Pages

Sunday, March 4, 2012

Nét Văn Hóa Miền Tây


Vài chục năm trước, giao thông cách trở, chủ yếu là đường sông, nào tàu, nào ghe nào xuồng là những phương tiện thông dụng đi trên những con sông lớn, sông bé, kinh rạch chằng chịt ở miền Tây.

Ban đêm ống khói những chiếc tàu kéo ghe, phun ra những đốm tro một màu đỏ lún phún, lại thêm hai hàng đèn màu xanh, đỏ, vàng mắc theo dây giăng từ ống khói đến trước mũi và sau lái tàu, trông đẹp mắt cho lũ trẻ con, ban ngày thấy rõ tàu kéo theo vài chục chiếc ghe thương hồ, chúng cập đôi, cập ba lúc thẳng tấp lúc ngoằn ngoèo tùy theo khúc sông, trông như con rắn khổng lồ đang lội trên mặt nước.

Do giao thông cách trở, đời sống ở quê ít đổi thay, người ta sống bình dị ngày hai bửa cơm rau, gạo cá.

Nhà ở có thể cất với cột tre, cột tràm, đòn tay, đòn dông, rui mè, chỉ với vài cây tre, lợp mái dừng vách với lá dừa nước từ miệt dưới vùng nước lơ lớ mặn, thích ứng với loại cây này.

Gạo ăn, chỉ cần có đôi bò hoặc mua, hoặc nuôi rẽ của người khác, chỉ vài năm là có đủ đôi, canh tác chừng một chục chục công đất thì đủ ăn, đủ mặc, có đất thì làm đất nhà, không thì thuê đất làm tá điền của người khác.

Thậm chí có người không có đất làm, cũng không làm tá điền cho ai, chờ khoảng tháng mười, tháng mười một bơi xuồng vào Đồng Tháp Mười thu hoạch “lúa ma”, đi chừng hai chuyến, đủ ăn cả năm.

Cá, mắm thì không lo, ở đâu có nước là có cá, trên đồng có những thứ cá lóc, cá trê, cá rô, cá sặt, lương … dưới sông có cá linh, cá cơm, cá he, cá lăng, cá trèn, cá chốt, cá chạch … người ta giăng câu, giăng lưới, vãi chài, làm bò, chất chà, đặt lờ, đặt lọp, đặt trúm, xây đăng, kéo vó, làm đìa, tùy mùa, tùy phương tiện bắt cá ăn hàng ngày, có dư đem bán, hoặc gặp lúc được con nước cá nhiều người ta làm mắm, làm khô.

Người chịu khó chân lấm, tay bùn đừng va vào tứ đổ tường thì sẽ dư ăn dư để.

Đời sống dân quê là thế, giải trí thì có hát bội hay cải lương. Hát bội vào những dịp lễ cúng đình, còn cải lương năm khi, mười họa mới có. Thỉnh thoảng những người biết đàn, ca họ tổ chức đàn ca tài tử tại bộ ván gõ trong nhà hoặc trải chiếc đệm ngoài sân với bình trà và dĩa bánh kẹo.

Chủ yếu là đàn kìm, phụ thêm đàn cò, chỗ nào có người chuyên môn mới có thêm đàn tranh, ít người sử dụng đàn độc huyền, nghe đâu họ kiêng cử. Họ ca vọng cổ và những bài bản vắn như Lưu Thủy, Văn Thiên Tường, Khổng Minh Tọa Lầu …

Đó là những cuộc giải trí có tổ chức, ngoài ra còn những cuộc giải trí do ngẫu hứng dựng nên, như khi người ta đi cấy, năm bảy người có khi nhiều hơn, họ hò đối đáp với nhau từ đám cấy này với đám cấy khác gần bên.

Hoặc ban đêm, trăng thanh, gió mát, chèo ghe bơi xuồng trên sông, người ta cũng hay hò cho đỡ buồn ngủ, đỡ cảm thấy vắng lặng, đôi khi có ghe thuyền khác đáp lại, thành ra một cuộc hò đối đáp. Chẳng hạn như có chàng trai đêm thanh vắng hò trên sông:

Hò ơ … Gió đưa con buồn ngủ lên bờ,
Mùng ai có rộng hò ơ … xin cho ngủ nhờ một đêm.

Tiếng một cô gái trên sông đáp lại:

Hò ơ … Một đêm khó lắm ai ơi!
Xuồng kia có chỗ hò ơ … ngủ thời cho quen.

Những người thuộc vọng cổ, đêm thanh, gió mát người ta cũng hay cất cao bài ca vọng cổ, chẳng hạn như bài “Tôn Tẫn giả điên”:

Úy trời đất ôi! Nỗi đoạn trường…, cũng vì tôi đây quá tin thằng Bàn Quyên là bạn thiết cho nên ngày hôm nay thân của tôi phải ra nông nỗi …

Nhưng hát hò hay ca vọng cổ … đều có bài bản, có thứ giải trí không bài bản, nó thường diễn ra hàng ngày như một nếp sống của dân quê.

Ở đó chỉ năm ba người, cứ chiều chiều họ tụ họp lại, nói chuyện trên trời, dưới đất, tam hoàng, ngũ đế, đông tây, kim cổ, chuyện mùa màng, gã cưới …nhờ vậy người ta hiểu được tin tức từ xóm giềng tới làng nọ làng kia, người ta cũng hiểu được chuyện xưa tích cũ, phong tục, tạp quán.

Nơi đó chỉ là cái băng gỗ đơn sơ, người ta chôn hai đầu hai cột gỗ, trên đó lót tấm ván dầy chừng 3 phân, ngang chừng 3 tấc, dài chừng 2 thước, đóng vài cây đinh cho vững chắc, lối xóm cứ chiều chiều tụ tập ra đó trò chuyện, lâu ngày thành một nếp sống cũng có thể gọi là nét văn hóa thôn quê, gọi là Miệt Vườn nó khu biệt vùng Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, gọi là Miền Tây, nó chỉ cho Cần Thơ, Rạch Giá Long Xuyên, Châu Đốc.

Cái băng đó thường người ta đặt bên lề đường, trước cửa nhà hay phía mé sông, ẩn mình dưới tàng cây để che nắng trưa hay chiều, cứ cách xa xa có một cái băng như vậy, người đi đường xa có thể dừng chân ngồi nghỉ, hút điếu thuốc, ăn miếng trầu, trẻ con có thể quây quần chơi đùa buổi sáng hay trưa, khi không có người lớn.

Lại còn một nét văn hóa khác nữa cũng nên nói tới, đó là những cái lu nước ở dọc đường. Nhiều nhà, người ta để một cái lu nước ở chỗ lối vào nhà, ngay chỗ cổng hay ở hàng rào trước nhà, lu nước này không to lớn sức chứa chừng 50 lít nước, có nấp đậy bằng những tấn ván đóng khít vào nhau, để che cho khỏi bụi, lá rơi vào, trên nắp đậy hay trên một cái cây bên cạnh, người ta để một cái gáo dừa có cán tre hay gỗ, người trong nhà cũng như hàng xóm hoặc người đi đường, cứ tự nhiên dùng nước đó để uống khi khát, không phải khách sáo xin phép, cũng không cần cám ơn gia chủ, vì người ta đặt lu nước đó nhằm mục đích cho mọi người dùng, nhất là những khách qua đường, người ta không hẹn, không tổ chức nhưng xa xa chừng 4, 5 trăm thước có một cái khạp nước bên đường như thế.

Hai nét văn hóa một để giải trí, thông tin học hỏi là nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người, cũng là nơi để người ta dừng chân nghỉ ngơi. Còn một để người ta giải khát, tuy nó không phải là việc làm từ thiện, nhưng ngẫm ra nó cũng là do lòng nhân từ, thương người khi đói ăn, khát uống mà ra. Nhớ lại 60 năm trước, tôi từng đi bộ từ chợ Long Xuyên vào Phú Hòa, đâu phải chỉ một lần mà mỗi năm vài lần, vì xe hay đò đều không có, nhớ tới những lu nước hay cái băng bên đường, ngày đó thật là hữu ích vô cùng.

Ngày nay, văn minh tiến bộ, xe chở khách chạy suốt ngày, hàng quán khắp nơi, đẩy lùi nét văn hóa xưa vào dĩ vãng, nét văn hóa ấy đã tạo cho người ta nếp sống hợp quần và đầy lòng nhân ái.

Ngày 12-01-2012

Sách Của Tôi

Gần hai mươi năm sau này, tôi viết nhiều bài vở để đăng trên nguyệt san PHẬT HỌC, Bản Tin của Ái Hữu Vĩnh Nghiêm và các Web do tôi chủ trương như PHẬT HỌC, Ái Hữu Vĩnh Nghiêm, Cựu Học Sinh Kỹ Thuật CAO THẮNG, Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ, do vậy bài vở viết gồm nhiều thể loại khác nhau như Giáo lý đạo Phật, các bài ký, truyện ngắn, phóng tác truyện Thiền, kịch, phong tục tạp quán người Miền Nam, biên khảo Văn học Miền Nam trước năm 1954.

Chỉ có quyển Văn Học Miền Nam là tôi đưa lên Mạng từ khoảng năm 1998, sau đó mong muốn được ấn hành thành sách để phổ biến rộng rải hơn, nhưng chưa thể thực hiện được, cá nhân tôi không có đủ tiền để in ở hải ngoại, còn trong nước thì không thể in được, vì nội dung sách không phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Năm 2009, tôi cho in tại Việt Nam 20 quyển Văn Học Miền Nam, chỉ để tặng một ít người, mang về Mỹ 5, 7 quyển chưa tặng ai cả. Trong tập sách này, gồm một nền văn học trên dãi đất mới khai phá từ năm 1623 đến năm 1954, văn học mới lạ chủ yếu là chữ quốc ngữ, chữ đã dễ học, dễ đọc dễ phổ biến sâu rộng lại được sự yểm trợ của nhà cầm quyền - thực dân Pháp - chịu ảnh hưởng một phần của nền văn học Tây phương, nó mới nó lạ, lại được gieo trên miền đất mới nên sớm phát triển nào là báo chí, truyện (thơ), tiểu thuyết, thơ mới … Trên Mạng đã được nhiều người đọc như Chương Nguồn Gốc Chữ Quốc Ngữ, Chương Các nhà văn quốc ngữ tiền phong, chương này có Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, Trương Minh Ký.

Các trang Web ở hải ngoại cũng như trong nước đã đăng lại như: tailie ụvn , songviet.com, namkyluctinh.org, hobieuchanh.com, quangda-dfv.org, dunglac.org, quocgiahanhchanh.com, chimviet.free.fr, vantuyen.net …

Tiểu sử và văn nghiệp của Trương Vĩnh Ký hay Phan Thanh Giản đối với người miền Nam thì rất quen, nhưng những người miền Bắc hay những thanh thiếu niên mới lớn sau này, đọc tiểu sử những vị này thấy mới lạ, bởi vì trước đó họ đã bị liệt kê vào những kẻ phản quốc, tên tuổi họ không được nhắc tới dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, có thể nhờ vào sự phổ biến Văn Học Miền Nam trên Mạng, lại trùng hợp vào thời buổi đổi mới, nên Phan Thanh Giản cũng như Trương Vĩnh Ký đã được đánh giá lại công nghiệp của họ, tôn vinh họ đúng vị trí trong văn học.

Trong quyển Văn Học Miền Nam này, tôi thấy mình may mắn chọn được một đề tài còn sơ khai, ít người quan tâm, hoặc do tài liệu rất khó sưu tầm, nên nó được nhiều người đọc, các bài đăng tải lại được lấy từ Trang Web Hậu Giang của tôi, từ lâu Web Hậu Giang đã không còn, nhưng những bài này đã có trên Trang Web Ái Hữu Vĩnh Nghiêm từ khi được thành lập năm 1998 tới nay. Dĩ nhiên một ngày nào đó nó sẽ không còn, cho nên việc in thành sách là điều cần thiết để gìn giữ lại.

Do đã in được quyển Văn Học Miền Nam, nên tôi muốn sưu tầm các bài đã viết khác thành các tập sách, in ra để dành đọc vẫn thích hơn là đọc trên máy vi tính, năm 2011 về Việt Nam, tôi soạn và chuẩn bị in 6, 7 tập sách, nhưng cuối cùng chỉ in được có 3 tập: Truyện Của Tôi, Dấu Xưa và Trên Cành Chim Hót, mỗi tập mới in thử vài ba quyển nhưng cũng chưa hoàn thiện, những tập khác như Các bài Học Phật, Rồng Hiện, Đường Về Cõi Phật, Thế Sự không in được.

Vì chuyện dỡ dang đó, con trai tôi đã lên Mạng tìm kiếm và đã tìm được nơi in sách tại Mỹ dù chỉ in một cuốn mà thôi, sách in đen trắng tối thiểu 84 trang và tối đa 740 trang, bìa mỏng in màu. Với 84 trang kể cả bìa in màu sách khổ 5.5” X 8.5” giá mỗi cuốn là $3.76 chưa kể cước phí gửi sách.

Để in sách, chúng ta có thể tự dàn trang, làm bìa, muốn vậy phải xem hướng dẫn của họ, nói chung, nội dung chúng ta sẽ phải dùng phần mền Adobe Reader để tạo dạng hồ sơ PDF, còn bìa màu chúng ta phải sử dụng hình, cần phần mềm Microsoft Office Publisher 2007 hay 2010 để tạo ra hình ở dạng jpg. Họ cũng nhận dàn trang và làm bìa, nhưng tôi không biết giá cả, vì tôi tự tay làm cho được vừa ý mình, tuy không được đẹp lắm nhưng đỡ tốn kém. Quý bạn nào muốn tìm hiểu xin tìm tới lulu.com. Lulu cũng nhận bán sách cho tác giả in tại đây.

Nay những tập sách kể trên được in ra, nhằm mục đích gìn giữ lại những gì tôi đã viết ở dạng sách, không nhằm mục đích kiếm thêm thu nhập, đương nhiên có tập sách bài vở được chọn lọc theo đề mục, nhưng cũng có tập bài vở tập họp ngẫu nhiên, do vậy sẽ có tập hay về phương diện này nhưng kém về phương diện kia, dầu là tập nào cũng đều là bài viết của tôi, bạn nào muốn có sách có thể mua tại lulu.com, còn bạn nào chỉ muốn đọc thôi, thì đã có những sách đó tôi để trên Mạng. Tuy nhiên tôi hy vọng sẽ được bạn đọc, bạn bè cả học sinh cũ của tôi đón nhận, như một món quà hay một vật kỷ niệm vì trong đó mang chứa những hình ảnh thời niên thiếu của chúng ta, hoặc có thể mang tới cho người đọc đôi điều hiểu biết thêm.

Viết sách để có nhuận bút, việc này tôi đã làm từ trước 1975, vài quyển sách chuyên môn tôi đã bán bản quyền cho nhà xuất bản Chiêu Dương, nhà sách Khai Trí, đó chỉ là việc làm phụ hay đúng hơn là nhằm mục đích giúp cho học sinh có sách giáo khoa học khỏi phải chép bài.

Nay đã về hưu rồi, không còn “tam thập nhi lập”, không bon chen mọi việc làm đều dành cho việc an dưỡng tuổi già, viết để cho bộ óc làm việc, đi bộ để cho thân thể hoạt động, mọi thứ tiết độ để sống được an vui, không tật bệnh. Đó là hạnh phúc của tuổi già ai cũng phái bước tới.

4-3-2012

Monday, January 30, 2012

Tản mạn về Lão tiền bối Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha

Chánh Hạnh

Do lục tìm tài liệu để viết về cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, ông cũng như bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám ở Trung, ông Đoàn Trung Còn ở Nam đều là những bậc thiện tri thức, góp tay đắc lực vào sự nghiệp phục hưng Phật Giáo Việt Nam vào tiền bán thế kỷ XX.

Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha chẳng những người ta biết ông là người tiên phong cùng với Hòa Thượng Thích Trí Hải, thành lập xây dựng nên Hội Việt Nam Phật Giáo ở Hà Nội năm 1932, mà người ta còn biết ông là soạn giả quyển Hán Việt Từ Điển, đã được phổ biến rộng rãi từ Bắc chí Nam, sinh viên và những người học Phật thường dùng tới nó.

Sau khi viết xong bài, tôi nhớ đã có đọc đâu đó chửu là cây chổi, vậy chữ Hán ra sao? Tự nghĩ, muốn biết phải lấy quyển Tự điển của ông ra tìm, chắc tên ông có ghi Hán tự. Lấy quyển Hán Việt Tự Điển do Nhà Xuất Bản TP Hồ Chí Minh tái bản, in năm 2004, tôi thấy bìa chỉ có ghi bốn chữ Hán: 典 字 越 漢, còn tên ông không có ghi chữ Hán, tôi lật những trang sách ở bìa sau để tìm Bảng tra chữ, tôi thấy có 3 chữ Thiều: : Thiều: thiều nghiêu: cao trot vót (trang 161), Thiều: 1: tên một khúc nhạc của vua Thuấn nhà Ngu. 2: tốt đẹp (trang 751), Thiều: trái đào. Trẻ con để hai trái tóc hai bên gọi là thiều (trang 779). Trong ba chữ này không có chữ nào liên quan đến cây chổi cả.

Tìm chữ Chửu thì không thấy có, trong một tài liệu, tôi có thấy một người cháu viết tên ông là Thiều Chĩu, xin chép lại:

TRẦN ĐÌNH THẮNG

BÁC TÔI

Kính dâng bác Nguyễn Hữu Kha
Thiều Chĩu

Nắng vô tư rơi trên Văn Miếu
Rọi vào trong đó thấy ánh hào quang
Tôi nắm tay quay thời gian trở lại
Hạt vàng lấp lánh gieo mầm tương lai.

Bác tôi sinh ra giữa giòng Hà Nội
Người yêu Hà Nội văn hiến ngàn năm
Ý chí dâng cao lên đài thiên trụ
Để rồi nhìn thấu nỗi lòng nhân gian

Bao nhiêu Kinh, Thư sáng lòng nhân loại
Cả đời Bác sống rộng cõi thiện tâm
Lấy mỗi khó khăn làm điều thích thú
Khó khăn càng nhiều thong tuệ càng cao

Bác sống bao dung giữa thời khói lửa
Nuôi trẻ mồ côi, yêu nước, thương dân
Lấy nỗi oan khiên làm môn đạo hạnh
Nào ngờ Bác gánh, gánh cả dòng sông

Năm mơi hai năm không hề mệt mỏi
Vạn ngàn năm tới, sống vạn ngàn năm

Nhân kỷ niệm 100 năm
Ngày sinh nhà văn hóa Thiều Chĩu

Quốc Tử Giám, ngày 21 tháng 6 năm 2002

Tưởng cũng nên chép thêm bài của người học trò tưởng nhớ tới ông:

Ngô Kim Thanh

Biết ơn thầy

Năm mươi năm đã qua rồi,
Ơn Thầy dạy bảo nên người hôm nay.
Hương phong học đạo những ngày,
Rau dưa đắp đổi cùng Thầy tản cư.
Qua vùng Tam đảo, Tiên du,
Thác ghềnh nào quản, đường tu chẳng sờn.
Theo Thầy vì nước vì non,
Học Thầy bao nét lòng son không mờ.
Con đường học Phật, làm thơ,
Bằng bằng trắc trắc – còn ngờ chiêm bao.
Người Thầy đức rộng tài cao,
Tấm gương vô giá con nào dám quên.
Hôm nay dâng nén hương nguyền,
Cầu mong kiếp tới lại xin làm trò.

Trích Tạp chí XƯA & NAY - Tạp chí TIA SÁNG

Tìm chữ Chĩu cũng không thấy có. không thấy chữ làm sao tra theo bộ hay theo nét! Tôi đi lấy quyển Hán Việt Từ Điển của Nguyễn Văn Khôn, quyển này chỉ có tra theo bộ hoặc theo số nét, nên không thể dùng trong trường hợp này. Tôi lấy quyển Từ Điển Hán Việt của Trần Văn Chánh, quyển này có Bảng tra theo phiên âm Hán Việt và Bảng tra theo phiên âm Bắc Kinh.

Tôi đã tìm thấy 6 chữ Thiều: , , , , , . Riêng chữ Thiều (trang 1722) Điều, thiều [tiáo] Hoa lau, hoa lăng tiêu 苕 帚 Chổi lau.

Như vậy chữ thiều cũng đọc là điều, chữ kia tôi không biết là chữ chi nhưng có thể đếm nét hoặc tìm bộ mà tra chữ. Tôi không làm thế, lại lấy từ điển của Thiều Chửu tra chữ Điều ở trang 542: ĐIỀU: hoa lau, cành nứt nở ra hoa, không có bầu có cánh, nay ta gọi trẻ em xinh đẹp là điều tú - , ý nói như hoa lau một ngọn đã nứt ra hoa vậy. Người ta lại dùng những cánh nó làm chổi gọi là điều trửu - , ta quen đọc là chữ thiều.

Còn chữ Trửu cũng tự điển của ông trang 169: TRỬU: cái chổi, cái dùng để quét, để giặt rửa gọi là trửu.

Như vậy chữ Trửu biến âm Chửu, tôi tìm tới Nam Hoa Tự Điển của Nguyễn Trần Mô in năm 1940, chữ h’ (Thiều) Hoa lau. - Chổi lau: Thiều chỉu. - Người ít tuổi mà thông minh: thiều tú (trang 232). Chữ h’ (Chỉu) cái chổi quét. (trang 81). Trong bảng Tra chữ, có chữ chửu trang 262 nhưng tôi tìm trong trang 262 không thấy có chữ này.

Tôi cũng có tra H án Việt Tự Điển của Thiều Chửu trên Mạng trong Hanosoft hay HanvietSoft của Tống Phước Khải, ch: trửu (8n) (1) Cái chổi, cái dùng để quét giặt rửa đều gọi là [b] chửu [/b]; còn chữ trửu, chửu (14n) (1) tục dùng như chữ [b] trửu [/b] .

Tôi tra lại chữ trong Tự điển của Thiều Chửu chỉ có ở Phụ lục bộ Trúc (trang 468) ghi như sau: TRỬU: tục dùng như chữ . Tóm lại trong Hán Việt Từ Điển của Thiều Chửu không có chữ nào âm Hán Việt ghi là Chửu cả, chữ Chửu trong Hán Việt Tự điển trên Mạng, thật ra không hề có trong nguyên bản.

Thay vì pháp hiệu Điều Trửu, ông đã dùng chữ Thiều Chửu, để cho ai học Hán văn lơ tơ mơ như tôi, học mà không văn ôn võ luyện, thì nào là Hán Việt Từ Điển của Thiều Chửu, của Nguyễn Văn Khôn, của Trần Văn Chánh, của Vĩnh Cao-Nguyễn Phố, của Nguyễn Trần Mô của Lạc Thiện Tăng Văn Hỉ, lật mệt nghỉ nào là tra bảng, tra bộ, đếm nét.

Tôi nhớ lúc đi học Hán văn, tôi có mua quyển Hán Việt Từ Điển của Thiều Chửu, không nhớ của nhà xuất bản nào, quyển ấy có tấm ảnh Thiều Chửu in màu đỏ tím, không có Bảng Tra chữ, quyển này tôi đóng bìa cứng chữ mạ vàng không có mang sang Mỹ. Bảy, tám năm sau nhà xuất bản Khai Trí tái bản mới có Bản tra chữ ở sau sách. Tôi cũng có một quyển Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh (in năm 1932) do nhà sách Minh Tân ở Paris tái bản in khoảng năm 1960, vì sách dầy, nặng nên tôi không có mang theo.

Đó là nói về Tự Điển, còn nói về học Hán Văn, lúc nhỏ tôi được thân phụ giao cho quyển Tam Thiên Tự, chỉ thuộc được vài trang rồi lo chơi quên học, đến lúc vào Đại học, học một lớp vở lòng vài buổi với Đào Mộng Nam ở giảng đường chùa Ấn Quang, Sàigòn do ông Hồ Hữu Tường tổ chức, sau đó mới học ở lớp với giáo sư Phan Hồng Lạc, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Đức Rật, Trần Trọng San, Huỳnh Minh Đức, nay vốn liếng không còn chi, ơn Thầy nào dám quên, “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”.

Lại một chuyện nữa, có người cho rằng Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha từng được mời tham gia Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa vào năm 1945 với tư cách là Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, việc này tôi nghĩ rằng không đúng vì mấy lý do sau đây:

Thiều Chửu ở chùa Quán Sứ, nơi một số quan lại làm việc cho Pháp, hai nữa là Phật giáo, ba nữa là Chánh phủ Liên Hiệp là lien hiệp các đảng phái mà Thiều Chửu không đảng phái nào. Cho nên, nếu không có bằng chứng như thư mời, thư từ chối thì không đáng tin và không nên lưu truyền việc này.

Thêm một chuyện nữa, Thiều Chửu tự trầm mình, để lại ba bức thư cho nhà cầm quyền là một hình thức phản kháng, nên những thư ấy từ lâu không được phổ biến rộng rãi, ông trầm mình để minh oan cho sự trong sạch của mình, nhưng không phải vì chánh sách ruộng đất, bởi vì khi ông mất, ngày 15-7-1954, hội nghị Genève đang họp, đến 20-7-1954 mới ký Hiệp định. Trên đất Bắc năm 1955 mới có chánh sách cải cách ruộng đất và phong trào đấu tố địa chủ, cường hào, ác bá.

Viết để tưởng niệm bậc tiền bối hữu công với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc, gần sáu mươi năm qua đạo pháp đã hưng thịnh đến đâu và dân tộc được hưởng ấm no hạnh phúc như thế nào !?

Ngày 28-01-2012