Pages

Tuesday, October 7, 2014

Nhà văn Đặng Thúc Liêng



Đặng Thúc Liêng (1867-1945)

Đặng Thúc Liêng sinh năm 1867 ở làng Tân Phú Trung, Hóc Môn, Gia Định nay thuộc xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Tp HCM.

Cha ông là Đặng Văn Duy, có công lao chống Pháp tại mặt trận Gia Định. Sau khi Đại đồn Kỳ Hòa thất thủ tháng 2 năm 1961, ông ra làm Án sát tỉnh Bình Thuận, rồi mất tại đây, được đưa về an táng nơi quê nhà tại Hốc Môn, Gia Định.

Thuở nhỏ, Đặng Thúc Liêng học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và tự học chữ Pháp. Ngoài ra, ông còn theo học nghề Đông y.

Thời vua Đồng Khánh trị vì 1885-1889, triều đình lập Nha Thông Thương, giao cho Phan Tôn là con Phan Thanh Giản phụ trách. Do tình thầy trò trước đây Phan Tôn dạy ông chữ Hán, nên ông được cử sang Hương Cảng nay là Hồng Kông, để mở trụ sở mậu dịch với Trung Quốc.

Từ năm 1887 đến năm 1888, công cuộc làm ăn của ông phát triển. Ở đây, ông đã có những cuộc bút đàm, thảo luận với các nhà cách mạng Trung Quốc như: Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Hồ Hán Dân...Chịu ảnh hưởng tư tưởng đổi mới của họ, Đặng Thúc Liêng đề nghị triều đình tuyển thanh niên xuất ngoại du học để sau này trở về canh tân nước nhà, nhưng không được triều đình nghe theo.

Nguyện vọng không được như ý, Đặng Thúc Liêng xin từ quan rồi về Gia Định làm nghề Đông y tại tiệm Nam Thọ Xuân, ông là cộng tác viền đầu tiên của Nam Kỳ tuần báo.

Khoảng gần cuối thập niên 1900, Đặng Thúc Liêng viết một loạt bài đề cao tư tưởng cấp tiến của Voltaire, Jean Jacques Rousseau, Abraham Lincoln..., rồi gửi đăng trên báo Nông Cổ mín đàm, trong mục chén trà bàn chuyện nông thương, do Lương Khắc Ninh làm chủ bút.

Năm 1907, ông là thành viên tích cực của phong trào Minh Tân do Trần Chánh Chiếu đứng đầu. Tham gia lập “Minh Tân công nghệ”, tiệm thuốc bắc “Nam Thọ Xuân” ở Sàigòn.  

Vì vậy, khi nhà cầm quyền Pháp dò la được chủ ý trên liền ra lệnh bắt giam Trần Chánh Chiếu vào tháng 10 năm 1908, Đặng Thúc Liêng và 40 người bị tình nghi khác bị tống giam vào khám đường ở Mỹ Tho. Trong thời gian ngồi tù, cảm cảnh tù đày ông có sáng tác bài thơ Chim lồng cá chậu. Sau bốn tháng bị giam cầm, ông được tha nhờ sự can thiệp của hai công chức cao cấp Landes và Mast, họ là người Pháp cấp tiến, ông đã dạy chữ Hán cho họ trước đây.

Ra tù, Đặng Thúc Liêng về quê vợ là bà Nguyễn Thị Nhơn, tại làng Tân Qui Đông, tỉnh Sa Đéc nay là tỉnh Đồng Tháp. Sau đó, ông lập tiệm thuốc bắc Phước Hưng Đông ở làng Vĩnh Phước nay là chợ Sa Đéc, và cất một rạp hát nhỏ cũng ở tại đây khoảng 1910, tạo điều kiện cho nghệ thuật hát bội và ca ra bộ, cải lương thời sơ khai phát triển. Vở tuồng ca ra bộ Gia Long tẩu quốc, trong đó có đoạn chúa Nguyễn Ánh, tức Gia Long, nhờ Bá Đa Lộc cầu viện Pháp và Pháp Việt nhất gia, Pháp Việt một nhà, được ông soạn trong khoảng thời gian này.

Năm 1911, Đặng Thúc Liêng giao tiệm thuốc và sản nghiệp ở Sa Đéc cho vợ, rồi ông lên Sàigòn tiếp tục cộng tác với các báo: Nông Cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Công luận báo, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phụ Nữ Tân Văn.

Kể từ đây, ông thường đi rong chơi từ Nam chí Bắc, nổi tiếng là người hào hoa phong nhã. Năm 1926, nhiều tỉnh ở Bắc Kỳ bị vỡ đê, lâm vào nạn đói. Ông liền thảo bài Quốc văn hồn để kêu gọi cứu tế.

Năm 1931, ông ra tờ Việt Dân báo. Năm 1934, ông đứng ra lập Việt Nam Y Dược hội. Khoảng năm 1944, ông cùng với Lê Phát Vĩnh xuất bản tuần báo Đông phong.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Nhật Bản làm cuộc đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương, nhưng không bao lâu thì bị quân Đồng minh đến giải giáp. Thấy tình hình có nhiều biến động, Đặng Thúc Liêng rời Sàigòn về lại làng Tân Qui Đông tỉnh Sa Đéc sống những ngày cuối đời.

Trong nhà Đặng Thúc Liêng có đôi liễn:

Vạn trùng sơn hải tằng vi khách,
Thập bát phù viên biệt hữu gia.

                    ***

Th
ập tam kinh văn tự lạc xứ,
Ngũ đại châu sự thời phiến tâm.

Dịch nghĩa:

Muôn trùng non nước từng làm khách,
Mười tám thôn vườn trầu ấy quê nhà.

                         ***

M
ười ba kinh văn từng học hỏi,
N
ăm châu thời sự ở trong lòng.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Đặng Thúc Liêng mất tại Sa Đéc vì bệnh già, hưởng thọ 78 tuổi.

Tác phẩm:

- Tâm quyển giải (Cởi tấm lòng).
-
Tâm bổn mễ thương (Gốc chữ tâm là ở thóc gạo)
-
Quốc văn hồn
-
Nhân hoà Thiền hội (Người và Thiền gặp gỡ)
-
Canh hoang biến pháp (biến pháp cài cấy khẩn hoang)
-
Cao hoàng đế diễn ca (Hoàng đế Gia Long).
-
Trương Vĩnh Ký hành trạng (Xưa Nay, 1927)
-
Hán văn thi tập (thơ chữ Hán)
-
Việt âm thi tập (thơ quốc âm)
-
Trí y tiện dụng (Tiện dùng cho nghề y)
-
Chủng mạch tân biên (Biên soạn mới về mạch)
-
Gia Long tẩu quốc (tuồng ca ra bộ)
-
Pháp Việt nhất gia (tuồng ca ra bộ)

Trích văn:

Trương Vĩnh Ký hành trạng
………………………
Vĩnh Ký bình sanh không dùng Âu phục, không vào Pháp tịch. Có nhiều khi môn đệ hỏi thăm sự vào Pháp tịch, thời trả lời rằng: “Nếu mình vào bộ dân Langsa, thời mất bộ dân Annam còn gì???”

Lúc Vĩnh Tiên con trai của Vĩnh Ký mới sanh vừa thấy mặt, rồi mất, Vĩnh Ký nói: “Thế gian như khổ hải, nên nó chẳng cần gì ở lại cho lâu !”

Vĩnh Ký chẳng lấy sự buồn, vui làm giới ý; hay nói: “Người ta lúc nào gặp sự buồn, thời nên vui lần, sẽ có sự vui theo sau; lúc gặp sự vui, thời nên buồn lần, đầu ngày khác có sự buồn sẽ tới, không đến hại.”

Đại loại ngôn từ, cử chỉ Vĩnh Ký trọng về phần Đạo đức rất nhiều.

Tử viết”Bác học ư văn, ước chi dĩ lễ, diệc khả dĩ phất bạn hỉ phù tư chi vị dư.” Đức phu Tử nói: “Rộng học văn chương, đón lấy lễ nghĩa, cũng cho là không trái đạo vậy”, ấy là nói chuyện người nầy vậy ru !!!

1908, Nam Kỳ sĩ phu đồng đứng xin Chánh phủ chuẩn cho dựng hình Vĩnh Ký để làm kỷ niệm, Chánh phủ phê y. Lúc ấy tôi đương chấp bút Nông Cổ và Lục Tỉnh Tân Văn, có ít lời vận động quyên ngân, chẳng mấy ngày mà công chúng huởng ứng rất nhiều.

Diên trì cho đến 1923, trong Hội lo dựng hình Vĩnh Ký, đặc làmh ở bên Pháp đem qua, chỉ có một cái đầu hình (buste) mà thôi. Hội muốn dụng, nhưng mà công chúng kích bát “Hội” không chịu ! Đã hèn lâu, bây giờ (1927) mới dựng được toàn hình, dựng nơi phần đất Norodom trước dinh Toàn Quyền Saigon. Sự dựng hình Vĩnh Ký ngày nay rất cảm bội tấm lòng ái mộ công chúng. Nhưng mà đối với tâm thuật của Vĩnh Ký, lấy Đạo đức mà suy ra, thời thật không có điều chi vọng tưởng là vinh diệu. Hởi ai là “Thần du vân, thủy, Đạo tại nhân gian?” (Tinh thần dạo chơi trên mây, nước; Đạo đức còn ở trong cảnh người) là vinh diệu hơn, mà vinh diệu ấy, biết mấy tram năm trường, cửu !!! Tình như vậy, thời nên tưởng cho hình Vĩnh Ký đối với hình Paul Bert ở nơi Hà Nội, có lẽ hai Đại tinh anh phát hiện, thường khi hội ngộ linh kỳ ! Mà toan lo những việc chi đây ???

Vĩnh Ký phu nhân là Vương Thị Thụ (thành hôn 1963), chết 1907, có con trai và gái 9 người:

1. Vĩnh Thế, Tri phủ; 2. Thị Gia; 3. Vĩnh Viết, Đốc phủ sứ; 4. Thị Tự; 5. Vĩnh Trọng; 6. Vĩnh Mỹ; 7. Vĩnh Ký; Vĩnh Tiên; Vĩnh Tống.

1927, tôi nhờ có rễ của Vĩnh Ký là Nguyễn Hữu Nhiêu, hiện kinh làm ngoại Công sư (Archgitecte Civil), người ngoài 60 tuổi, tánh chất thuần hậu, tợ hồ nhập đạo.Vẫn biết tôi tần quen với Vĩnh Ký trong khi ở Bắc; và lúc về Nam, nên lượm lặt các món tàn biên đả gần mất, nói về lịch sử của Vĩnh Ký, đều giao cho tôi phụ làm truyện này.

Viết truyện này rồi, gát bút thêm buồn cho người đời nay có kẻ hay tự phụ là: văn minh tấn bộ, ái quốc, nhiệt thành, thế mà không ngôn vô bổ ! Không thấy chút nào là sự thật thành. Chỉ thấy người thời lăn xăn đọc ít câu diễn thuyết, người thời hốp tốp viết ít tờ nhựt trình, đặng hô hào rằng: “Mình văn minh tấn bộ, ái quốc, nhiệt thành”, để chưng cho ra diện mạo “Chí sĩ”. Đọc truyện này chưa ??? Đó ! Có đủ Đạo đức chân tướng, mới phát anh kiệt toàn tài. Văn minh tấn bộ như vậy đó, ái quốc, nhiệt thành như vậy đó ! Người bây giờ đứng vào địa vị nào???

Tôi nguyền sống thêm 40 tuổi nửa cho đủ 100, đã sẵn cái thú vị trời chiều mát mẻ, ngồi dưới bóng cây mà lại được ngửi những mùi thơm của hoa nở trong các thứ cây kia sẽ được ăn trái, đặng mà làm thêm một truyện của người như vậy nữa, biết có đặng chăng?

Thập Bác Phù Viên
Đặng Thúc Liêng
Sadec (Cochinchine)

(Theo Nguyễn Q. Thắng Văn Học Việt Nam, Tập I)


Trích thơ:
Tự trào
Họ đồn Đặng Thúc Liêng chơi quá lố,
Có hay không? giả ngộ đó mà thôi!
Gẫm bao lâu sống sót trên đời,
Nhịn hóa dại, chơi đi, kẻo uổng!
Nhưng trách nhiệm chớ nên bỏ luống,
Đức tài rèn đem cống hiến nhân dân.
Làm sao cũng giữ tinh thần,
Có giải trí, ăn, mần mới giỏi...

Chim lồng cá chậu
Nhằm lồng như nội chậu như song
Chim cá lo chi chốn chậu lồng
Nhảy nhót ba ngày đường một khoáng
Múa men gang tấc thể trời không
Nào phương bó buộc tay kinh ngạc
Có thể khoa khoang cách hội hồng
Vật đủ tánh linh trên máy tạo
Để lồng nuôi phụng, chậu nuôi rồng.
- 0 -

Đặng Thúc Liêng là nhà văn, nhà văn yêu nước và tiến bộ, ông có tâm huyết muốn canh tân nước nhà, đã góp công góp sức cùng với Trần Chánh Chiếu, Nguyễn An Khương, Nguyễn Chánh Sắt trong phong trào Đông Du và Duy Tân, về chữ quốc ngữ và cải lương ông đã đóng góp xứng đáng trong vai trò những nhà văn quốc ngữ thời sơ khởi ở đất Nam Kỳ này.

Tài liệu tham khảo:

- Đặng Thúc Liêng Web: vi.wikipedia.org
- Chim lồng cá chậu Web: nguyenvantrung.free.fr

Nhà văn Nguyễn Liên Phong




Nguyễn Liên Phong (1821-    )

Nguyễn Liên Phong sinh năm 1821, tại làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Xuất thân trong một gia đình quan lại, cha là Nguyễn Du (1754 - ?, không phải là tác giả truyện Kiều), và anh là Hoàng giáp Nguyễn Thái (1819 - ?).

Năm 1867, khoa thi Đinh Mão, Nguyễn Liên Phong đậu Cử nhân tại trường thi Nghệ An. Ông làm quan nhiều nơi thăng dần đến chức Tuần phủ nên ông còn được gọi là Tuần phủ Phong.

Tương truyền, khi thực dân Pháp đang tiến hành cuộc xâm lược Việt Nam, ông tham gia phong trào Cần Vương. Sau đó, ông bị quân Pháp bắt đày vào Bình Định, rồi cuối cùng là Sàigòn.

Nguyễn Liên Phong có tài ngâm vịnh, đàn bầu. Vào Nam Kỳ, ông đi nhiều nơi, giao du với nhiều bạn văn, trong đó có nhà thơ Học Lạc, và nhiều nhóm đờn ca tài tử và nhờ vậy ông viết được quyển Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca.

Con ông là Nguyễn Tùng Bá tức Tư Bá, giỏi nghề đờn kìm, đờn tranh. Ông Bá có soạn tập bản đờn kìm khoảng 20 bài, xuất bản trước năm 1923. Sau, ông Bá đến Sóc Trăng làm nghề dạy đờn.

Nguyễn Liên Phong mất năm nào, tại đâu không rõ, nhưng chắc ông thọ trên 90 tuổi.

Tác phẩm:

- Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca (gồm 7.000 câu thơ lục bát, Đinh Thái Sơn, 1909)
-
Án Túy Kiều (Phát Toán, 1910)
-
Từ Dũ Hoàng Thái hậu (F.M. Schneider, 1913)
-
Điếu cổ hạ kim thi tập (F.M. Schneider, 1915)

Trích thơ:
Điếu Án sát Phạm Hữu Chánh(*)

Cuộc đời dâu bể nghĩ thon von,
Chạnh nhớ người xưa tiếng hãy còn.
Ngòi viết chẳng rời bên đĩa mực,
Mão đai từng dựa chốn liều son.
vẹn tròn ngay thảo niềm tôi chúa,
Đông đảo sang giàu phận rể con.
Hoằng Trị gương thơm ngời dấu để
Lâu đài phước đức sánh tài non.

Điếu Huỳnh Mẫn Đạt(*)

Ông Hoàng Mẫn Đạt ở Kiên Giang,
Tác lớn về hưu phận cũng nhàn.
Cơm áo ấm no ơn cố chúa,
Đất rau ăn ở ngỡi tân bang
Văn minh dần bước lên cao rạng,
Chúng trí mẹo càng chóng mở mang.
Chín suối hồn linh cơn phưởng phất,
Hộ phò mới cũ mối giềng an
Điếu Tôn Thọ Tường(*)

Người học Nho thuở trước,
Nhớ ông Đốc phủ Ba,
Hình dung xem xấu nhược.
Tánh hạnh rất lương hòa
Gặp gió cơn ào tới,
Coi mòi cẳng bước ra.
Văn chương dòng phép tắc,
Thi phú khéo nôm na.
Co dủi theo thời thế,
Bung long với quốc gia.
Đã lắm công đăng hỏa,
Riêng vui thú yên hà.
Vừa sang miền Bắc cảnh
Bỗng giục giấc Nam Kha
Sót lại hơi tao nhã
Sáu châu tiếng một già.

Ghi chú:
(*) Điếu cổ hạ kim thi tập.

Sau đây, một số bài trích từ Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca do nhà Phát Toán in năm 1909.

Tựa rằng:
Năm Nhân Dần, tháng giêng ngày vọng
Nhơn lúc nhàn, vỗ lộng bút nghiên
Dạo Nam Kỳ, sáu tỉnh sơn xuyên
Xem nhơn vật đủ miền mọi chỗ
Ơn tứ hải, đệ huynh điều độ
Giúp hành trình, phí lộ kim ngân
Hơn năm dư, chép thảo lần lần
Thành một cuốn xa gần các hạt:
Cách đặt dùng quốc âm lục bát
Cọng hai mươi hai, hạt nhỏ to
Biết bao nhiêu công khó đắn đo
Cứ việc thật không trò thêm bớt
Giọng quê kịch nhiều lời thưa thớt
Vận dưới trên non nớt chưa liền
Từ Vũng Tàu, dĩ chí Hà Tiên
Qua Châu Đốc, xuống miền Sa Đéc
Tới mỗi hạt, trải chơi xem xét
Hỏi đon ren, mới biết ngọn ngành
Những lớp xưa, người trước có danh
Với thổ sản, dân tình phong tục
Quan giám khảo, xem tường trong đục
Lấy đậu rồi, mấy lúc chưa in
Đinh Thái Sơn, có dạ thương tin
Chịu hao tốn, ấn hành đãi hậu
Gọi là để, khóa đồng tập ấu
Đâu giám rằng tú khẩu cẩm tâm
Lẽ xưa nay thủy bất tại thâm
Có rồng ở thì đầm linh hiển
Phận già cả, tiếc vì kinh điển
Đã bấy lâu, rừng biểnh minh mông
Dẫu khen chê, miệng thế thường đồng
Phò danh giáo xúc công tiểu bổ
Chảng phải bì Mã Thiên, Ban Cố
Dầu sử xanh, kim cổ lưu truyền
Song cũng là cờ chiếm nước tiên
Roi sự tích niên niên trường cửu”.

Vũng Tàu phong cảnh thi
Đổi đời vực biển hóa cồn dâu,
Hứng chí vui xem cảnh Vũng Tàu.
Bền chắc đồn xây giành thạch lại,
Vọi cao đèn chói đảnh Vân đầu.
Bãi Dưa dấu để còn danh trước,
Xanh Rắc(**) chừ thêm vững cuộc sau.
Đường nước Nam Kỳ khoe hiểm cứ,
Ở trên nhằm xuống mối giềng thâu.
(**) St. Jacques

Biên Hòa phong cảnh thi
Quản hạt đường xa mấy dặm dài,
Vừa ba trạm đất tới Đồng Nai.
Thạch Nang giữa lạch thuyền kinh hãi,
Chiêu Thới bên triền khách vãng lai.
Linh cậy miễu chùa linh ngó thấy,
Lợi nhờ sỏi đá lợi bền dai.
Nhà dân xóm xóm đều trung hậu,
Thói cũ lề xưa hãy mỉa mai.

Gia Định phong cảnh
Gia Định thành xưa trọng một phương,
Nhớ Cao hoàng đế thuở hưng vương
Mả ông Đa Lộc bền rường cột,
Miểu Tả quân Lê thạnh lửa hương.
Dâu biển trải bao dời đổi cuộc,
Ngựa xe vòng lớn thả dầm đường.
Xóm làng phong tục đều trung hậu,
Tiếng tốt ngàn thu hãy tạc gương.

Sàigòn phong cảnh
Khen bấy Sàigòn định giới cương,
Lăng xăng ngã ngách dọc ngang đường.
Cột cờ Thủ Ngữ xây tram trượng,
Trại lính Hội đồng trấn một phương.
Dinh dãy cửa nhà chen thứ lớp,
Bạc vàng su lúi đổi cang thường.
Phiền ba xiết kể nay thanh lịch,
Lễ nghĩa ngày xưa chạnh nỗi thương.

Chợ Lớn phong cảnh thi
Dời đổi ngùi thương cảnh nước non,
Phiền hoa Chợ Lớn giáp Sàigòn.
Dục anh rực rỡ lầu đôi lớp,
Mai tự sum sê lũy một hòn.
Tham biện, xã Tây, cò bót đủ,
Minh hương, chùa Phật, miễu đình còn.
Kể sau cho hết bề thanh lịch,
Nho nhã phong lưu dấu chẳng mòn.

Bến Tre phong cảnh thi
Thuở cựu thuộc về tỉnh Vĩnh Long,
Bến Tre cảnh tốt lại người đông.
Đại khoa cờ điển danh còn tạc,
Thổ sản điền viên lợi thạnh sung.
Đất lịch dân hào trong mấy rạch,
Xóm nhơn nhà nghĩa các nơi giồng.
Tổng làng viên chức đều nho nhã
Tập tục mỹ thuần gốc cổ phong

Về nhân vật Bến Tre:

     Ông Lương Khắc Ninh rất hay,
Nhựt trình Nông Cổ khéo bày quốc âm.
     Năm năm chủ bút lao tâm,
Dựng cờ nơi chốn từ lâm một mình.
     Tuy là họa hổ vị thành,
Tài bồi giáo hóa đặng danh nhãn tiền.
     Truyện thơ nay dịch liền liền
An Khương, Chánh Sắt noi tuyền them hay.
     Thảm thay Chánh Chiếu ngày nay,
Ra làm Nông Cổ chưa đầy mấy trăng.
     Bởi vì biếm nhẽ lằng xằng,
Khua ba tấc lưỡi họa căng nhương thành.
     Đặng Thúc Liên người trăm anh,
Giúp việc nhà nước đã đành có công.
     Mang tai, chuyện khéo khi không,
An Khương hiện tại cũng đồng như Liêng.
     Bi chừ Nông Cổ mkối giềng,
Lê Trung Quản hạt thay quyền chủ nhơn.
     Nguyễn Chánh Sắt tỏ nguồn cơn,
Làm phó chủ bút nhờ ơn thánh hiền.

Mỹ Tho phong cảnh thi
Phong cảnh vui xem hạt Định Tường
Tàu xe đông đảo mối đầu đường.
Cầu rồng đất nổi che tiền diện,
Cổ Lịch đồn xây trấn viễn phương.
Phú nữ hào nam nơi tổng lý,
Cử nhơn tấn sĩ chốn khoa trường.
Thuần lương tạp tục dân no đủ,
Hóa hóa sanh sanh lợi ruộng vườn.

Vĩnh Long phong cảnh thi
Vĩnh Long địa cảnh rộng thinh thinh,
Thuở cựu trào ta chốn tỉnh thành.
Miễu thánh ngày nay còn hiện tại,
Quốc công thờ trước dấu anh linh.
Mười ba tổng, tục đều trung hậu,
Trăm mấy thôn, người biết học hành.
Thế cuộc hợp tan tan lại hiệp,
Mau như mây nổi giữa trời xanh.

Cần Thơ phong cảnh thi
Phong cảnh Cần Thơ phát tự nhiên,
Mấy năm khia kkhẩn đất thành điền.
Lâu đài quan bố nơi sơn thủy,
Kho lẫm nhà giàu lúa vựa thiên.
Xe kiểng sắm đưa hàngchục rước,
Ghe hầu kiểu đóng khéo khuôn viên
Đạo nhu chủ nghĩa còn roi dấu,
Nhớ bởi người xưa góc dạy truyền.

Hà Tiên phong cảnh thi
Hà Tiên non nước cảnh vui tình,
Thập vịnh hiền, xưa dã tập danh.
Đảnh pháo đài, đăng quang chiếu diện,
Mặc tiên ông, Miễu võ anh linh.
Am chùa hang động nhiề nơi cổ,
Thơ phú rượu đờn lắm kẻ thanh.
Nhớ thuở Cao hoàng hưng đế nghiệp
Bầy xà cứu giá giữa giòng xanh.

Châu Đốc phong cảnh thi
Vui xem Châu Đốc cảnh thêm xinh,
Nhớ thuở Toại Hầu trấn Vĩnh Thanh.
Sông trước, song sau chia tả hữu,
Núi Sam, núi Két dấu anh linh.
Rạch ngòi Giồng án không cùng lợi,
Cá mắm tằm tơ đệ nhất danh.
May có Tú Thường người biết học,
Ra công dạy dỗ trẻ mày xanh.

Về nhân vật ở Châu Đốc:

     Thoại Hầu tiết rạng non song,
Còn ngôi thạch mộ người đồng gọi lăng.
     Núi Sam phía bắc dưới chơn,
Đắp phong mã lạp bổn căn một nền.
     Ngày xưa bảo hộ Cao Mên,
Ghe phen án ngữ giũ bền an biên.
     Đào kinh Lạc Dục Long Xuyên,
Giáp cvô Rạch Giá bia truyền Thoại Sơn.
     Đào kinh Vĩnh Tế lại hơn,
Danh chồng danh vợ không sờn cả hai.
     Thoại Sơn thì đặt tên ngài,
Bà là tên Tế, lâu dài với song.
     Sông tên bà, núi tên ông,
Thoại Sơn Vĩnh Tế song song miên trường.

- 0 -

Từ nhà biên khảo Ca Văn Thỉnh, có nhận định rằng Nguyễn Liên Phong được Pháp cho vào Nam Kỳ để làm tay sai cho Pháp, để ca ngợi những người theo Pháp, nếu đọc bài thơ về Nguyễn Liên Phong, của Bá hộ Chơn đã làm thơ mỉa mai ông như sau:

Hỡi quan Tuần phủ Nguyễn Liên Phong!
Nợ nước ơn vua chẳng hết lòng.
Giam cấm đã đành thân bị nhuốc,
Công danh chi nữa dạ còn mong!

Qua bài thơ trên và những bài điếu cổ, những nhân vật đã mất ở đất Nam Kỳ, người ta sẽ dễ đồng ý với nhận định của Ca Văn Thỉnh. Thơ của Nguyễn Liên Phong để lại cho chúng ta biết một thời về nhân vật, phong cảnh đất Nam Kỳ thời Pháp mới qua, chẳng khác nào một địa dư chí vậy.

Tài liệu tham khảo:

- Nguyễn Liên Phong Web: vi.wikipedia.org
- Điếu Án Sát Phạm Hữu Chánh Nguyễn Q. Thắng, Văn Học Việt Nam nơi miền đất mới, Văn Học, 2007, tr. 266

Nam Kỳ tuần báo và Đại Việt Tập Chí



Năm 1942, Hồ Biểu Chánh chủ trương hai tờ báo cùng lúc, một tờ ra hàng tuần là Nam Kỳ Tuần báo và một tờ 2 tuần ra một số là Đại Việt Tập Chí.

Theo trang mạng Sách xưa thì số đầu tiên của Nam Kỳ Tuần báo ấn hành ngày 3-9-1942, và đình bản vào năm 1945. Cho đến nay, chỉ thấy nhiều thông tin cho biết có Nam Kỳ Tuần báo do Hồ Biểu Chánh chủ trương, ngoài ra chưa được biết thêm chi tiết.

Trên trang mạng Thư viện khoa học xã hội có đăng ảnh Đại Việt Tập Chí do Hồ Văn Trung làm Giám Đốc, thư viện có từ số 1 ấn hành năm 1942 cho đến số 54 ấn hành năm 1944


Tập chí này có trụ sở đặt tại số 5 đường Reims, Sàigòn, nay là đường Lê Công Kiều, Quận 1, Sàigòn, phát hành mỗi tháng 2 kỳ vào ngày 1 và 16. số ra mắt vào ngày 1 tháng 10 năm 1942.

Những nhà văn cộng tác có: Đặng Thúc Liêng, Trương Vĩnh Tống, Khuông Việt, Dr. Lê Văn Ngôn, Thiếu Sơn, Lê Chí Thiệp, Ngạc Xuyên, Trúc Hà, Đào Duy Anh, Quang Phong…


     Số 2/1942               Số 26/1943                 Số 31/1944

Có người cho rằng Nam Kỳ tuần báo và Đại Việt tập chí mới ra được nhiều nhà văn cộng  tác, nhưng sau đó người ta phát hiện báo được nhà cầm quyền tài trợ, nên những người cộng tác từ đầu thôi không cộng tác nữa. Có lẽ điều đó đúng, vì cả hai tờ báo gần như cùng lúc xuất bản và đình bản, và đến năm 1946, ông là Chánh văn phòng của Thủ Tướng Nguyễn Văn Thinh, chánh phủ Nam Kỳ Tự Trị.

Tài liệu tham khảo:

- Đại Việt tập chí Web: libsiss.org.vn

Tự Cứu Khi Bị Trụy Tim

Bây giờ là 6.15pm và bạn đang lái xe để về nhà (lẽ tất nhiên là bạn lái xe một mình) sau một ngày dài làm việc ở sở. Bạn rất mệt mỏi và chán nản……
Thình lình bạn cảm giác Cơn Đau Rất Khốc Liệt trong lồng ngực và lan tỏa ra xuống cánh tay và lên đến miệng.
Bạn chỉ còn có 5 miles để đi đến bệnh viện gần nhà nhất.
Rất tiếc là bạn không biết có thể tiếp tục lái xe đến đó hay không ?

BẠN PHẢI LÀM GÌ ???

Bạn đã được huấn luyện về hô hấp nhân tạo, nhưng người chỉ dẫn không dạy bạn cách làm hô hấp nhân tạo riêng cho chính bạn !!!
Làm thế nào để sống sót qua cơn đau tim khi bạn đơn độc ?
Thông thường nhiều người đang đơn độc khi trải qua cơn đau tim, không người giúp, người có tim đập bất thường và bắt đầu có cảm giác đau, họ chỉ có 10 giây tỉnh táo trước khi mất nhận thức .


BẠN PHẢI LÀM GÌ ???
TRẢ LỜI:

Đừng hốt hoảng, nhưng bắt đầu ho liên tục và ho mạnh mẽ.
Hít thật sâu trước khi ho, mỗi lần ho phải mạnh và kéo dài, như bạn đã từng bị ho mà nước giải từ sâu trong lồng ngực chảy ra .
Hơi thở và ho phải liên tục được lập lại với khoảng cách 2 giây cho đến lúc có người săn sóc, hay cho đến lúc có cảm giác tim đập lại bình thường .
Hơi thở sâu nhận OXYGEN vào trong lồng ngực và chuyển động của ho ép trái tim và làm máu LƯU THÔNG.
Sự nén áp suất trên trái tim còn giúp tim lấy lại nhịp đập bình thường. Trong trường hợp nầy, nạn nhân của cơn đau tim có thể đến được bệnh viện.


Tài liệu tham khảo số 240 của General Journal Hospital Rochester .

Chuyển thông tin nầy đến người thân quen của bạn càng nhiều càng tốt.

Nó có thể cứu được mạng sống !!! Đừng bao giờ nghĩ rằng bạn được miễn dịch về cơn đau tim vì tuổi của bạn còn nhỏ hơn 20 hay 30.
Bây giờ đời sống thay đổi, cơn đau tim xuất hiện vào mọi lứa tuổi.


XIN CHUYỂN THÔNG TIN NÀY ĐẾN BẠN HỮU CÀNG NHIỀU CÀNG TỐT
.