Pages

Tuesday, July 26, 2022

UNOFFICIAL

 

Kinh chào thầy,

 

Hôm rồi Bảo đến chơi. Anh em nói chuyện về các thầy các bạn Nguyễn Trường Tộ năm xưa. Em rất mừng biết được thầy Thuận, thầy Phấn và thầy Tông khỏe mạnh. Ký ức không có tuổi và cái cũ trong hoài niệm không già. Dễ thương quá.

 

Em trích gửi các thầy mấy bài viết ngớ ngẩn của em trong lúc lòng có chút ngập ngừng. Đọc cho thấy tâm sự của học trò thầy.

 

Chúc thầy an khang và hẹn gặp.

 

Học trò Hải

 

Ngày 11 tháng 7 năm 2022

 

Một khi phải đi tìm quê hương khi quê hương còn đó hoặc đi tìm quê hương trên quê hương mình đang sống, cảm giác bị bỏ rơi hay sự lạc lỏng không còn đơn thuần là hiện tượng tản mạng. Có nhiều lý do cho những hoàn cảnh khác nhau đưa ta vào con đường đó. Có thể là một cân nhắc chọn lựa hay một quyết định nhất thời tình huống. Dù với lý do gì, ta cũng đã mất đi hoặc bỏ lại hoặc không thể cùng chung sống người ta đã sống và chia sẻ buồn vui hạnh ngộ, để lại sau lưng con đường tới trường, công viên chiều mưa hẹn hò ...

 

Với những ai sống qua thời bao cấp con người phải chia nhau từng kí gạo kí bột vài trăm gram đường đôi khi thử thách khắc nghiệt hơn làm lý trí ta nhỏ lại đạo nghĩa con người tuột dốc đến thảm thương. Nhưng khi qua đi, dù muốn hay không, chỗ trú của hoài niệm vẫn rộng lượng đón nhận chúng như một mặc nhiên. Và như thế trong ta mở sẳn ra một vô thức quay về ở phía trước, đôi khi đi xa hơn là một tâm thức, chiêm nghiệm, phân tích có cả cười khóc và tự trách ở đây với một số người là một bài học với một số khác là lịch sử chôn vùi muốn quên.

 

Người mất quê hương ngay trên quê hương mình đang sống chọn cho mình: một là quên đi cái ưu tư thực tại xã hội dấu đi bất đồng về nguyên nhân của thực tại, hai là tích cực tìm cách tỏ bày phản biện với chính quyền đương cục về thực tại xã hội, đất nước. Tâm khổ của cả hai cơ bản giống nhưng thân khổ cụ thể dành cho họ thường khác nhau. Khung cảnh của bài viết ở đoạn này không cho phép mở rộng thêm.

 

Người mất quê hương ngoài quê hương sẽ bơi mãi giữa dòng chổ xa nhất của cả hai bờ - bờ ta và bờ tây, bên lở và bên bồi - chổ sâu nhất của dòng sông họ bơi. Quay về bờ ta ư? Ngổn ngang khác biệt trong suy nghĩ và lề lối làm việc của cả hai bên làm họ khó chấp nhận nhau đó là chưa nói đến sự nghi kỵ cố hữu lịch sử mà ta dường như chưa hoặc không vượt qua được. Có ở mãi bờ tây thì mình cũng vẫn là ta dù cố gắng ổn định đời sống và gặt hái chút thành tựu nào đó. Nói một cách thậm xưng, họ là người mất trinh tiết quê hương. Quê hương với họ giờ đây là hoài tưởng, là hướng về bờ ta trong thụ động. Quê hương với họ bây giờ là sự ký gởi chốn dung thân trong sự hội nhập đầy miễn cưởng khập khễnh và ôm ấp nguyện vọng "hy sinh đời cha cũng cố đời con" ở bên bờ tây. Tất nhiên con đường thực hiện cái nguyện vọng này ở bờ ta và ở bờ tây không giống nhau.

 

Nước mắt Người Mẹ Việt Nam dù ở bên nào cũng khô dần theo khói lửa chiến tranh. Những đứa con Lạc Hồng của mẹ, đã chạy trên cái bánh vẻ thiên đường ảo tưởng ngoại lai, hy sinh dân tộc để dành lấy cái vinh quang dối trá. Nước mắt cạn dần từng ngày của mẹ không lay tỉnh được con mình. Chút tàn lực của mẹ già sau tíếng súng tiếng bom cũng vẫn dành cho con trên con đường tìm xác nhặt xương con mình trên cánh đồng tan hoang miền Tây, trong rừng núi heo hút Trường Sơn, trong đống gạch vụn gây ra trong các đợt giải thảm B52 ở Khâm Thiên Bạch Mai, ... . Cười hay khóc, thắng hay bại cũng thế thôi - vẫn là nước mắt của mẹ.

Đôi khi tức cảnh sinh tình

Nhìn xem thiên hạ có nhìn mình không

Lắm khi đi lại về không

Nhìn đâu cũng thẩy người không nhìn mình.

 

Tỉnh Mê

 

Ngày đi trên giọt sương tan

Nắng trong mấy chốc chiều tàn về ngang

Tối về ngẫm nghĩ vô vàng

Vu vơ vớ vẫn nhập nhằng đau thương

 

Đêm qua giấc ngủ vô thường

Kiến Phật diện Chúa yêu thương vô cùng

Sáng ra tỉnh giấc mông lung

Dường như chưa ngộ đoạn trường hư vô

 

Vui Buồn

 

Vui khi nâng chén cụng ly

Buồn khi lật tẩy buông bài đứng lên

Vui buồn chẳng phải mình nên

Thế nên đời có nhiều tên như mình

 

Vui khi nắng sớm bình minh

Buồn trong đêm vắng một mình thở than

Vui buồn vì mãi lỡ làng

Nhìn quanh ai cũng dở dang một lần

 

Vui khi họp bạn xa gần

Buồn như tiệc rượu vừa tàn tối qua

Vui buồn cũng phải về nhà

Giường đơn gối chíếc là cha trên đời.

 

Ví bằng chẳng có cuộc chơi

Làm sao lên được cổng trời thiên thu

Nếu như “con ta còn ngu” (? Cu ta còn ngon)

Đời ta vẫn phải chu du ngao bồng.

 

Cõi Đi Về

 

Làm thơ trao đổi cùng bạn cũ

Để cõi đi về chút thảnh thơi

Lời “không” sắc nhưng tình thấm đậm

Trên đường về còn mãi tiếng người

 

Làm thơ bát cú không vần điệu

Để chữ “không” còn biết lả lơi

Tung lên reo xuống chỉ có thế

Một cõi đi về một cõi thôi.

 

Ta Là Ai

 

Ta là nấm sinh ra từ lá mục

Nở dịu dàng khi đêm lặng thầm thì

Ta là trinh nữ trên đồi hoang vắng

Khép nhè nhẹ lá khi chạm tay người

 

Ta là ai mà hiện hữu ở đời này

Từ giọt máu cha ngay trong trứng mẹ

Cõi nhân sinh biết bao niềm u uẩn

Ta sinh vật nhỏ nhoi biết thét gào

 

Chết một lần trên đất khách lặng câm

Hồn vất vưỡng trong tha ma hốc đá

Ngã sông hồ bè bạn với gió tây

Rồi đông đến hoang lạnh miền mưa tuyết.

 

Cảm xúc

 

Cảm xúc của mình hay của bạn là cảm xúc của người. Nói lên hay nói dùm là nói cho người. Khi nói dùm cảm xúc của người khác là cảm nghĩ của mình về cảm xúc của người khác. Niềm vui hay nỗi buồn nhân thế nói đi nói lại từ lúc có ngôn ngữ. Cái thực khách quan thì cái phỏng họa chủ quan. Chưa một lần ngữ ngôn đi đến cùng sứ mạng của nó và cũng chẳng bao giờ cho đến tận thế. Như vậy, còn người còn ngôn ngữ còn nói. Nói nữa nói mãi để xin người là người.

 

Trăng Khuyết

 

Những giòng sông quanh-quẩn

Chia-cắt những cuộc-đời

Những mảnh đời lấn-cấn

Theo chuyến đò phân đôi

 

Những cuộc tình trên cát

Hoang vu lời hẹn thề

Những nữa vần trăng khuyết

Làm nên cuộc đi về.

 

 

Sẻ nửa vầng trăng trăng nhỏ máu

Ôm nửa vầng ấp đủ u sầu

Mang tháng ngày khỏa lấp thực tại

Ta vẫn tỉnh say buốt canh thâu

 

Tìm trong áo mới hương năm cũ

Gửi thương vào nhớ chốn mộ sâu

Gọi tên người mãi trong giấc ngủ

Người ấy bây giờ đang ở đâu

 

Ướp cánh hoa tàn vào kỉ niệm

Trạm lên xương lá khô một mầu

Khắc tạc rừng chiều sim tím úa

Trời đất vì nhau xưa khóc ngâu

 

Phủ mưa nắng tuyết lên trên cỏ

Đắp đầy tuyệt vọng một đời đau

Đào trong ký ức mầm nhức nhối

Một đời kinh khổ xin nguyện cầu. 


UNOFFICIAL

Friday, June 3, 2022

Nhớ chuyện xa xưa

Mấy hôm nay, sau ngày sinh nhật thứ 81 của tôi, đặc biệt năm nay lại trùng với ngày sinh của Thái tử Tất Đạt Đa, tôi được bạn bè và nhiều cựu học sinh gửi đến chúc mừng, gợi cho tôi nhớ đến những chuyện xa xưa đã trên nửa thế kỷ.

Trước tiên tôi nhớ đến những ngày ở trong quân trường Thủ Đức rơi nhằm dịp Tết Mậu Thân, bị cấm trại liên miên nên không thể đi phép, có lúc nằm luôn ở trạm gác 13, nhìn ra xa lộ Sàigòn – Biên Hòa thấy xe chạy nhớ nhà lòng buồn khôn tả. Có hôm ngoài xa lộ đụng nhau súng nổ, đạn bay vèo vèo, tưởng là VC phục kích xe Mỹ, sau nghe lại xe của Đại úy Mẫn chồng của Thanh Nga đụng độ với toán tuần tiểu.

Sau khi ra Trường lại tiếp tục học ở Trường Quân Cụ tại Gò Vấp, gần ngã Năm chuồng chó, vì nơi đó là ngã năm lại có đơn vị quân khuyển, trên con đường nầy đầu kia là ngã ba Chú Ía, ở giữa là bệnh viện Cộng Hòa, tuy là con đường ở ngoại ô Sàigòn, nhưng nổi danh trên toàn quốc.

Sau khi ra Trường Quân Cụ, tôi lại chọn vùng IV, trong khi có 1 chỗ là một đơn vị Đại Đội Quân Cụ, đồn trú sát ngã năm, bên cạnh chuồng chó. Chọn xong bạn bè ai cũng tiếc cho tôi đã bỏ mất một chỗ tốt, nếu chọn Đại Đội đó tôi được ở gần nhà với vợ con ngay tại thủ đô Sàigòn, ngược lại tôi đã chọn vùng IV là Miền Tây.

Thế rồi tôi được phân bổ về Đại Đội 21 Quân Cụ, tức là đại đội yểm trợ cho Sư Đoàn 21 Bộ Binh có bản doanh đặt tại Bạc Liêu, còn Đại Đội đồn trú tại thị xã Sóc Trăng gần rạp chiếu bóng Hòa An, cạnh chùa Năm Ông, tôi đến nhằm lúc đơn vị di chuyển đến Trung tâm huấn luyện nghĩa quân trên đường đi Bãi Xào, chưa đến Đài Phát Thanh Ba Xuyên, cách không xa chùa Dơi theo đường chim bay.

Chùa Dơi ở Thị xã Sóc Trăng

Tôi đồn trú nơi đơn vị nầy là Tiểu Đoàn 21 Tiếp Vận, trong đó có Đại Đội Bảo Toàn, gồm có Đại Đội Quân Cụ và các đơn vị Quân Nhu, Quân Vận, Truyền Tin. Tôi ở đây chưa được 1 tháng thì được phân bổ làm Trung Đội Trưởng Trung Đội Sửa Chữa, đồn trú cạnh Trung Đoàn 32 của Sư Doàn 21 để yểm trợ đơn vị nầy.

Mặc dù là khoảng hè năm 1969, nhưng tình hình vẫn chưa được an ninh, khi tôi đi từ Cần Thơ đến Sóc Trăng phải chờ và đi theo một đoàn có hộ tống (convoy) và từ Sóc Trăng đi Cà Mau, tôi cũng phải tháp tùng theo đoàn hộ tống.

Đến Cà Mau đơn vị tôi có doanh trại ở trên sân quần vợt của Ty Tiểu Học, ở trước mặt Ty, cách nhau một con đường, bên cạnh đơn vị tôi là một đơn vị của Mỹ, thỉnh thoảng có người Việt trộng tuổi đi vào đó, lính của đơn vị tôi cho tôi biết đó là những người dân “bán tin” cho Mỹ. Cạnh Ty Tiểu Học là bản doanh của Trung Đoàn 32, tôi được biết Trung đoàn trưởng là người cùng quê với tôi, anh Trung Đội Trưởng, người tiền nhiệm có đưa tôi sang thăm xã giao Trung Tá Bông, gặp ông Bông tôi không hề cho ông ta biết chúng tôi là người cùng quê.

Không xa nơi tôi đồn trú là Ty Cảnh Sát, anh Trung Úy trưởng phòng hành chánh là bạn của tôi lúc ở Sàigòn, anh ta đã về đây có vợ con, đôi lần tôi có đến thăm anh ta tại trại gia binh ở trong ty, nhưng tôi trông thấy cảnh những người bị bắt, giam ở Ty leo nheo, lóc nhóc với đám con nít, nên tôi chỉ đến thăm anh ta vài lần mà thôi, đôi khi anh ta lấy xe cảnh sát chở tôi đi ăn kem hay uống cà phê.

Ở tại chợ Cà Mau cách đơn vị tôi có 2 ngã tư cùng một con đường, có một cửa hàng điểm tâm của người Hoa, là tiệm nước Đông Viên nơi đây luôn nhộn nhịp thực khách ăn sáng với hủ tiếu, mì, bánh bao, xíu mại, dò chéo quãi … Sáng nào chúng tôi cũng kéo nhau ra đây uống cà phê. Đặc biệt ở đây có một cậu “phổ ky”, tuổi chừng 15, 16 thích kết thân với mấy anh lính của đơn vị tôi, cứ mỗi Thứ Ba khoảng 10 giờ sáng, anh phổ ky nầy mang vào trại chúng tôi một thau “xíu quách”, kèm theo một chai Whicky-Cô, là rượu đế pha với Coca Cola. Tôi không hiểu cậu phổ ky nầy được chi mà chìu lính của đơn vị tôi như vậy ? Tôi chỉ biết những người làm nơi quán đó, mỗi người đều được một phần xíu quách trong ngày nhất định của tuần lễ.

Có một chị ngoài 50, hút thuốc Ruby, nên các anh lính của đơn vị gọi chị ấy là bà Hai Ruby, thỉnh thoảng vào buổi tối ghé vào đơn vị đánh bài với mấy anh lính, đến khuya không còn xe Lam về, chị phải ngủ nhờ, nằm chung với anh Trung đội phó trong chiếc xe sửa chữa.

Tôi ở đây được 1 tháng thì đơn vị được cải tổ, một anh xung phong nhận thay tôi, để tôi trở về đơn vị tại Sóc Trăng, giữ chức Trung Đội Trưởng Hậu Cứ, ngày tôi trở về đơn vị cũng phải chờ mấy hôm mới có đoàn hộ tống để lên đường.

Lúc ở Cà Mau đơn vị tôi không có xe jeep, nên chúng tôi mượn xe của Trung Đoàn 32, tôi ra phi trường Cà Mau tập lái mấy hôm cho nhuần nhuyển. Khi về lại Sóc Trăng anh em Quân Vận làm cho tôi cái bằng lái xe, mặc dù Sĩ Quan không được phép lái xe, vì có tài xế lái, nhưng tôi được cấp 1 chiếc A2 hay là M151 và anh tài xế Linh.

Về đây có anh Nô chuyên viên kỹ thuật của rạp chiếu bóng Hòa An, thích đi chơi và đi uống bia với chúng tôi. Tôi nhớ có một buổi tối đã gần 9 giờ, phố xá vắng chúng tôi buồn, nên rủ nhau vào hồ nước ngọt bắt “Bò lạc”, trong nầy có một Tinh Xá, thỉnh thoảng vẫn có người đi hóng mát, tối đó chẳng có bóng ma nào, lúc chúng tôi quay xe ra về, dọc đường gặp con rùa bằng cái tô, anh em bảo nhau thôi thì bắt rùa về nấu cháo ăn, tôi nhớ thỉnh thoảng anh em có đãi chúng tôi món rùa nấu thuốc bắc, nhưng chưa hề nếm được rùa nấu cháo. Chúng tôi bắt con rùa bỏ lên xe, chạy về nhà bên vợ của Nô ở gần Bãi Sào để nấu cháo, ăn đêm.

Rạp chiếu bóng Hòa An ngày xưa

Nấu cháo xong, Nô dọn chén, đủa lên bàn ăn rồi bưng nồi cháo rùa đặt giữa bàn, giọng bí mật:

- Mời quý bạn cùng thưởng thức món để đời của chúng ta.

 Đã gần khuya, bụng cũng đói, cảm thấy mùi cháo lại đói hơn.

Ai cũng bưng chén cháo lên húp, nhưng cháo là cháo trắng không mùi vị mà thịt rùa là thịt rùa, hai thứ đó không san sẻ nhau chút gì, cho nên người ta thường nói “Húp cháo rùa”, lúc đó chúng tôi mới hiểu câu tục ngữ “Húp cháo rùa”. Theo tôi rất nhiều người nghe nói: “Húp cháo rùa”, nhưng đêm đó tôi mới được thực tế.

Tôi ở đây được 2 tháng thì có giấy biệt phái về dạy học lại. Lâu rồi tôi ít khi gặp lại những bạn đồng ngũ. Một lần cách nay chừng 10, 15 năm một hôm đi Viếng chùa Sư nữ Linh Phong Cổ Tự ở Đà Lạt, may mắn được gặp lại anh Bửu Cầu, đồng đội của tôi ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, anh Bửu Cầu ở đó vì Sư cô Trụ Trì là người Hoàng tộc cùng họ hàng với anh. Gần đây, về Việt Nam gặp lại anh Trần Minh Nhật cũng là bạn cùng khóa ở Trường Bộ Binh và Quân Cụ, Nhật nay ở West Virginia, thỉnh thoảng gọi điện hỏi thăm nhau và hẹn gặp lại ở Việt Nam.

Những ngày tôi ở Cà Mau, Sóc Trăng nhớ lại như mới đó, vậy mà đã trên nửa thế kỷ trôi qua, với biết bao đắng cay của những ngày tù tội, lại hiểu thêm: ”Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Cứ mỗi lần nhớ đến câu nầy lòng buồn ứa nước mắt.

866403062022