Pages

Tuesday, August 13, 2019

Chị tôi


Năm tôi lên11 tuổi, chị tôi được cha mẹ gả đi lấy chồng, đưa dâu bằng chiếc đò máy, đây là chiếc ghe hầu xưa, thời đó sau Cuộc Cách mạng mùa Thu không còn dùng nữa, nên người ta mua lại, gắn chiếc máy đuôi tôm để đưa đám cưới ở nhà quê, vì đường tráng nhựa xe hơi chạy được, không có bao nhiêu chủ yêu giao thông đi lại bằng đường thủy, tiện lợi vì miền Nam chằng chịt sông ngòi.

Cha tôi không thích trẻ con đi theo người lớn ăn cưới hoặc là ăn giỗ, nhưng đám cưới chị tôi, tôi được đi theo đưa dâu về nhà trai, được ngồi ăn ở bàn đãi khách thịnh soạn. Tôi nhớ mãi về thức ăn trên bàn tiệc có món lẫu vịt tiềm, chú em làm thầy giáo thấy có trái táo đỏ tươi, chú ấy dùng muổng múc bỏ vào miệng, “ngậm bồ hòn làm ngọt”, chú nói đủ cho tôi ngồi bên cạnh nghe: “Nóng quá chắc phỏng miệng rồi anh ơi !”.

Hồi đó, tôi thích chuyến đưa dâu ấy, vì được đi với bác, chú, cô là người thân trong gia đình, vinh hạnh lắm chớ ! Nhưng tôi cứ có câu hỏi lởn vởn trong đầu “Cha tôi rất nghiêm khắc, sao lại cho tôi đi theo đưa dâu”. Nhiều năm sau, tôi mới biết cha tôi muốn tôi biết nhà anh rể tôi ở đâu, để có khi cần sai tôi đến đó. Lần khác tôi được đi rước dâu, đi với bác với chú với các cô. Đó là đám cưới chú tôi, tôi và người anh con bác tôi, hai đứa được chọn đi để bưng mâm lễ vật. Lần khác được đi với cộ Dượng, chú tôi đưa dâu là chị họ của tôi, khi đó bác trai của tôi đã mất rồi, lần nầy đúng là đi đưa dâu, tôi không phải làm chi hết. lần khác nữa, tôi được đi đám cưới con chú tôi, lần nầy tôi phải làm rể phụ, bưng mâm trầu rượu đi trước họ đàng trai. Đó là những đám cưới đáng nhớ trong đời tôi.

Tôi gả cuới đến 3 đứa con, hai đứa con gái lớn do tôi không về Việt Nam được, nên anh tôi làm chủ hôn, đến con trai, tôi mới làm chủ hôn, tôi đã mượn nhà anh tôi để làm lễ, nhưng anh tôi nhắc nhở, yêu cầu mọi người bỏ giày dép khi vào nhà, tôi nghĩ anh tôi quý nhà hơn quý khách, nên tôi bỏ qua thủ tục lễ gia tiên, chỉ phải đại diện hai họ cám ơn khách đến dự tiệc cưới tại Đệ nhất khách sạn.

Từ năm 1996 cứ 2 năm tôi về Việt Nam thăm nhạc gia và anh chị em tôi, từ năm 2009 tôi về hưu, nên mỗi năm mỗi về thăm thân nhân. Mỗi lần về tôi đều có đi thăm chị tôi, sức khỏe chị có yếu đi, nhưng vẫn còn đi tới lui trong nhà. Năm ngoái, tôi có về một lần vào gần cuối năm và đầu năm nay tôi cũng có về, đi thăm chị vẫn ngồi trò chuyện với tôi.

Sau khi tôi về Mỹ rồi, nghe chị có nhập viện ở Long Xuyên rồi vài hôm được xuất viện về nhà. Tôi có người cô ruột không chồng con, sống với cha mẹ tôi, sau khi cha mẹ tôi qua đời năm 1954, cô ấy sống với anh em chúng tôi. Một hôm cô nằm nghỉ rồi quy tiên trước giấc ngủ đêm, thọ 91 tuổi. Nghĩ chị tôi cũng có thể thọ như người cô, vài tháng nữa tôi sẽ về thăm. Không ngờ chưa thăm chị thì con gái tôi báo tin chị đã ra đi rồi.

Chúng tôi có 6 anh em: Anh thứ Năm mất năm 2012, cô em Út mất năm 2016, ông anh thứ Hai mất năm 2017. Nay đến phiên chị mất. Anh em chỉ còn lại chị thứ Tư và tôi.

Thứ Hai, tôi, thứ Tư, Út, thứ Ba, thứ Năm

Nghĩ rằng trong kiếp nhân sinh, chị tôi đã làm tròn phận dâu con. Cũng đã làm trọn bổn phận làm vợ làm mẹ, hưởng phước với đàn con, cháu, chắt. Rồi ai cũng sẽ trở về với cát bụi. Cầu nguyện cho chị được siêu sanh miền tịnh độ.

Mời xem thêm hình ảnh tại:


8664130819










Wednesday, August 7, 2019

Chuyên tình nhỏ của những tên tuổi vĩ đại


Triết gia Baruch Spinoza là người Do Thái, gia đình ông đã di cư từ Do Thái sang Tây ban Nha, rồi Bồ Đào Nha, vì vẫn giữ đạo Do Thái không chịu cải sang Ki-tô giáo, bị cho là dị giáo, bị trục xuất nên cha mẹ ông phải lánh nạn sang Hòa Lan, rồi sinh ra Baruch Spinoza ở Hòa Lan, về sau gia đình ông phát đạt lên nhờ công việc thương mại của cha ông.

Baruch Spinoza (1632-1677)

Lên 8 tuổi, mẹ ông qua đời, ông được học trong các trường thuộc thánh đường La Mã, mặc dù gia đình ông vẫn theo Do Thái giáo.

Đến độ tuổi trưởng thành, Spinoza không thích theo ngành thương mại của thân phụ, ông hành nghề mài kính để sinh sống và tiếp tục học hành, ông thích nghiên cứu các tác giả thời Trung Cổ, ông học về Socrate, Plato, Aristote, nhưng ông thích đọc Démocrite, Epicure, Lucrère.

Spinoza muốn tìm hiểu những tác giả đời trước đã viết gì về sự tương quan giữa Thiên chúa và thân phận con người. Để mở rộng tầm kiến thức ông đã học tiếng La-tinh với một học giả người Hoà-lan. Học giả này là một người thuộc phái đối lập và bị xử tử năm 1674, để lại một đứa con gái đẹp làm rung động trái tim của Spinoza. Cuộc tình duyên này bất thành vì người đẹp của Spinoza ôm cầm sang thuyền khác. Sau đó Spinoza trở thành một triết gia. 

Còn nhà nhà bác học Isaac Newton Jr. là một nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà triết học, nhà toán học, nhà thần học, nhà giả kim thuật người Anh, được nhiều người cho là nhà khoa học vĩ đại.

Isaac Newton (1643-1727)

Thiếu thời, có đời sống rất hàn vi, ông chưa sinh ra thì thân phụ đã mất, mẹ ông phải tái giá với một cha xứ, Newton phải ở với bà ngoại, vài năm sau cha xứ qua đời, mẹ ông phải đảm đang nghề nông nuôi 4 con.

Newton được đi học ở trường King's SchoolGrantham ở đậu trong gia đình là bạn của mẹ ông là bà Katherine Babington Storer bà có chồng là ông William Clarke chủ hiệu bán thuốc tại Grantham. Gia đình nầy có 2 cậu con trai là Edward và em là Arthur trang lứa với Newton và cô con gái Anne. Ngay từ lần nhìn thấy đầu tiên, Adward và Arthur đã có ác cảm với nhà khoa học vĩ đại tương lai. Hai cậu này không thích cách xử sự rất tự lập của Isaac và đặc biệt không thích việc cậu cứ chơi búp bê với cô em gái út Anne của họ. 

Rồi thời gian trôi qua, Isaac đã “học hết chữ” của các thầy cô ở Grantham. Và gia đình đã nghĩ ngay tới việc phải đưa Isaac tới học cao lên, ở Cambridge. Nhà trường đã làm một lễ tiễn hoành tráng cho cậu.
Thầy Hiệu trưởng Henry Stokes đã nói trong lời chia tay rằng, Isaac là minh chứng cho việc nếu chăm chỉ và tử tế, thì sẽ “ra tay, gạo xay ra cám”. Hôm đó, cả hai anh em trai nhà Stores cũng rớm nước mắt nhìn Isaac. Buồn rầu hơn cả là cô em út Anne. Trái tim bé bỏng của Anne hiểu rằng, từ nay tình bạn và tình yêu thơ ngây giữa họ sẽ chấm dứt. Isaac sẽ sống ở một vùng đất khác của nước Anh, toàn những trí tuệ siêu đẳng, sẽ không còn thời gian nhớ lại thời hoa niên ở thị trấn Grantham quê mùa nữa…
Mọi sự đúng là như thế. Tốt nghiệp Cambridge, Isaac Newton ở tuổi 23 đã trở thành Thạc sĩ, ở tuổi 27 đã là giáo sư toán, ở tuổi 30 đã được bầu vào Hội Khoa học Hoàng gia Anh và sau đó 30 năm, đã là Chủ tịch của Hội nầy. Ông đã tạo nên rất nhiều phát minh vĩ đại mà nổi danh nhất trong đó là Định luật Vạn vật hấp dẫn. Ham muốn thấu hiểu mọi sự trên đời, ông không bao giờ hiểu được trái tim phụ nữ để có một người vợ.
Một lần, trở về quê cũ, hay tin cô bé Anne ngày xưa nay đã lấy chồng, ông không tỏ ra buồn hay vui. Nhưng khi biết Anne đang phải sống chật vật, ông đã gửi cho nàng tiền trợ cấp. Ông không kể với ai về những ký ức tuổi thơ. Nhưng Anne thì đã thổ lộ với những người viết hồi ký của Newton, về quãng đời hoa niên mà nàng đã biết về Isaac Newton vẫn còn ghi lại trong trái tim của họ…
8664070819







Saturday, July 27, 2019

Đi ăn xin trả hiếu


Vào đầu thập niên 1950, thuở niên thiếu, cha mẹ tôi còn sanh tiền, tôi còn nhỏ tuổi, nhà ở gần ngôi trường làng, đây là ngôi trường duy nhất trong làng, tôi không biết nó được xây cất từ năm nào, cùng giống như nhiều ngôi trường làng khác ở trong Nam, trường xây tường, lợp ngói móc, nền xây cao hơn sân chừng 3 tấc, lát gạch Tàu.

Trường cách xa nhà tôi chưa đầy 100 thước, nhưng thuở nhỏ đi học vở lòng, tôi không học trường nầy mà theo người chú là Trưởng giáo sang bên kia sông học với thầy Lê Văn Thọ, thầy gốc người Tân An, cả 2 ngôi trường đều xây cất giống nhau, có 3 lớp học và một gian nhỏ bên cạnh, để Trưởng giáo cư ngụ và trông nom trường. 


Trường tôi theo học có tên là École de Bình Mỹ, chỉ có 2 thầy giáo dạy học trò. Thầy tôi dạy lớp Élémentaire, chú tôi dạy 2 lớp nhập chung là Cour Moyen và Superieure, trai gái học chung, lớp tôi ngày nay tôi chỉ còn nhớ có cô The, lớp chú tôi có nhiều con gái hơn, nào là con của chú tôi nào là chị Phấn …

Còn trường làng tôi, cả 3 lớp đều có học trò. Bây giờ tôi mới hiểu làng tôi đông dân cư hơn, nó có một cù lao, đó là cù lao Năng gù có chừng 16 cây số vuông, cộng thêm một ấp Bình An là xóm Đạo nằm bên kia sông giáp với làng Bình Mỹ thuộc quận Châu Phủ tỉnh Châu Đốc, với làng Bình Hòa và Cần Đăng cùng với làng tôi Bình Thủy thuộc huyện Châu thành, tỉnh Long Xuyên.

Cho đến khi Nhật đão chánh Tây năm 1945, các thầy giáo dạy trường gần nhà tôi bỏ lớp, bỏ trường đi theo Thanh niên Tiền phong chống Pháp, giành độc lập, còn trường bên kia sông chú tôi, thầy tôi bỏ trường về tỉnh Châu Đốc dạy học. Tôi mới học “đánh vần ngược” thì bị thất học từ đó.

Trường làng gần nhà, các thầy đi theo kháng chiến hay họ trở về quê nhà tôi không rõ, chìa khóa trường giao cho cha tôi cất giữ, có lúc anh tôi và một người bạn lấy trường mở lớp dạy tư, được một thời gian vài tháng, anh tôi trốn nhà lên Sàigòn lập thân, người bạn anh tôi đi bán thuốc “Sơn Đông mãi võ” lấy hiệu là Hoài Sanh, chuyên bán ở vùng “sông nước miền Tây”.

Thuở đó trong làng, thuộc vùng Cù lao, gần như tôi biết hết mọi nhà, vì cha tôi là cháu chắt dòng họ Dương, có ông Dương Văn Hóa lập làng nầy, mộ ông chôn cất trong phần đất của bà Cố tôi, gần đây con cháu họ Dương lập phủ thờ, họ cải táng ông Dương Văn Hóa về Phủ thờ cất bên cạnh Đình làng.

Cha tôi từng giữ chức Hương Quản rồi Hương Sư, nên cha tôi biết hết dân cư trong làng, cha tôi có hôm nói với người quen: “Trong làng nầy, tôi không thể làm suôi với ai hết, vì không bà con bên nội cũng bà con bên ngoại.

Thời cha tôi làm làng không hiểu do đâu mà 12 ông Hội tề, mỗi ông commande một chiếc xe đạp từ bên Pháp gửi sang hiệu Saint-Etienne, do cha tôi cao, nên chiếc xe cao hơn hết, chỉ có chú Chín tôi là chiếc “xe máy đầm”. Tôi tập chạy xe khi còn nhỏ, phải lòn người qua “cái đòn dong”, nửa bên nây và nửa bên kia để chạy, xe không có thắng, muốn ngừng phải dùng bàn chân tựa vào sườn xe để đè ép võ xe lại.

Vì biết chạy xe đạp, nên cha tôi thường sai đi chỗ nọ, chỗ kia từ đầu làng cho đến cuối làng, hơn nữa nhà cha tôi có nuôi một bầy dê để lấy sửa uống, cho nên vào mùa nước nổi dê không thể ra đồng, tôi phải lùa dê ngoài đường lộ, cho chúng ăn những hàng me nước, người ta cũng gọi là me keo, thân và nhánh nó có gai, nên chìm dòng dọc thường làm ổ trên nhánh cây nầy, ổ của nó làm bằng những cọng cỏ kết lại, vì nó nặng nên nhánh cây bị rũ xuống, ổ có cái miệng thòng xuống như một chiếc vớ, trẻ con lấy ổ chim nầy xỏ vào chân làm chiếc vớ đùa nghịch. Cây me nước trồng lâu năm có trái, có loại ăn chát, có loại ăn ngọt, thân nó chỉ là gỗ tạp dùng làm củi, người ta thường trồng loại cây nầy làm hàng rào trước sân nhị 

Khoảng cuối thập niên 1940, có người bà con lấy trường mở lớp dạy tư, học trò đi học có người ở đầu làng cũng không thiếu người ở cuối làng, tôi cũng đi học lớp nầy, nên có nhiều bạn học. Nhờ đi công việc cho cha tôi, nhờ chăn dê, nhờ có bạn học, tôi biết được nhiều người, nhiều nhà trong làng.

Tôi có người cô, nhà cô ở phía dưới chợ, cách nhau chừng 300 thước, ngay sát cạnh nhà cô tôi có cái mương, thông từ Rạch Chanh ra Xép Năng Gù, ngày nay có tên là Mương Năm Đô, hắn là con thứ năm của cô tôi. Bên kia mương có một người, thuở nhỏ tôi biết ông ta đi xin ăn. Khi tôi lớn hơn một chút, khoảng 11, 12 tuổi ông ta không còn đi xin ăn nữa, không rõ vì trong gia đình có con lớn lên làm ăn đủ sống hay vì ông ta già yếu. Tôi không rõ lắm vì một năm có đôi ba lần tôi đến nhà cô tôi ăn giỗ hay ngày tư ngày Tết, chuyện chòm xóm của cô tôi, tôi không hỏi, trừ có A Dậu, con chú Tư chệt Soạn, nhà bên cạnh phía dưới thỉnh thoảng tôi có hỏi, khi không thấy cô ấy sang chơi hoặc phụ giúp khi nhà có giỗ quãi.

Một hôm đi chơi về, thấy có người ăn xin mặc bộ bà ba đen, đầu đội nớn lá, tay xách bị giỏ bàng, tay cầm gậy đứng ngay cầu thang lên nhà, tôi đi vượt qua người ăn xin rồi vào gặp mẹ tôi trong nhà bếp, tôi báo cho mẹ biết:

- Má ơi ! Có người đàn ông đứng ở cầu thang nhà mình xin ăn.

Mẹ tôi nói không cần suy nghĩ:

- Thì vào xúc gạo cho người ta như mọi lần đi con.

Tôi nghe lời mẹ, lấy cái chén đi đến lu gạo đặt gần bồ lúa, xúc một chén đầy, đem ra cho người ăn xin. Khi người ăn xin dùng hai tay cầm hai quai cái giỏ bàng mở miệng giỏ ra để tôi đỗ gạo vào, tôi mới nhìn được mặt người ăn xin và nhận ra anh ta là con người ăn xin, hàng xóm của cô tôi.

Khi người ăn xin đi rồi, tôi thắc mắc cầm cái chén không kịp úp vào sóng chén, đến bên bếp hỏi mẹ tôi.

- Má ơi !

- Gì nữa con ?

- Con thấy anh ăn xin là con người ăn xin, hàng xóm của cô Năm. Con thắc mắc.

- Thắc mắc chi con ?

- Ba anh ấy trước kia ăn xin, nhưng lâu rồi con không thấy ông ta ăn xin nữa. Còn anh nầy ăn mặc lành lặn, không có gì chứng tỏ nghèo khó, sao anh ta lại đi ăn xin ?

- À ! Hình như ông ăn xin xóm giềng của cô Năm mất lầu rồi. Con của người ăn xin, đi ăn xin lúc nãy không phải anh ta nghèo đói, theo má biết anh ta đi xin ăn để cúng giỗ cha mình, anh ấy đi xin ăn để trả hiếu đó con.

Mẹ tôi nói làm cho tôi thắc mắc nên hỏi thêm:

- Đi xin của thiên hạ về cúng kiến cha mẹ mình, thì có gì mà trả hiếu má ?

Mẹ tôi suy nghĩ trả lời:

- Con còn nhỏ chưa hiểu được, đó là một phong tục của người ăn xin. Nhớ lời má nói hôm nay, khi lớn lên con mới hiểu phong tục trả hiếu nầy.

Vài năm sau, năm 1956 nhà báo Anh Phương Trần Văn Ngà làm huấn luyện viên thể dục thể thao, hướng dẫn chúng tôi là học sinh Trường Thủ Khoa Nghĩa, Trường Nam, Trường Nữ tỉnh lỵ Châu Đốc đi trại Hè Vũng Tàu, vì có ít trại sinh nên ghép thêm học sinh trường Chu Văn An ở Sàigòn vào thành một Đội, nên có thêm một ông huấn luyên viên nữa trông nom.


Một hôm trại Hè tổ chức Trò Chơi Lớn đi từ trại Hè ở gần Bót Cảnh Sát đi ra Bãi Sau, hồi đó nó là con đường một bên là chân núi Lớn, một bên là đầm lầy có những đám bàng, đám lác gần ra tới bãi Sau thì có những đụn cát, Khi trò chơi chấm dứt lúc đi về, thấy phía trong xa ở những đám lác và bờ đê, có một người cụt một chân, đang đứng với cái nạn câu cá. Ông thầy huấn luyện viên chỉ người câu cá ấy nói:

- Đó là một người quân tử !

Đám học sinh chúng tôi nhao nhao hỏi:

- Ông cụt chân! Người tàn tật mà quân tử sao thầy !?

- Ừ ! Các con không biết ! Đâu phải như Quan Công mới là quân tử, người tàn tật mà không đi ăn xin. Ông ta tự đi làm để nuôi mình, có tiết tháo. Đó cũng là quân tử.

Từ đó tôi hiểu được một ý nghĩa của người quân tử. Còn về người đi ăn xin để cúng giỗ cha mẹ, nhiều năm sau nầy, tôi mới hiểu được ý nghĩa phong tục con cái của người ăn xin phải đi xin ăn để cúng giỗ, trả hiếu cho cha mẹ mình.


Thật vậy, người ta thường nói làm cha mẹ rồi mới biết công khó, lòng thương yêu của cha mẹ đối với con cái. Con của những người ăn xin, có đi ăn xin mới biết được sự tủi nhục, nhọc nhằn khi đi ăn xin từng nhà, khi ngồi ở đầu đường xó chợ. Xin đọc bài Người ăn mày của vua Lê Thánh Tông qua bốn câu Thực và Luận:

Hạt châu, chúa cấp trao ngang mặt,
Bệ ngọc, tôi từng đứng chấp tay.
Nam bắc đông tây đều tới cửa,
Trẻ già lớn bé cũng xưng thầy.

Chúng ta sẽ cảm thấy thấm thía cảnh xin ăn. Và mới thấu hiểu con người ăn xin phải đi ăn xin mới thấu hiểu mọi nổi của kiếp người xin ăn. Hiểu được như vậy mới biết công đức cha mẹ nuôi con cái như thế nào.

8664270719







Sunday, July 14, 2019

Văn chẳng ôn


Trong tháng 4 vừa qua, chúng tôi có một chuyến đi Huế, ngày sau cùng có đi tham quan cầu ngói Thanh Toàn, nơi đây tôi có mua một bình trà độc ẩm, mấy người cùng đi trong đoàn thấy đẹp muốn mua, chủ cửa hàng nhớ còn 1 bộ nữa, nhưng tìm mãi không ra, họ đành mua một bộ khác cũng độc ẩm, nhưng hình dạng không được đẹp bằng.

Bộ bình trà gồm có một bình, một cái bàn và 5 cái chén hạt mít, được sản xuất tại Hải Dương, tráng men màu xanh dương đậm, với những hình vẽ hoa lá cành và một bài thơ ngũ ngôn tứ cú.


Thoạt tiên tôi chỉ đọc được vài chữ trong bài thơ như chữ dạ, chữ bất, chữ tam tôi nghĩ đó là bài thơ cổ, để khi nào rảnh sẽ tìm xem bài thơ ấy tả cảnh, tả tình như thế nào. Tôi nghĩ mình thật tệ, không phải vì lên lão mà quên hết những chữ Nho đã học, tôi đã học chữ Hán với Trần Mộng Nam tại chùa Ấn Quang do nhà văn Hồ Hữu Tường tổ chức, trong lớp học nầy có cô con gái ông ta cũng học, rồi tôi học ở Đại học Vạn Hạnh từ năm 1964 với các giáo sư Phan Hồng Lạc, Huỳnh Minh Đức, Trần Trọng San, nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Đức Rật, bà Khưu Thị Huệ nào là Cổ văn nào là Bạch Thoại, lại còn học cả chữ Nôm với giáo sư Bửu Cầm. Vậy mà bài thơ 20 chữ, tôi chỉ đọc được có vài ba chữ.


Nhớ năm ngoái đi tham quan Sapa, cậu tài xế tên Cường đưa chúng tôi tới đĩnh đèo Ô Quy Hồ, cậu ta đưa chúng tôi tới một cái quán quen, chị chủ quán người Kinh, có chồng người H’mông. Khi chúng tôi đến chỉ có chị chủ quán tiếp khách, còn anh chồng đi phụ với người khác để cất mấy cái quán lá gần đó. Cường giới thiệu cho chúng tôi ăn cơm Nam và mua 1 gói lá chè ngọt.

Khi về lại Khách sạn, Cường hướng dẫn tôi sang bên kia đường, giới thiệu cho tôi mua nụ hoa Tam Thất, trị tiểu đường, mát gan. Thấy Cường đã đưa tôi đi chơi ngoài chương trình Tour, nên tôi cũng mua 2 lạng cho Cường vui lòng.

Nhân có bình trà độc ẩm Hải Dương, lại có nụ Tam Thất tôi muốn pha uống thử, khi lấy bộ bình trà, tôi mới tò mò đọc chữ Hán trên cái bàn, câu chót tôi đọc được “Lương y bất đáo gia”. Từ đó tôi nhớ ra bài thơ nầy quen quen, hình như có đọc ở đâu đó, vài phút sau tôi mò mẫm đọc được cả bài thơ:

Bình minh sổ trản trà,
Bán dạ tam bôi tửu,
Mỗi nhật cứ như thử,
Lương y bất đáo gia.


Tôi lên mạng kiểm tra lại, để xem có chữ nào sai không và có ai diễn dịch bài thơ ấy ra sao, tôi tìm thấy có người dẫn bài thơ ấy từ truyện ngắn Chén Trà Trong Sương Sớm trong Vang Bóng Một Thời  của nhà văn Nguyễn Tuân.

“Sớm nào vậy, cụ cũng ngâm một vài bài thơ. Giọng thật ấm, thật trong. Cụ hay ngâm mấy câu này:
    
     Bán dạ tam bôi tửu.
     Bình minh sổ chản trà.
     Mỗi nhật cứ như thử.
     Lương y bất đảo gia.
 
Một buổi sớm, thấy rõ lòng thầy là vui vẻ, tôi đã mạn phép đọc để cụ Ðốc chữa cho bài diễn nôm:
    
     Mai sớm một tuần trà.
     Canh khuya dăm chén rượu.
     Mỗi ngày mỗi được thế,
     Thầy thuốc xa nhà ta.
                                 
Cụ Ðốc tạm cho là được.”

Bản diễn Nôm đó phù hợp với bài thơ trên bộ trà hơn, có thể đó mới là bài thơ chính thức, được lưu truyền, nhưng đã bị đão lộn câu 1 và 2. Nó không phải là cổ thi, chỉ là bài thơ dân gian vì không biết tác giả. Có người cho đó là thơ của giới Lương y, khuyên người ta sống có điều độ như sau:

Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh nhất trản trà
Nhất nguyệt dâm nhất độ
Lương y bất đáo gia

Hoặc:

Bán dạ tam bôi tửu,
Bình minh nhất trản trà,
Thất nhật dâm nhất độ,
Lương y bất đáo gia.

Theo ông Đỗ Tất Lợi (1919-2008) cho biết trong Minh Tâm Bửu Giám của Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) in năm 1891 chỉ có 2 câu:

Lục nguyệt dâm nhất độ,
Lương y bất đáo gia.

Theo ông Đỗ Tiến Bảng ngụ tại 76 Quang Trung, Thị xã Sơn Tây, Hà Nội cho biết do bài thơ được giới thiệu tác giả là Hải Thượng Lãn Ông, Lê Hữu Trác trong trang thơ giới thiệu những câu thơ hay đã được tuyển chọn trưng bày tại cuộc triễn lãm “Trà và Thi ca” Festival Trà Thái Nguyên - Việt Nam năm 2015. Ông Bảng đã tra nhiều sách của Hải Thượng Lãn Ông, đều không thấy có bài thơ trên. Cho nên chúng ta tạm kết luận đó là bài thơ cổ được lưu truyên và do đó nó có những dị bản.

Biết rằng bài viết của tôi chẳng hay, chẳng giá trị nhiều, nhưng tôi muốn viết để cho bộ óc làm việc thường xuyên, tránh bị bệnh lãng quên.
866414072019






Monday, July 1, 2019

Nguyệt san Phật Học

Thưa quý Độc giả,


Do chướng duyên Nguyệt san Phật Học trên mạng nsphathoc.org không thể truy cập được từ tháng 5 năm nay, chúng tôi đã liên hệ với họ nhiều lần, yêu cầu họ trả lại Tên Miền nsphathoc.org, vì họ tự nhiên lấy khỏi Trương mục của chúng tôi, mặc dù chúng tôi đã trả tiền bằng Thẻ Credit Card.

Vì sự làm ăn không đúng đắn đó, chúng tôi quyết không sử dụng công ty Godaddy.com, chuyển sang Công ty khác.

Kể từ 1-7-2019, quý Độc giả có thể truy cập Nguyệt san Phật Học với Tên Miền mới nsphat-hoc.org, gần giống Tên Miền cũ, nhưng giữa chữ phat và hoc có thêm gạch nối. Xin lưu ý chỉ khác với tên miền cũ là có thêm cái gạch nối, tất cả đều liền nhau không có khoảng cách (space).

Trong khi chờ đợi chúng tôi sẽ đưa lên Mạng đầy đủ những số cũ từ Bán nguyệt san Phật Học số 1 cho đến 28 và Nguyệt san Phật Học từ số 29 trở đi. Mời quý vị đọc các số 296, 297, 298, 299 và số 300 của tháng 7 năm 2019, đã được đưa lên Mạng của Nguyệt san Phật Học.


http://www.nsphat-hoc.org


Về Trang nhà Ái hữu GĐPT Vĩnh Nghiêm mời quý vị tiếp tục truy cập theo tên miền như cũ:


Kính chúc quý Độc giả thân tâm thường lạc.

Louisville, Kentucky ngày 1-7-2019

Người chủ trương: 
Phúc Trung Huỳnh Ái Tông





Thursday, June 20, 2019

Những ngày ở San Jose


Trong những ngày ở San Jose năm nay từ 29-5 đến 10-6-2019, Trưởng Nguyễn Quang Vui có đến thăm chúng tôi, biết tôi thích uống trà ngon, nên mang đến cho tôi một hộp trà 313, mấy phong bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, bánh in đậu xanh, chắc là để ăn bánh thưởng thức trà ngon. Anh cho tôi số điện thoại của anh Nguyễn Đình Thống, tôi gọi mấy lần nhưng không được anh Thống bắt phôn. Bây giờ là vậy, thấy phôn có số lạ không bắt máy, vì thường là quảng cáo gọi tới.

Anh Vui quen với mấy anh của Phượng, trong số đó có người nay không còn nữa, anh và tôi trò chuyện khá lâu, trong đó tôi có hỏi anh để mua một cái nón cho Đặng Văn Nữu, anh bảo rằng anh có, anh sẽ mang đến cho tôi, để tôi mang về Việt Nam cho Nữu, nhưng sau khi tôi về nhà, anh gọi điện thoại hỏi thăm và cho biết sẽ mang về Việt Nam cho Nữu, vì anh quên ngày tôi bay về nhà.

Những ngày ở nhà Dĩ - Phượng, buổi sáng Dĩ đưa nhà tôi và tôi đi châm cứu, trừ ngày Thứ Hai Dĩ bận không đưa đi được, chúng tôi phải nhờ Nguyễn Đình Đông. Ngày nào cũng vậy, Dĩ - Phượng phải mất ít nhất ít nhất 3 giờ để đưa chúng tôi đi, về và thời gian chờ đợi châm cứu, sau đó lại phải đưa đi chợ mua thức ăn chay.

Ngày Thứ Bảy 1-6, sau khi đưa chúng tôi đi châm cứu và đi chợ, Dĩ - Phượng đưa chúng tôi đi thăm cô Phỉ Cúc là cô họ của nhà tôi, xưa gia đình cô  Bến Tre, đi học nội trú ở Gia Long, hàng tuần nhà tôi phải vào trường, thay mặt gia đình lãnh cô ra đi ăn sáng hoặc đi chợ mua sắm, nên họ rất thân nhau từ thuở còn cập sách đến trường.

Đến thăm tại nhà người con trai thứ của cô, sau đó cô mời chúng tôi đi ăn, Dĩ đưa đến quán chay Di Lặc, cô gọi mấy món, quán chay nầy có món ngon như gỏi chua, cá chiên.

Dĩ, Tông, cô Phỉ Cúc, Kim Chi, Phượng

Sau khi dùng bữa xong, Dĩ đưa cô về nhà, cô hái cho mấy trái chanh vàng trồng trước sân nhà, có những trái to bằng cái chén. Nói chung thời tiết San Jose thuận lợi, làm cho cho cây, trái hoa đều to và đẹp.


Ngày Chủ nhật 2-6-2019, có một bữa tiệc tại nhà Nguyễn Tấn Thịnh, có mặt Phượng,  Dĩ, Thịnh, Quyên, Thảo, Yên, Đông , An và chúng tôi uống vài chai rượu chát đỏ và một màn Karaoké.


Hôm nào đó, tôi có gọi điện thoại và hẹn cùng anh Trịnh Như Tích, nguyên Hiệu Trưởng Trung Học Kỹ Thuật Gia Định, trưa ngày Thứ Bảy 8-6-2019 đến đưa tôi đi chơi. Y hẹn anh đã đến nhà Dĩ - Phượng.

Trước tiên, tôi nhờ anh Tích đưa tôi đi thăm anh Lê Hữu Chính là CHS KT Cao Thắng, trong thập niên 1980 anh là Phó phòng Kế Hoạch của Công Ty Trang Bị Kỹ Thuật, mấy năm trước anh bị tai biến, tôi có đi thăm một lần, lúc ấy anh chỉ ngồi trên giường tiếp tôi. Nay muốn đi thăm lại, anh Tích phải hỏi tới hỏi lui, đi nhầm 2 lần, lần đầu anh Chính hứa sẽ chạy đến đón chúng tôi trước cổng một nhà thờ, lần sau chúng tôi yêu cầu cho người đến dẫn chúng tôi tại một ngã tư gần một nhà thờ, nhưng anh cho biết các cháu bận nên tiếp tục chỉ đường, may mà anh Tích cũng tìm ra.

Gặp được anh Chính đáng mừng là anh đi lại được, cánh tay trái của anh hoạt động yếu, anh nói chuyện bình thường, tôi chụp chung với anh tấm ảnh.


Tôi cũng không quên chụp với anh Tích một tấm ảnh để làm kỷ niệm, anh với tôi cùng học CĐSPKT, ra trường năm 1966, anh đi dạy ở Đà Nẵng rồi về Nha Trang, sau cùng về Trường KT Gia Định nằm ở vùng An Nhơn, xa hơn Gò Vấp, cách Lái Thiêu một con sông.


Đáng lẽ ra, anh Tích sẽ đưa tôi đi chùa nhưng vì đi thăm anh Chính, nên không có thì giờ đi chùa khá xa, do đó chúng tôi đi uống cà-phê. Nơi quán rất đông khách toàn là người Việt Nam, già có, trẻ có như một quán cà-phê đắc khách ở Sàigòn. Sau khi dùng cà-phê, anh Tích mời tôi về nhà anh dùng cơm, tôi từ chối vì từ tuần trước tôi đã nhận lời với Ngô Đình Học. Do anh Tích không báo trước, nếu biết trước tôi đã từ chối để chị Tích khỏi phải nấu nướng chuẩn bị đãi chúng tôi.

Tuy nhiên, tôi cũng phải đến nhà anh Tích để thăm chị và tham quan cái vườn cây Thiên Tuế của anh. Năm nay trở lại nhà anh, thấy những khóm hoa không còn, thay vào đó là Thiên Tuế và những chậu Bonsai cũng ít đi. Anh Tích và tôi mỗi người có thú tiêu khiển, anh thích chơi Bonsai, cây cảnh, tôi thích viết lách. Với anh Nguyễn Đức Lộc và Lương Văn Nhơn tôi không rõ sở thích của 2 anh nầy. Còn anh Nguyễn Văn Bài và Nguyễn Văn Đước đã mồ yên mã đẹp từ lâu. Đó là 6 anh em chúng tôi cùng khóa 3 CĐSPKT Ban Kỹ Nghệ Họa, trong số nầy có 4 người từng làm Hiệu Trưởng, người trước nhất là anh Lương Văn Nhơn, Hiệu Trởng THKT Kiến Hòa, người kế là Nguyễn Văn Đước, Hiệu Trưởng THKT Tây Ninh, người kế là anh Trịnh Như Tích và người sau chót là tôi.

Trong khi anh Tích chở tôi đi, dọc đường tôi đã kể cho anh nghe, tôi tin con người có số mạng, từ việc tôi đi sang Mỹ định cư năm 1991 thuộc diện HO, mặc dù tôi đi Học tập cải tạo có 2 năm 2 tháng 20 ngày. Việc tôi làm Hiệu Trưởng cũng vậy, tôi đã từ chối với ông Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ Lý Kim Chân không làm Hiệu Trưởng Trường THKT Kiến Hòa năm 1970 thay anh Nguyễn Văn Hoa được du học ở Hoa Kỳ. Năm 1974, từ chối với ông Nguyễn Minh Hoàng Phó Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ để thay Kỹ sư Thịnh làm Hiệu Trưởng THKT Gia Định. Cuối cùng tôi nhận đề nghị của anh Phạm Văn Tài, được ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục ký ngay Nghị Định bổ nhiệm chính thức, chớ không phải là Sự Vụ Lệnh tạm thời.

Vì tôi không dùng bữa cơm, nên chị Tích gửi cho tôi mang về nào là xôi vò, nào là gỏi và thức ăn khác, tôi không dám từ chối tấm lòng tốt của chị.

Gia đình anh Tích và gia đình tôi còn có chung kỷ niệm, có một thời gian vào khoảng năm 1971, chúng tôi cùng ở trọ trong khu nhà của ông Đại Úy Lê Thế Ngọc khu chùa Quản Tám, đường Ngô Tùng Châu Gia Định.

Khi tham dự Hội Ngộ ở Santa Ana, Ngô Đình Học và tôi đã gặp nhau, nên khi tôi đến San Jose, Học mời tôi đi ăn, nhưng sau đó học hẹn đến Thứ Bảy 8-6-2019, sẽ rước tôi đi ăn vào buổi tối, để có Ngô Đình Duy em của Học cùng tham dự. Duy không có học với tôi, chỉ là học sinh Cao Thắng, quen biết nhau trên Mạng do biết Học có học với tôi.

Sau khi anh Tích đưa về, nghỉ một chút thì Học đến nhà Dĩ - Phượng rước nhà tôi và tôi đi đến nhà hàng Di Lặc, chờ một chốc Duy mới đến, vì đi làm nên đến trễ.

Trước khi ăn, Duy chụp cho chúng tôi vài tấm ảnh.


Rồi Duy nhờ người của nhà hàng Di Lặc, để chụp ảnh có Duy làm kỷ niệm với chúng tôi.


Sau bữa ăn, Học hẹn ngày mai sẽ mang cho tôi 1 cái USB trong đó có tất cả ảnh Học chụp trong Hội Ngộ THKT Cao Thắng ngày 26-5-2019 và ảnh Duy vừa mới chụp tại nhà hàng nầy. Hôm trước, khi tôi viết bài về Hội Ngộ, không có tấm ảnh nào, sau đó tôi lấy ảnh do anh Đào Công Minh đưa lên Mạng, lại có đường dẫn đến hình ảnh của Học, nhưng đường dẫn sai, tôi không vào được, nên tôi liên lạc nhờ Học chuyển hình cho tôi. Vì vậy Học chuyển tất cả hình sang USB cho tôi.

Chúng tôi mãi mê trò chuyện, nên là thực khách ra về sau cùng của nhà hàng Di Lặc hôm Thứ Bảy đó. Học đưa chúng tôi về, còn Duy đi xe riêng. Lần nầy trông Duy có vẻ đen và gầy chứng tỏ công việc khá cực nhọc, mấy năm trước Duy làm việc tại San Diego, nhưng xa gia đình. Duy bỏ việc dưới đó trở về gần gia đình,  tiện việc cần chăm sóc đứa con có bệnh, Duy bị thất nghiẹp một thời gian. Nay có việc làm, sống gần gia đình là điều đáng mừng cho Duy.

Ngày Chủ Nhật 9-6-2019, sau khi đi châm cứu về Dĩ Phượng đưa chúng tôi đi viếng chùa Di Lạc, chùa có đất rộng, nhưng xây cất thu gọn, có Chánh điện, Đông lang, Tây Lang và Cổng tam quan vây kín, nên có vẻ ấm cúng.


Chánh điện thờ phượng trang nghiêm. Phía trước có tượng Phật Di Lặc, chung quanh chùa có nhiều tượng Quán Thế Âm, mỗi tượng là một vị thế khác nhau. Tôi thấy có vài Phật tử, hai tay cầm hương đi chung quanh chùa, cứ đến mỗi tượng đứng trang nghiêm xá, rồi đi đến tượng kế tiếp.


Buổi chiều tại nhà Dĩ - Phượng, Học mang đến cho tôi cái USB 32GB, trong đó hình ảnh chứa hơn 29 GB chỉ còn tróng có 55.7 MB mà thôi. Học ngồi nán lại, giải thích cho tôi về cách sử dụng Bộ Gõ Winvnkey và đã tải cũng như cài đặt Bộ Gõ nầy vào cái Dell Inspiron 10” của tôi.

Trong khi đó cô Phỉ Cúc được con trai chở đến để gửi cho con gái tôi một ít trái cây như Mít và Cherry.

Sau đó cô Phỉ Cúc và con trai về trước rồi Học về sau.

Ngày Thứ Hai 10-6-2019, Dĩ - Phượng bận không thể đưa chúng tôi đi châm cứu nên tôi đã nhờ Nguyễn Đình Đông giúp dùm.

Sau khi châm cứu, chúng tôi đến Grand Century Mall uống cà phê. Hôm qua cũng như hôm kia, tôi gọi Nguyễn Vũ Hoàng Cương mấy lần nhưng không được, hôm nay, tôi gọi Cương bắt máy nên tôi mời Cương ra uống cà-phê trò chuyện, tôi hỏi về việc Cương lập gia đình và sang Mỹ, Cương cho biết vợ Cương cũng là thành viên GĐPT, quen biết nhau trên Mạng rồi đi đến hôn nhân. Cương sang đây đã 7 tháng, đã có bằng lái xe, đã có việc làm, Cương làm ở nhà hay Thư viện hoặc ở quán Cà-phê. Nói chung là nơi nào có WiFi để truy cập trên Mạng.

Tông và Đông trong cửa hàng Ca-phê tại Grand Century Mall

Sau đó, Đông mời đi ăn trưa, chúng tôi kéo nhau đi tìm một lúc thì đến nhà hàng Green Lotus nằm xa phía trước bên tay trái Grand Century.

Tại nhà hàng nầy, chúng tôi đã ăn vài lần, nhưng có món mì vịt tiềm là ngon hơn cả, chúng tôi với Đông ăn mì vịt tiềm, còn Cương ăn Bún Huế rồi ăn chè Sâm Bổ Lượng. Sau khi dùng bữa trưa xong, chúng tôi chia tay với Cương. Đông đưa chúng tôi về nhà Dĩ - Phượng.

Cương, Đông, Kimchi, Tông

Đến 6 giờ Dĩ - Phượng đưa chúng tôi ra phi trường San Jose, từ đây chúng tôi đáp chuyến bay đi Los Angeles. Tạm biệt tất cả thân nhân, thân hữu, đồng môn hẹn ngày tái ngộ.

Do tại San Jose máy bay bị hoãn chuyến nên đến Los Angeles trễ, may mà chuyển cảnh hộc tốc mới kịp chuyến bay về Louisville. Đáp xuống phi trường lúc 6 giờ sáng ngày Thứ Ba 11-6-2019, chấm dứt một chuyến sang California đầy ấp tình nghĩa Thầy, trò với Thân nhân và thân hữu đáng ghi, đáng nhớ.
8664190619