Pages

Saturday, January 12, 2019

Hò Miền Nam 9



IX.- Tổng kết:

Một câu Ca dao hay một câu Hò, lời lẽ có khác nhau đôi chút cho phù hợp với địa phương, với hoàn cảnh, đó cũng là sự đóng góp của người xưa, nhờ đó Ca dao hay Hò càng thêm xúc tích, càng phong phú hơn. Chẳng hạn như câu:

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,
Gió nào độc bằng gió Gò Công.
Thổi ngọn gió Đông lạc vợ xa chồng,
Nằm đêm nghĩ lại giọt lệ hồng tuôn rơi.

Câu trên được sửa đổi lại:

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,
Đ
ất nào dốc bằng đất Nam Vang
Một tiếng anh than hai hàng lụy nhỏ,
Có cha mẹ già biết bỏ cho ai?

Hay:

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu
Anh thương em chẳng ngại sang giàu
Thương vì cái nết trước sau chung tình.

Câu trên được sửa đổi lại:

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân
Bước lên xe đầu đội khăn rằn
Nói năng đúng điệu, tảo tần bán buôn

Mỗi thời đại văn hóa, xã hội có thay đổi khác nhau, có những câu Ca dao ngày nay không còn đúng như xưa. Chẳng hạn như câu:

Phụ mẫu sở sanh để cho phụ mẫu định,
Chuyện vợ chồng đâu dám cãi lịnh mẹ cha.

Miền Nam cũng như nước ta trước kia là nước chuyên sống về nông nghiệp, nhứt là Miền Nam làm ruộng tùy thuộc vào mưa, nắng, nhất là tùy thuộc vào mùa nước nổi để trồng lúa nước.

Ngày nay nước ta thay đổi chuyển dần sang công nghiệp, việc làm ruộng cũng dùng máy móc thay cho sức người và trâu bò. Người ta dùng đê ngăn nước không cho mùa nước nổi tràn đồng, để làm lúa ba vụ trong năm thay vì một vụ như ngày xưa. Các câu Ca dao về thời tiết không còn giá trị nhiều như xưa.

Người ta vẫn hát Ru em nằm trên võng ở nhà quê, nhưng ở thành thị trẻ con được gửi vào Nhà trẻ, không còn được ru như xưa.

Người ta không còn xay lúa, giã gạo, không còn chèo ghe, bơi xuồng như xưa. Cho nên câu hò không còn được sử dụng, không còn lưu truyền. Có chăng chỉ được trình diễn trên Sân khấu hay trên các chương trình truyền hình, để gợi nhớ một thời đã qua, Câu hò Miền Nam góp phần vào sinh hoạt văn hóa trong dân gian.

Tuy ngày nay Câu hò không còn được dùng giải trí sinh động như xưa, nhưng nó đã để lại những câu trữ tình rất đậm đà trong độ tuổi thanh xuân.

Chữ rằng “Chi tử vu quy”,
Làm thân con gái phải đi theo chồng.
Đi đâu thiếp cũng theo cùng,
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.

Hay:

Bí lên ba lá
Trách ba với má,
Không ngắt ngọn làm giàn.
Để bí bò lang,
Trách hường nhan,
Vô doan bạc phận,
Duyên nợ ở gần không đặng xứng đôi.

Hoặc:

Ra vào vò vỏ,
Ngọn cỏ phất phơ
Nhớ anh nay đợi mai chờ,
Đôi ta duyên nợ hững hờ.
Trách thay Nguyệt Lão xe tơ lạc đường.

Hay:

Gió thổi hiu hiu,
Chín chìu ruột thắt.
Nhìn sao biển Bắc,
Nước mắt chảy bên Đông.
Ai xui cho vợ vợ chồng chồng,
Không biết đây với đó, dây tơ hồng có xe.

Dẫu cho có nhiều người mến mộ điệu hò, nhưng nó đã đi qua, làm tròn chức năng của nó. Tuy nhiên câu Hò ở Miền Nam vẫn còn giá trị ở những nhà sưu tầm, để gìn giữ nét đẹp của văn hóa Miền Nam.


Tài liệu tham khảo:

- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu xuất bản. In lần thứ mười. Sàigòn. 1968.
- Thuần Phong, Ca dao giảng luận. Nhà xuất bản Á Châu. Sàigòn. 1958.
- Phi Vân, Đồng Quê. Xuất bản Bốn Phương. Xuất bản lần thứ ba. Sàigòn. 1951.
- Nguyễn Bá Thời, Câu Hát Đối Đáp. Phạm Văn Cường xuất bản. Chợ Lớn. 1959.
- Đinh Thái Sơn, Câu Hát Huê Tình. Nhà buôn Thuận Hòa. Chợ Lớn. 1966
Trần Trung Viên, Văn Đàn Bảo Giám. Cơ sở xuất bản Đại Nam. California. USA.
- Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật, Kho tàng Ca dao người Việt. Nhà xuấn bản Văn Hóa. Hà Nội. 1995
- Sơn Nam, Nhận xét về Ca dao Hậu Giang. Web: e-cadao.com. Việt Nam.
- Nguyễn Thị Kim Thu, Thăm Lục Tỉnh Qua Ca Dao. Web: namkyluctinh.com. 2010

8664100118


 

Hò Miền Nam 8


Tưởng cũng nên ghi lại phóng sự Tiếng hò trong đêm vắng của nhà báo cũng là nhà văn Phi Vân (1917-1977), được in trong tập Phóng sự Đồng Quê, được giải nhất cuộc thi văn chương của Hội Khuyến Học Cần Thơ năm 1941.

Thầy ơi thầy, dậy mà nghe con nhỏ nó hò!
Tôi giật mình giụi mắt hỏi anh chèo: "Tới đâu rồi anh?"
- Dạ, vừa qua khỏi vàm Rạch Bần!
Tôi chồm ra ngoài nhìn cảnh vắng. Bên vàm, hàng dừa nước âm u lâu lâu thấy le lói một ánh đèn; bên bờ kia thỉnh thoảng nghe tiếng chày giã gạo, tiếng chó sủa đêm.

Ðêm nay chỉ có vành trăng hai mươi, nhưng sao đầy trời góp ánh sáng lại làm cho cảnh vật thêm ảo huyền thơ mộng.
Một làn gió nhẹ thoảng qua, tâm thần tôi thêm khoái sảng.
Vẳng xa, những giọng phù trầm êm ả của một điệu hò mê ly, đặc biệt chốn đồng quê, rõ lần trong lặng lẽ.
- Anh chèo ơi, lơi mái đợi họ lại gần, đi cho có bạn và nghe hò chơi anh!
- Xin lỗi thầy, nghe giọng hò của "con nhỏ" tôi đã rụng rời, lơi mái tự nãy giờ. Thế nào tôi cũng lên tiếng.
- Anh cũng biết hò nữa sao?
- Ðiệu nghệ mà thầy! Nói gì gặp phải tri âm, thức hò mấy đêm cũng không biết mệt.

- Ừ! Hò đối đáp nghe chơi, mà anh phải rán làm sao chớ để thua con gái, nhục lắm!
- Dễ không, để tôi bắt trớn cho thầy coi mà! Kìa, nó đã lại gần, tôi phải giáo đầu "nhập đề" mới được.
Hò hớ ờ ơ…
Bạc với vàng còn đen còn đỏ,
Ðôi đứa mình còn nhỏ thương nhiều,
Vừa nghe tiếng em là anh muốn như anh Kim Trọng thương chịu Thúy Kiều thưở xưa… ơ…
Hò xong, anh ta đắc chí:
- Ðó thầy coi, thế nào rồi nói cũng trả lời, "điệu nghệ gặp nhau, là mầy tao quấn quít"!

Giọng phù trầm ngừng đi một chặp. Chúng tôi yên lặng chờ. Quả nhiên không sai lời anh chèo nói: "điệu nghệ gặp nhau, là mầy tao quấn quít", tiếng hò lại nổi lên:
Hò hơ… ớ người không quen ơi,
Nghe anh, em cũng muốn thướng nhiều,
Nhưng hoa đà có chủ, khó chiều dạ anh.
Anh chèo xoa tay trả lời tức khắc:
- Hò hơ… chim kia còn thỏ thẻ trên cành,
Nghe em nói vậy, dạ không đành rẽ phân….
Giọng trầm cũng không chịu nhịn:
- Hò hơ… Bình bồng ở giữa giang tân,
Bên tình, bên nghĩa, biết thân bên nào?…
Anh chèo rối rít:
- Ðó thầy coi, ngon chưa? Trời ơi, cái giọng đáng yêu làm sao!….
- Hò hơ, ớ em ơi…
Nhứt lê, nhì lựu, tam đào,
Bên tình bên nghĩa bên nào cũng đồng thân.
Rồi anh lắng tai chờ.
- Hò hơ, nói mà chơi vậy chớ: Gió thổi hiu hiu, lục bình trôi riu ríu. Anh đừng bận bịu, bớ điệu chung tình, con nhạn bay cao khó bắn, con cá ở ao quỳnh cũng khó câu…
Anh chèo đã thấy đỗ mồ hôi, nuốt nước miếng anh bảo với tôi.
- Không được, tôi chưa hề gặp con nhò nào hò "chiến" như con nhỏ nầy, nó làm bộ có chồng để thử mình, rồi bây giờ lại làm cao, nếu ở hò cù cưa, thế nào cũng bị nó "hạ". Vậy tôi phải trổ hết nghề đem điệu hò dài ra "tấn công" cho nó hết "ứ nhựa" hoạ may nó mới "xếp giáp quy hàng".
- Hò hơ… Ớ nầy em ơi, em hãy nghe cho kỹ: xưa nay gái không cưới chồng, trai không ở goá, đoái thấy nàng xinh đã quá xinh. Buông lời vừa vỗ vế non, nếu như nàng lo việc cháu con, sao không kiếm chốn trao thân gởi thế?
Trên đời bá công bá nghệ, dưới lại là tứ thú tứ dân. Làm người sao khỏi chữ lương nhân, mà nàng chịu để phòng không ở goá? Sách có chữ rằng phụ nhân nan hoá, ít kẻ yêu vì. Nên lấy chồng phải luận phải suy, phải xem trong lóng đục, đây đã đến phải thời phải lúc… Hò hơ… hay nàng còn cúc dục cù lao… Ðể anh ngơ ngẩn ra vào, thầm yêu trộm nhớ dạ nào bỏ anh?…
- Ðó thầy coi, thế nào nó cũng chết ngất, điệu hò dài phải đối dài, ngắn đối ngắn, nó mà đáp được kỳ này, thì tôi cũng cam giải nghệ cho rồi….
Tôi giục: "Kìa nín, nó đã đáp liền kia!"
- Hò hơ, ớ nầy anh nó ơi, số phận em giao phó cho trời xanh, lấy anh, em không lấy nhưng cũng không đành làm ngơ. Hò hơ… vốn em cũng chẳng bơ thờ, em đã hằng chọn trong lóng đục, nhưng vẫn còn ngờ nợ duyên. Hò hơ… vốn em cũng muốn lấy ông thầy thuốc cho giàu sang, nhưng lại sợ ổng hay gia hay giảm; em muốn lấy ông thầy pháp cho đảm, nhưng lại sợ ổng hét la ghê gốc; em muốn lấy chú thợ mộc, nhưng lại sợ chú hay đục khoét rầy rà; em muốn lấy anh thợ cưa cho thật thà, nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt; em muốn lấy người hạ bạc, nhưng lại sợ mang lưới mang chài; em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai, nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới; em cũng muốn chọn anh thờ rèn kết ngỡi, nhưng lại sợ ảnh hay nói tức nói êm; ảnh hay cà riềng cà tỏi; em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi, nhưng lại sợ giọng quyển giọng kèn; em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn, nhưng lại sợ nhiều điều thá ví; em muốn lấy anh lái buôn thiềng thị, nhưng lại sợ ảnh kêu rêu mắt rẻ khó lòng; em muốn lấy anh thợ đóng thùng, nhưng lại sợ ảnh kêu trật niền trật ngổng; em muốn lấy ông Hương ông Tổng, nhưng lại sợ việc tróng 1 việc gông; em muốn lấy anh gánh tay không, nhưng lại sợ treo đầu quảy; em muốn lấy chú hàng heo khi nãy, nhưng lại sợ chú làm lộn ruột lộn gan; em mujốn lấy anh thợ đát thợ đan, nhưng lại sợảnh hay bắt phải bắt lỗi; em muốn lấy anh hát bè hát bội, nhưng lại sợ giọng rỗi giọng tuồng; em muốn lấy anh thợ đóng xuồng, nhưng lại sợ ảnh hay đằn hay thúc… Hò hơ, mấy lời trong đục chẳng dám nói ra. Có thầy giáo tập trong làng xa, hay dạy răn, so đức hạnh ai bằng, lại con nhà nho học, sử kinh thầy thường đọc, biết việc thánh hiền. Hò hơ, gặp nhau em kết nghĩa liền, không chờ chẳng đợi cho phỉ nguyền phụng loan… 2
Tuy anh chèo cứng họng, như tôi ngồi trong mui đã thấy khoái trá vô cùng.
Còn gì sung sướng cho bằng khi mình nghe "người ta" vô tình nhắc nhở tới mình, ca tụng mình trên dòng sông lờ lững?…
- Chắc anh "phọt phe" rồi phải không anh đò?
Anh ta đáp xuôi xị:
- Ý mèn ơi, tôi mới thấy con nhỏ hò lanh hết chổ!…
- Nầy anh, tôi nói thiệt cho anh nghe. Sao tôi nghe giọng hò của con nhỏ ấy tôi "mê" lắm. Anh biết tôi làm thầy giáo chớ. Nghe nói nó đang tìm kiếm kết duyên với chúng tôi, tôi cảm động quá anh à. Anh làm thế nào cho tôi thấy mắt "nó" một chút, "một chút xíu" thôi, rồi mình đi… được không?
- Có khó gì thầy, tôi kêu nó cặp ghe lại hỏi mồi lửa, thầy muốn nhìn bao lâu lại không được!
Rồi anh lập tức lên tiếng:
- Chị hò ơi… chị hò! Làm ơn cặp ghe cho mồi nhờ chút lửa, chị hò!…
Thấy bóng ghe chèo tới là tôi phấn khởi trong lòng, bò ra ngoài dòm lom lom.
- Ghe cặp chiếc đò, tôi càng thêm hồi hộp. Ôi! Tiếng hò như thế, còn người làm sao!…
Tôi hình dung một cô thôn nữ mày liễu má đào, có vóc mình thon thon, có bộ tịch khả ái…
Bỗng anh chèo đang ngồi nghỉ tay, giật mình đứng phắt dậy. Trong chớp nhoáng, anh bị một tên lực lưỡng thộp ngực anh, đưa ngọn dao ngang cần cổ:
- Nín mắt, la lên thì cụt đầu! Tao không động tới mầy đâu!
Còn tôi… chao ôi, tôi cũng kinh hồn lạc phách, rủi may phó mặc cho trời… Tôi chưa kịp nhảy xuống sông thì đã bị hai tên khác đè cứng dưới ván đò. Tôi giợm la nhưng một thằng trong bọn "ấn" cho tôi một cùi chỏ vào hông, đau lồng ngực lồng gan, nằm trợn trắng như chết nửa người.
Ðã thế, tiếng con nhỏ hò còn trêu gan trong mui nhỏ:
- Chú Bảy coi có con đàn bà nào ở trong mui, đè cổ lột cho tôi sợi dây chuyền!…
--------------------------------
1
Tróng: cái tróng: gông đóng ở chân, tróng mang ở cổ.
2
Mấy câu hò trong bài này tôi chép hối hả trong mui ghe theo giọng hò đối đáp, có thể sai đi ít nhiều. Nhưng tôi không sửa được vì không có nguyên văn, xin nhờ bạn đọc nào biết rành bổ chánh giùm cho.




8664120118


Hò Miền Nam 7



VIII.- Công dụng của Ca dao, câu hò:

Như chúng ta biết Ca dao là đúc kết biết bao kinh nghiệm của tiền nhân để lại, nhằm mục đích dạy người ta về nhiều lãnh vực như:

1.- Dạy hiếu để với cha mẹ:

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩ mẹ như nuớc trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con.

Hay:

Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.

Hoặc:

Đêm đêm thắp ngọn đèn trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

2.- Dạy con phải vâng lời cha mẹ:

Cá không ăn muối cá ươn,
Con cải cha mẹ tram đường con hư.

Hay:

Phụ mẫu sở sanh để cho phụ mẫu định,
Trong việc vợ chồng chờ lịnh mẹ cha.

3.- Dạy cho người ta lòng nhân từ.

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Hay:

Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

4.- Dạy cho người ta đoàn kết, thương yêu nhau:

Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Hay:

Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Hoặc:

Thương người như thể thương thân,
Thấy người gà yếu lại càng thương hơn.

5.- Dạy cho người ta về phong tục, tạp quán:

Chồng cô, vợ cậu, chồng dì,
Ba người ấy chết ta thì không tang.

Hay:

Giáp, Ất, Bính là tam bất hạp,
Dần, Thân, Tị, Hợi tứ hành xung.
Khuyên anh hãy xét lại cùng,
Hiệp hôn giá thú em sợ trùng không nên.

6.- Dạy cho người ta về thời tiết, mùa màng:

Ông tha mà bà chẳng tha,
Đánh nhau một trận mồng 3 tháng 10.

Hay:

Mồng tám tháng tư không mưa,
Bỏ cả cày bừa mà lấp lúa đi
Đói thì ăn ráy ăn khoai,
Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng.

Hay:

Tháng Giêng là tháng ăn chơi
Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Tháng Ba thì đậu đã già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
Tháng Tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng Năm
Sáng ngày đêm lúa ra ngâm
Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra
Gánh đi ta ném ruộng ta,
Đến khi lên mạ thì ta nhổ về
Sắp tiền mượn kẻ cấy thuê,
Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi
Cỏ lúa dọn đã sạch rồi
Nước ruộng vơi mười còn độ một, hai
Ruộng thấp đóng một gàu giai,
Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng
Chờ cho lúa có đòng đòng
Bây giờ ta sẽ trả công cho người
Bao giờ cho đến tháng mười
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta
Gặt hái ta đem về nhà
Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.

Còn nữa, Ca dao dạy cho người ta những điều học khôn qua nhiều lãnh vực. Người ta dùng Ca dao để hát Ru em, Hò khi bơi xuồng, chèo ghe hay giã gạo, xay lúa …

Ru em được dùng nhiều và thông dụng trong mỗi gia đình, để dỗ giấc ngủ cho trẻ con. Điệu ru đơn giản cho nên từ trẻ con cho đến người già đều có thể dùng, không cần phải có chất giọng thật hay, miễn là ru cho êm tai, làm cho đứa bé ngủ là được.

Đến Lý người ta phải học, phải tập cho đúng nhịp điệu của tiếng đàn bài hát và phải có chất giọng để trình diễn cho người khác nghe.

Còn Hò không phải chắc nhịp theo tiếng đàn, người ta có thể hò khoan, hò nhặt, miễn là phù hợp với câu hò và có chất giọng tốt.

Câu hò một thời đã ngự trị trên đồng ruộng và sông nước ở miền Nam, khi đồng ruộng cần dùng đến sức lao động của con người để làm mùa cấy gặt và khi sự giao thương của miền Nam để đi lại, chuyên chở, bán buôn hàng hóa trên sông trên rạch. Trong nhng trường hợp đó, câu hò đã giúp cho người ta giải trí rất nhiều trong thời buổi ấy.

8664120118