kia sông để dạy, hai trường gần như đối diện nhau qua con sông. Năm 1950, đang học tư tôi tự xuống tỉnh Long Xuyên dự thi và đậu bằng Sơ học (tốt nghiệp lớp 3).

Năm sau 1951, trường được nhà nước mở cửa lại dạy lớp Năm, lớp Tư và lớp Ba. Tôi theo học và ngồi lại lớp 3 vì nhà không đủ tiền cho tôi xuống tỉnh học lớp Nhì, do anh tôi đang học lớp Tiếp Liên ở tỉnh, để thi lại vào Trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên.

Năm 1954, cha tôi mất vì bệnh lao, lúc ấy chưa có thuốc Peniciline, năm sau mới có thuốc để trị thì cha tôi đã mất rồi. Trong năm nầy, tôi được lên Châu Đốc ăn ở nhà chú tôi làm thầy giáo Trường Nữ, tôi học lớp Nhì Trường Nam với thầy Lê Quang Điện rồi lên lớp Nhất E học với thầy Châu Văn Tính, thầy dạy giỏi, sau thầy làm Hiệu Trưởng rồi Thanh Tra Tiểu Học.


Thầy Châu Văn Tính và lớp Nhứt E niên khóa 1955-1956, Trường Nam Tiểu Học Châu Đốc

Cũng nhờ có những vị tiền bối khai phá quê hương tôi, nên tôi được học hành tương đối mở mang trí tuệ với xã hội.

Sau khi được miễn thi Tiểu học, tôi dự thi tuyển vào Trung Học Kỹ thuật Cao Thắng với hơn 3 ngàn thí sinh, tôi đậu hạng 132/250 thí sinh Trúng tuyển, nên được chú tôi cho lên Sàigòn theo học THKT Cao Thắng, tôi có học bổng toàn phần 400 đồng/tháng.

Lớp Đệ Nhị A năm 1962

Tốt nghiệp Kỹ thuật Cao Thắng, tôi dự thi tuyển vào Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Phú Thọ, lấy 10 thí sinh chính thức, tôi đậu dự bị hạng 12, đến khi nhập học chỉ có 7 người theo học, sau đó có anh Nguyễn Viết Hoạt được học bổng đi Pháp, nên chỉ còn có 6 người theo học. Học bổng 1000 đồng mỗi tháng.


Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật học tạm tại Trrường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ Sàigòn

Sau 2 năm học, tôi tốt nghiệp ra trường, được phân bổ đi dạy tại Trung học Kỹ thuật U-Út Banmêthuột. Đầu năm 1968 tôi bị động viên đi khóa 27 Sĩ Quan Trừ Bị Trường Bộ Binh Thủ Đức. Tháng 8 năm 1968 ra trường lại được đi học tiếp chuyên môn tại Trường Quân Cụ Gò Vấp theo khóa Quân Cụ Cơ Bản, rồi khóa chuyên môn sửa chữa Quân Xa, Vù Khí. Tháng 5 năm 1969 ra Trường, tôi chọn về vùng IV, được phân bổ về Đại Đội Bảo Toàn, Tiểu Đoàn 21 Tiếp Vận thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Sư Đoàn có bản doanh ở Bạc Liêu, còn Tiểu Đoàn chúng tôi có bản doanh nằm trên đường đi Bãi Sào ở Sóc Trăng. Tôi giữ chức Trung Đội Trưởng Sửa Chữa Lưu Động, đóng quân tại thị xã Cà Mau. Đến tháng 7 tôi được chuyển về đơn vị của Tiểu Đoàn, giữ chức Trung Đội Trưởng Hậu Cứ. Đến giữa tháng 9 năm 1969 tôi được biệt phái về dạy học lại ở Trung học Kỳ thuật Banmêthuột.


Chuẩn Úy Quân Cụ

Tại Trung học Kỹ Thuật Banmêthuột tôi được đề bạt làm Phụ tá Học Vụ và Học Sinh Vụ (tương đương Tổng Giám Thị và Giám Học) kiêm Phát ngân viên.

Đến tháng 10 năm 1970, tôi được thuyên chuyển về Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ, địa chỉ 55C Tự Đức Phường Đa Kao, Quận Nhất, Sàigòn.

Giáo sư và nhân viên Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ sau 30/4/1975

Đến tháng 10 năm 1974 tôi được Bộ Giáo Dục và Thanh Niên cử làm Hiệu Trưởng trường nầy và đến tháng 4 năm 1975, miền Nam đứt bóng, sau đó tôi bị đi Học Tập Cải Tạo từ 1975 đến 16-9-1977 được tạm tha. Tháng sau tôi vào làm nhân viên Phòng Thanh Tra Sở Lao Động, Năm sau tôi được chuyển lm nhân viên Phân Viện Thiết Kế thuộc sở Công Nghiệp. Về sau đơn vị nầy cải biến thành Công Ty Trang Bị Kỹ Thuật, tôi được chỉ định làm Trưởng Phòng Thiết Kế, rồi Trưởng Phòng Kinh Tế Kế Hoạch, cho đến tháng 4 năm 1991 tôi rời Tân Sơn Nhất ngày 2-4-1991, đến Bangkok ở 1 tuần, ngày 9 tháng 4 năm 1991 lên máy bay rời Bangkok, đến San Francisco ngày 9-4-1991 và đến Minnosota ngủ 1 đêm, về tới Louisville ngày 10-4-1991, gia đình tôi ở tại đây từ đó, thuộc diện HO.

Ngày đầu tiên dến Louisville, Kentucky 10-4-1991

Tôi đã tốt nghiệp Sư Phạm Kỹ Thuật, học thêm có bằng Cử nhân, đang theo học Cao học thì miền Nam bị đứt bóng, Ra nước ngoài tôi phải lo cho gia đình, nên không thể tiếp tục con đường học vấn.

866418112025









Wednesday, November 5, 2025

Tu sĩ Đức Minh

Khoảng thập niên 1930 có một tu sĩ hiệu Đức Minh tu trên vùng núi Cấm, ngưi ta truyền tụng rằng ông là một vị hoàng tộc của Tây Sơn, sau đó ông lưu lạc về miền Trung và biệt vô âm tín từ đó.

Ở miền Tây, người dân tôn tượng đức Huỳnh Giáo chủ, nhưng có vài nhà lại tôn tượng của ngài Đức Minh, không rõ do chính họ hay do gia đình lưu truyền lại, dù sao cũng là bức ảnh không phải của giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, chứng tỏ gia đình ấy ở trong vùng Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng họ không thuộc hệ phái PGHH.

Cho đến nay cũng trên 50. 60 năm rồi. Tôi không biết những gia đình nầy còn tôn ảnh của ngài Đức Minh nữa hay không ? Có những gia đình tu theo PGHH, nhưng chắc cũng phai nhạt đi nhiều.

Tôi nhớ thời xưa hàng đêm tôi theo cô tôi thắp nhang trong nhà rồi ra bàn Thông Thiên vừa lạy bốn phương vừa đọc kinh thuộc lòng.

Cô tôi mất đã lâu, chừng 30 năm qua rồi, nay tôi theo Phật Giáo chính quy, năm 1958, tôi quy y tại chùa Giác Minh với Hòa Thượng Thích Thanh Thạnh, Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt Tại Miền Nam. Từ đó tôi theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ trong nước trước kia, cũng như ra hải ngoại ngày nay.

Từ năm 1959, tôi là Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Giác Minh, rồi Liên Đoàn Trưởng GĐPT nầy cũng như GĐPT Minh Tâm chùa Phước Hòa. Tôi từng là Tổng Thư Ký Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử GHTGBV Tại MN, sau là GĐPT Miền Vĩnh Nghiêm, trụ sở tại chùa Vĩnh Nghiêm 339 đường Công Lý, nay là Nam Kỳ Khỏi Nghĩa.

Mặc dù tu sĩ Đức Minh ít người biết, nhưng ngài đã để lại trong tôi sự kính ngưỡng sâu sắc, vì từ những ngày thơ ấu của tôi cùng là thời 1945, Việt Nam ta trãi qua một thời kỳ bất ổn, nào là Pháp đô hộ Việt Nam, nào là Việt Minh khởi nghĩa, nào là Hòa Hảo, nào là Quốc Gia. Cuối cùng miền Bắc thống nhất toàn cõi Việt Nam, nhiều người không thích chế độ Cộng sản đã vượt biển, vượt biên sang các Quốc Gia Tự Do để sinh sống.

Thỉnh thoảng về Việt Nam, tôi có đến núi Cấm, leo lên Vồ Bồ Hong, để xem di tích thân phụ tôi ngày xưa đã khắc vào vồ đá hai chữ Hán: Đức Minh và một bài thơ, nhưng ngày nay vật đổi sao đời, nước chảy đá mòn, chữ Đức Minh còn thấy, có thể đọc được, nhưng bài thơ chừ Hán thì không còn nhận ra nét chữ.

Trên Vồ Bồ Hong đó ngày nay người ta còn tôn tượng Ngọc Hoàng, hàng ngày du khách đến viếng khói nhang nghi ngút, hoa quả đủ đầy.

Mọi việc, mọi thứ rồi sẽ đi qua, chính vì vậy mà người đời luôn tôn tượng, ghi dấu nhừng di tích xưa, cho thế hệ mai sau được biết.

866405112025











Friday, October 10, 2025

Công việc của người nông dân ngày trước.

 Để có lúa gạo cho chúng ta ăn người  nông dân phải làm ruộng.

Trước tiên phải cày phá đất, cho lớp đất tốt phơi bày ra ánh nắng và cỏ dại bị đứt gốc rể mà chết đi, không giành sự sống với cây lúa của nhà nông.


Người ta bừa cho đất tơi ra, cỏ dại sè bị đứt gốc rể mà chết.


Sau khi bừa cho đất tơi  ra, người ta sẽ rải hột lúa lên đất, được gọi là xạ lúa.

Sau khi xạ lúa xong, người ta lại bừa thêm lần nữa để đất che dấu hạt lúa lại, không cho chim chóc ăn. 


Cây lúa sẽ phát triển lớn lên trên cánh đồng.

Đến mùa lúa chín, người ta sè gặt lúa,

Đập bó lúa cho hột lúa rời ra.

Ngày nay có máy gặt, đập liên hợp vô bao luôn.

Lấy hột đem về phơi khô rồi xay thành gạo.

Giã gạo cho sạch vỏ lụa, cho được trắng trong

Ngày nay có máy xay lưu động

Hoặc nhà máy có công xuất lớn, xay hàng trăm tấn lúa hàng ngày.


Nhà máy xay lúa ở Cần Thơ Miền Tây Việt Nam

Có gạo, nấu gạo thành cơm chúng ta dùng bữa.

Đó là tất cả những giai đoạn nhà nông vất vả làm ra hạt gạo, thành cơm cho chúng ta ăn, để có đủ sức sống hoạt động, sinh hoạt hàng ngày.

866410102025






 

 

Thursday, October 9, 2025

Trồng dâu nuôi tằm dệt lụa

 Muốn sản xuất tơ lụa, người ta phải trồng dâu


Nuôi tằm

Con Tằm ăn lá dâu

Ươm tơ

Kéo kén

Se sợi


Dệt lụa


Tân Châu ở tỉnh An Giang dệt lụa có tiếng, thành phẩm lụa nhuộm đen có tên là Lãnh Mỹ A sản phâm nầy danh tiếng vì phụ nừ ưa chuộng, vốn là sản phẩm của vùng Tân Châu.

Còn về vải sợi, người ta phải trồng cây bông vải.


Kéo bông thành sợi


Dùng sợi dệt vải


Có lụa, vải chúng ta may áo quần mặc che thân, đấp ấm.

Chúng ta ăn mặc ấm cúng, đẹp đẻ cần phải nhớ ơn những người nông phu trồng dâu, nuôi tằm, trồng cây bông vải và những người thợ dệt, thợ may.

866409102025