Pages

Thursday, February 21, 2019

Epicure


Epicure tiếng Hy Lạp: Έπίκουρος (341 - 270 BC) là một nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Ông là tác giả của một triết lý đạo đức, về niềm vui đơn giản trong cuộc sống, tình bạn và sự an dưỡng. Ông thành lập các trường phái triết học, chúng tồn tại từ thế kỷ thứ IV BC  đến thế kỷ IV AC.

Epicure (341-270 BC)

Cuộc đời.

Cha mẹ ông, Neocles và Chaerestrate, cả hai đều sinh ra ở Athen, và cha của ông là công dân, đã di cư đến khu định cư của người Athen trên đảo Samos ở biển Aegean mười năm trước khi sinh Epicure vào tháng 2 năm 341 BC Khi là một cậu bé, ông nghiên cứu triết học bốn năm dưới sự chỉ bảo của thầy giáo theo trường phái Platon là Pamphilus. Ở tuổi 18 ông đã đi đến Athens cho thời gian hai năm chục vụ trong quân đội.


Giáo viên đầu tiên của ông là là Pamphilus người theo trường phái Platon, ở Samos. Điều quan trọng là cho thấy Epicure đã ở thành phố Teos của Ionia trong ba năm (327 – 324 BC) và giáo viên của ông là Nausiphane, một môn đệ của nhà triết học tự nhiên Democrite. Có thể là bắt nguồn từ đây, lý thuyết nguyên tử của Epicure đã phần nào được hình thành, ông không sử dụng điều này để tiến hành một nghiên cứu vật lý nào mà chỉ dựa vào nó làm cơ sở cho nghiên cứu về đạo đức.

Vào năm 18 tuổi, Epicure đến Athens để thực hiện hai năm huấn luyện quân sự bắt buộc cho công dân Athen. Trong khi ở đó, có thể ông đã nghe về Xenocrate, người theo học thuyết của Platon và cũng là người đứng đầu Học viện nơi ông theo học. Ông cũng được biết về Aristote, lúc đó đang ở Athens. Một năm sau, Epicure về với cha mẹ của mình tại Colophon, nơi họ đã phải sống lưu vong. Khi kết thúc Chiến tranh Lamian, Athens mất Samos vào tay người Palestin. Trong 10 năm sau đó của ông, hầu như không có hồ sơ nào lưu lại. Dường như trong 10 năm nầy Epicure đã đi khắp nơi nghiên cứu.

Rất hợp lý để cho rằng đây là thời kỳ ông đã phát triển quan điểm triết học của mình và xác nhận nó khi trao đổi với những người theo trường phái Platon và Aristote. Một lá thư được ông viết từ Teos, gửi cho mẹ ông, được Diogenes ở thành phố Oenoanda lưu giữ. Vào năm 304 BC, Epicure 32 tuổi, ông bắt đầu giảng dạy, đầu tiên tại Mytilene, nhưng gây ra xung đột và ông buộc phải ra đi. Sau đó ông thành lập một trường học ở Lampsacus trước khi trở lại Athens năm 306 BC.

Ở nhiều nơi khác nhau, Epicurus đã thu nhận các môn đệ tâm huyết, họ theo ông đến Athens, họ trở nên có ý nghĩa lớn trong suốt hành trình của ông, họ là nhân tố tạo ra sự phát triển cho trường phái Epicure tại Mytilene. Epicure đã gặp môn đệ đầu tiên của mình là Hermarchus, nhà tài chính Idomeneus, Leonteus và vợ là Themista, nhà châm biếm Colotes, nhà toán học Polyaenus của Lampsacus, Leontion, và Metrodorus, là người nổi tiếng nhất của lý thuyết Epicurean. Trường học của ông là trường đầu tiên trong số các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại thâu nhận phụ nữ vào học cho đó là một quy tắc chứ không phải là một ngoại lệ.

Trong 2 năm ở Athens có thể Epicure có gặp Diogene,vì lúc đó Diogene đang ở tại Athens. Ngoài hai năm ở Athens, Epicurus đã trải qua 35 năm đầu đời ở châu Á. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ông có ác cảm với giới văn học ở Athens. Thay vào đó, mối quan hệ Á châu của ông  tiếp tục vun đắp suốt cuộc đời, bao gồm hai hoặc ba hành trình thực tế đến Tiểu Á, dường như được phản ánh chủ yếu ở sự lựa chọn từ ngữ và phong cách của ông, nhưng quan trọng hơn là trong phạm vi tập kết triết học mà ông xây dựng.

Trường học ở Athens và nơi khác

Khi Epicure và những người theo ông đến Athens năm 306 BC, ông đã mua một ngôi nhà và đã lập một trường học ở trong vườn nhà nầy, được biết với cái tên Ho Kepos. Vào thời điểm này ở Athens, đời sống văn hóa bị chi phối bởi Học viện Platon (Academy of Plato) và Trường trung học Aristotle (Lyceum of Aristotle), cả hai đều đã trải qua mấy người kế vị, có lịch sử lâu đời. Những trường này thu hút cả những sinh viên lý thuyết giỏi nhất và những người quan tâm đến việc áp dụng triết học vào chính trị và đời sống công cộng. Do đó, bất kỳ trường học nào hy vọng chịu đựng, sống sót được trong giai đoạn này đều phải tham gia vào cuộc cạnh tranh trực tiếp với Học viện Platon và Trường Lyceum, bằng cách phải cải tổ chính mình.

Những gì Epicure mang đến Athens là cách sống ,hơn là một trường học hoặc một cộng đồng. Không giống như cả hai trường nổi tiếng kia, họ thừa nhận phụ nữ và thậm chí là một trong những nô lệ của Epicurus, tên cô ta là Mouse, được chấp nhận làm học viên của trường. Họ đã dạy cô cách tránh khỏi các hoạt động chính trị và đời sống công cộng, những người khác trong trường của ông cũng được học như vậy. Do vậy, có một học viên của trường ở ngoài Athens, đã phát triển sự nghiệp chính trị của mình lên đỉnh cao nhưng rồi gục ngã nên anh ta đã bị đuổi khỏi trường. Điều đó khá phức tạp với những gì còn sót lại của văn hóa Epicure ngày nay, một cuộc sống trong ngôi nhà với một khu vườn thật đơn giản. Nước là thức uống thông thường, mặc dù họ vẫn được uống nữa cốc rượu vang mỗi ngày và ăn bánh bột mì. Trong một lần xảy ra nạn đói, Epicure đã cứu các học sinh của mình, do ông đã lấy lấy ra, để dành một ít hạt đậu, tiết kiệm hàng ngày trước đó.

Không có tài sản chung của trường, cũng như trường hợp của các trường Pythagore. Trong khi các mối quan hệ của các thành viên trong trường thường không rõ ràng, chỉ có những lời nói, sự “tấn công”, dụ dỗ  của phái Khắc kỷ về tình dục. Epicure đã viết, quy định rõ ràng về vấn đề nhạy cảm này, nhưng thật sự nó không hiệu quả lắm. Có nhiều sự giao thiệp giữa các sinh viên ở Athens và các trường khác, vi phạm đến các vấn đề giáo lý, nhưng dường như nhiều người chỉ nghĩ đơn thuần đó là giao tiếp xã hội và sự thân thiện tự nhiên.

Trước khi chết, Epicurus đã viết một lá thư trìu mến và cảm động cho Idomeneus, có lẽ là dành cho tất cả những người bạn của ông ở Lampacus, nơi thể hiện đúng tinh thần của ông trong triết lý của sự nghỉ ngơi và thanh thản ngay cả trong nỗi đau. Epicurus sẽ rời khỏi nhà, khu vườn và  tiền bạc sẽ chuyển cho những người của trường được ủy thác. Số tiền còn lại dùng để tôn vinh gia đình của Epicure, để chúc mừng sinh nhật hàng năm, lưu giữ ký ức của mọi người về ông hàng tháng. Những nô lệ của ông đã được giải thoát, và con gái của Metrodorus nên được kết hôn với ai đó trong trường Athen, với sự chấp thuận của Hermarchus.

Epicure không kết hôn với ai nên không có con. Ông bị phì đại tiền liệt tuyến, nên cuối cùng đã qua đời vì căn bệnh này năm 270 BC ở tuổi 72,

Bài viết và đánh giá

Diogenes Laërtius đã mô tả Epicurus là một nhà văn “sung mãn” nhất và giữ lại ba lá thư của ông và Kyriai doxiai (Học thuyết chính của Hồi giáo). Ba bức thư đó là:

- Gửi cho Herodotus, liên quan đến vật lý.
- G
ửi cho Pythocle, có lẽ là một môn đệ, về khí tượng học.
- G
ửi cho Menoeceus, về đạo đức và thần học.

Kyriai doxiai bao gồm 40 câu cách ngôn ngắn. Một nguồn chính khác là bản giấy cói từ Casa dei Papiri được phát hiện tại Herculaneum  vào năm 1752 – 1754. Không chỉ bao gồm các phần của tác phẩm vĩ đại Peri physeōs “Về Tự nhiên”, ban đầu trong 37 cuốn sách, mà còn rất nhiều đoạn hội thoại với bạn bè của ông.

Nhiều phương pháp triết học của Epicure đã giúp cho việc so sánh ông với một nhân vật tôn giáo. Sự hấp dẫn của ông ở Rome trong thế kỷ I BC được nhà thơ – triết gia Lucretius đã dựa trong tác phẩm của ông về Epicure, thực tế cho thấy Lucretius rất tôn trọng Epicure, do được tham chiếu đến tư tưởng của triết gia Cicero, và qua chi tiết của nhà viết tiểu sử Plutarch về cách Cassius làm dịu tâm trí của Brutus với những ý tưởng theo triết học Epicure. Lý thuyết nguyên tử của Epicure được hồi sinh vào thế kỷ XVII do Pierre Gassendi, một nhà khoa học, triết học người Pháp.

Mặc dù giáo lý của ông bị ảnh hưởng của nhiều nhà tư tưởng trước đó, đặc biệt là của Democrite, nhưng ông có sự khác biệt đáng kể đối với Democrite về các lý luận. Epicure thường phủ nhận điều ảnh hưởng này. 


Nguồn:
- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


8664150219





Aristote



Aristote tiếng Hy Lạp cổ Ἀριστοτέλης (384-322 BC) tên ông có nghĩa là "mục đích tốt nhất",]được sinh tại Stagira thuộc Vương quốc Macedonia cách thành Athens 200 dặm về phía bắc, tức là ở phía đông Thessaloniki ngày nay. Cha của ông là bác sĩ riêng, cũng là bạn thân của quốc vương Macedonia Amyntas III, tổ phụ của Alexandros Đại đế. Từ nhỏ Aristote sống với cha mẹ và được cha dạy cho về y khoa. Năm 17 tuổi, Aristoteles đến thành Athena và theo học nghề thầy thuốc.


Aristote (384-322 BC)

Đến năm 18 tuổi Aristote trở thành học viên trong Học viện Platon. Ông học ở đó khoảng 20 năm trước khi rời Athens vào năm 348 hay 347 BC. Người ta thường kể lại, ông rời bỏ Athens vì thất vọng là học viện đã được giao cho cháu của Platon là Speusippus lãnh đạo, cũng có thể là vì khuynh hướng chống lại người Macedonia đang nổi dậy, cho nên ông đã bỏ đi trước khi Platon mất.


Người ta có thể tưởng tượng rằng thời kỳ sống với Platon là một thời kì lý tưởng trong cuộc đời Aristote. Một môn đệ thông minh xuất chúng được ở gần một giáo sư toàn năng. Sự thật thì mối liên quan giữa hai thầy trò không phải luôn luôn tốt đẹp. Platon lớn hơn Aristote gần 43 tuổi, chỉ sự cách biệt ấy cũng không thể dễ dàng sự thông cảm. Platon công nhận rằng Aristoteles là một môn đệ thông minh xuất chúng, hiếu học vì Aristote là một trong những người đầu tiên trong lịch sử nhân loại biết sưu tầm những tài liệu viết tay thời bấy giờ để lập thành một thư viện. Nhà của Aristote được Platon gọi là nhà đọc sách, nhiều người cho đó là một lời khen, nhưng cũng có người cho đó là một lời chê có ý ám chỉ đến tinh thần quá chú trọng vào sách vở của Aristote.

Một sự bất hoà khác quan trọng hơn xảy ra vào cuối đời Platon. Aristote có vẻ chống lại tư tưởng của Platon và nhiều khi không đồng ý với Platon. Thái độ này làm Platon rất bất bình coi Aristote như một đứa con vô ơn. Một vài học giả cho rằng Aristote lập một trường hùng biện. Trong số các môn sinh có Hermias sau này thành người cầm quyền tiểu quốc Atarneus. Để tỏ lòng nhớ ơn thầy cũ, Hermias mời Aristote về sống tại triều đình vào năm 344 BC, Hermias giới thiệu người chị của mình là Pythias làm vợ Aristote. Cuộc hôn nhân thành công mỹ mãn.

Sau đó một năm, vào năm 343 BC, quốc vương Macedonia là Philippos II mời Aristote về triều đình để dạy cho thái tử Alexandros. Đó là một vinh dự rất lớn cho Aristote, vì Philip II cũng như Alexandros là những vị vua danh tiếng và hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại. Philip II chinh phục Thrace năm 356 BC để chiếm những mỏ vàng phong phú gấp 10 lần số vàng của Athena. Thần dân của Philip II là những nông dân khoẻ mạnh, những chiến sĩ dũng cảm biết chịu đựng gian khổ. Nhờ những yếu tố ấy Philip II và Alexandros đã thôn tính hàng trăm tiểu quốc và thực hiện được sự thống nhất Hy Lạp. Philippos II không ưa chủ nghĩa cá nhân đương thời mặc dù chủ nghĩa này có kết quả tốt đẹp đối với nghệ thuật và đời sống tinh thần của người dân Hy Lạp. Philippos II cho rằng chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của sự đồi truỵ kinh tế cũng như chính trị. Chính dựa vào chủ nghĩa này mà những kẻ lưu manh chính trị có thể lơi dụng sự tin tưởng quá dễ dãi của dân chúng để mặc tình thao túng chính trường gây nên bè phái, giai cấp, âm mưu chống đối nhau. Philip II quyết chấm dứt tình trạng trên để thực hiện một nước Hy Lạp thống nhất và hùng mạnh xứng đáng là trung tâm chính trị của thế giới thời bấy giờ. Trong thời niên thiếu Philip II đã học quân sự tại Thebes, Hy Lạp. Năm 338 BC ông chiến thắng tại Athena và thực hiện được sự thống nhất của nước Hy Lạp. Ông mong mỏi sẽ cùng người con là Alexandros tiếp tục cuộc chinh phục thế giới nhưng giấc mộng của ông bị tan vỡ vì ông bị ám sát.

Khi Aristote đến nhận việc thì Alexandros là một cậu bé 13 tuổi bồng bột và ốm yếu, ưa cưỡi ngựa và tập ngựa. Những cố gắng của Aristote để làm dịu sự bồng bột của Alexandros hình như không đem lại nhiều kết quả. Theo một vài sử gia Alexandros coi Aristote như cha ruột của mình, cũng đã từng tuyên bố muốn học hỏi và coi trọng sự hiểu biết hơn là chinh phục thế giới. Nhưng đó chỉ là những lời lẽ xã giao vì không đúng với sự thật. Alexandros luôn luôn là một chiến sĩ thích chinh phục, sau khi thọ giáo 2 năm với Aristote, Alexandros nối ngôi cha và bắt đầu chinh phục thế giới. Sự thành công của Alexandros có lẽ một phần nào do ảnh hưởng của Aristote và người ta thường so sánh thiên tài của Aristoteles trong lãnh vực triết lý với thiên tài của Alexandros trong lãnh vực chính trị. Cả hai vĩ nhân này đều có công với nhân loại: một bên thống nhất thế giới, một bên thống nhất triết lý.

Sau khi cất quân chinh phục châu Á, Alexandros để lại ở Hy Lạp những chính phủ trung thành với ông nhưng không được dân chúng ủng hộ. Truyền thống dân chủ của người Hy Lạp không thể một sớm một chiều bị lu mờ trước sức mạnh của đội quân Alexandros. Tại những chính phủ này, những đảng lên cầm quyền được mệnh danh là đảng Macedonia hay là đảng thân Alexandros. Năm 334 BC, Aristoteles trở về Athena sau một cuộc du hành và lẽ cố nhiên không dấu cảm tình đối với đảng Macedonia tại đó. Công trình khảo cứu khoa học, triết lý, chính trị của Athena tuy rất bao la nhưng không phải là hoàn toàn theo đuổi trong sự yên tĩnh. Nhiều biến cố chính trị luôn luôn đe doạ Aristote và nhóm cộng sự viên, công trình này hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự thành công của Alexandros trên lãnh vực chính trị. Những nhận xét trên đây còn cho phép chúng ta hiểu rõ tư tưởng chính trị của Aristoteles.

Các quan điểm của Aristote
  • "Thầy đã quý, chân lý còn quý hơn"
  • "Vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ, càng nặng rơi càng nhanh."
  • "Tốc độ rơi của một vật phụ thuộc vào mật độ môi trường nơi vật rơi qua, mật độ môi trường càng nhỏ thì tốc độ rơi càng lớn."
"Nếu có lực tác dụng vào vật thì tốc độ chuyển động của vật sẽ tỉ lệ thuận với lực tác dụng."
  • Aristoteles còn cho rằng, chuyển động có thể là "có ý thức" hoặc "vô ý thức". Ông dùng thuật ngữ "nature will" (tạm dịch là "lẽ tự nhiên") để giải thích về nguyên nhân của sự chuyển động: "Mọi chuyển động có ý thức hay vô ý thức của sinh vật hoặc các vật thể đều tuân theo lẽ tự nhiên của chúng."
  • Aristoteles đồng ý với quan điểm của Empedode về 4 nguyên tố đất, lửa, khí, nước. Sau đó đề xuất thêm rằng các thiên thể chuyển động theo đường tròn, trong môi trường gọi là ête (ether).
Một số quan niệm của Aristoteles sau này bị Galileo Galilei đánh đổ ví dụ như " Vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ"

Công việc

Mặc dù ở trong một tiểu quốc đang sôi sục vì những biến cố chính trị, Aristote đã thành công trong việc lập nên một trường học lấy tên là Lyceum. Rất nhiều môn đồ đến xin thụ giáo đến nỗi cần phải đặt ra những phép tắc luật lệ để giữ gìn trật tự. Những môn đồ này tự bầu cử một ủy ban để cai quản các công việc của trường. Họ thường ở lại và ăn uống ngay trong trường, các buổi học thường được tổ chức ngoài đồng trống.

Trước kia Platon cũng đã thành lập một trường lấy tên là Academy chuyên nghiên cứu về toán học và chính trị. Lyceum của Aristote chuyên nghiên cứu về sinh lý học và động vật học. Alexandros ra lệnh cho các nhà săn bắn và chài lưới phải đem nộp cho Aristote tất cả những giống vật mới lạ. Tục truyền có cả thảy một đội quân 1.000 người rải rác khắp Hy Lạp và châu Á để sưu tầm những giống vật mới lạ, Aristote là người đầu tiên đã lập nên vườn bách thảo và sở bách thú trên toàn thế giới.

Ngoài sự ủng hộ của Alexandros, Aristote còn bỏ vào đó một số vốn rất lớn, ông là một người có nhiều tiền của nhờ cưới vợ giàu và có quyền thế, có lần bên nhà vợ đã tặng Aristote một số tiền tương đương với 4 triệu Mỹ kim theo thời giá hiện nay để dùng vào việc nghiên cứu khoa học. Có người cho rằng chính Aristote đã khuyến cáo Alexandros chinh phục Ai Cập với mục đích thám hiểm vùng thượng lưu sông Nile để biết rõ nguyên nhân những trận lụt xảy ra ở Ai Cập. Ngoài ra, Aristote còn sưu tầm 158 bản hiến pháp.

Nhưng những phương tiện nghiên cứu của Aristote vô cùng thô sơ so với những phương tiện nghiên cứu tối tân ngày nay. Ông phải đo lường thời gian mà không có đồng hồ, đo lường nhiệt độ mà không có nhiệt kế, xem thiên văn mà không có kính thiên văn, đoán thời tiết mà không có áp kế. Những phương tiện duy nhất mà Aristote đã sử dụng là một cái thước và một cái la bàn. Sức hút của Trái Đất, hiện tượng phát điện, áp lực không khí, nguyên lý ánh sáng, nhiệt lượng và hầu hết những lý thuyết tân tiến của khoa học hiện đại đều hoàn toàn chưa được phát minh vào thời đó.

Những tác phẩm của Aristote lên đến hàng trăm cuốn. Có người bảo 400 cuốn, có người bảo 1.000 cuốn. Những cuốn còn lại đến nay chỉ là một số nhỏ nhưng cũng có thể lập thành một tủ sách. Trước hết là những tác phẩm về luận lý dạy các cách xếp đặt và phân loại các ý nghĩ. Rồi đến các tác phẩm khoa học như vật lý học, thiên văn học, khí tượng học, vạn vật học, những sách nói về sự phát triển và suy tàn, về linh hồn, về cơ thể sinh vật, về cử động và về sự sinh đẻ. Loại thứ ba là những sách dạy về cách viết văn và làm thơ. Loại thứ tư là những sách về triết lý như đạo đức học, chính trị học và siêu hình học.

Toàn thể các tác phẩm có thể xem là một bộ bách khoa của Hy Lạp nhưng khác với bộ bách khoa của các nước khác ở chỗ chỉ do một người viết ra. Công trình của Aristote xứng đáng được so sánh với công trình của Alexandros. Văn chương của Aristote không bóng bẩy và thi vị như của Platôn, đó là một loại văn chương chính xác và khoa học. Aristote phải đặt thêm nhiều từ ngữ mới để có thể diễn tả tư tưởng. Những từ ngữ Âu Mỹ hiện nay phải mượn ở những tác phẩm của Aristote như faculty, mean, maxim, category, energy, actuality, motive, principle, form.... Những chữ này không khác gì những viên gạch để xây dựng tư tưởng và góp phần rất lớn trong công cuộc phát triển tư tưởng đời sau. Aristote còn viết nhiều tác phẩm văn chương nhưng đến nay đã thất truyền.

Có người cho rằng những tác phẩm của Aristote không phải do chính Aristote soạn thảo mà do các môn đệ soạn thảo sau khi ghi chú các bài giảng của Aristote. Phần lớn những tác phẩm này được xuất bản sau khi Aristote qua đời. Chỉ có một số ít tác phẩm về luận lý và văn chương được xuất bản khi Aristote còn sống. Một số những tác phẩm khác về siêu hình học và chính trị được sưu tầm từ đống giấy tờ do Aristote để lại. Có người cho rằng trong tất cả các tác phẩm và Aristote chúng ta có thể tìm thấy một lối viết văn giống nhau. Điều này chứng tỏ các môn đệ của Aristote thấm nhuần tư tưởng của thầy một cách sâu xa, nếu không phải tự tay Aristote soạn thảo ra các tác phẩm của mình, nhưng các tư tưởng trình bày chắc chắn là của Aristote.

Ảnh hưởng

Sau khi nhà đại hiền triết Aristote qua đời, triết học của ông được giảng dạy tại Trường Lyceum do các môn đệ thuộc nhiều thế hệ sau. Một trong các nhà triết học này là Kritolaos đã qua kinh thành Roma vào năm 155 BC, nhờ đó người La Mã được biết tới nền Triết Học Hy Lạp. Vào năm 50 BC, Andronicus người đảo Rhodes, đã cho ấn hành nhiều tác phẩm của Aristote nhờ đó nhiều học giả đã học tập và phân tích nền Triết học kể trên, đặc biệt tại thành Alexandria.

Sau khi Đế quốc La Mã suy tàn, kiến thức về nền Triết học của Aristote bị hầu như lãng quên, nhất là trong khoảng thời gian từ năm 500 tới thế kỷ thứ 9. Sang thế kỷ 9 này, các học giả người Ả Rập đã dịch các tác phẩm của Aristote sang ngôn ngữ của họ và đưa chúng vào thế giới Hồi giáo. Nhà triết học người Tây Ban Nha gốc Ả Rập tên là Averroes vào thế kỷ 12 là học giả danh tiếng nhất, ông đã nghiên cứu và nhận xét về Aristote. Qua thế kỷ 13, các tác phẩm của Aristote lại được các học giả Kitô giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo quan tâm, Thánh Thomas Aquinas, là một trong các nhà triết học gây ảnh hưởng lớn mạnh nhất, đã dùng nền Triết Học của Aristote làm căn bản cho các tư tưởng Thiên Chúa giáo thời đó. Dante Alighieri, nhà thơ bậc nhất của thời Trung Cổ, đã gọi Aristote là "Bậc Thầy của những người hiểu biết".

Lý thuyết về ngành động vật học của Aristote đã không thay đổi và được giảng dạy tại tất cả các trường học trong nhiều thế kỷ cho tới khi nhà khoa học người Anh, Charles Darwin, đề cập tới Thuyết tiến hóa vào thế kỷ 19. Học thuyết của Aristote cũng giữ một vai trò quan trọng trong bộ môn Thần học và trước thế kỷ 20, môn Luận Lý được coi là của Aristote.

Vinh danh

Núi Aristote, nằm trên bờ biển Oscar II thuộc đất Graham, Châu Nam Cực được đặt tên theo tên của Aristote.

Nguồn:

- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

8664140219






Sunday, February 17, 2019

Platon



Platon tiếng Hy Lạp: Πλάτων có nghĩa là Vai Rộng ( 427-347 BC), là một nhà triết học Hy Lạp cổ đại, được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều người coi ông là triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại cùng với thầy của ông là Socrates.

Platon (427-347 BC)

Cuộc đời.

Thời gian và nơi sinh của Platon thì không được biết rõ nhưng chắc chắn một điều là ông sinh ra trong một gia đình quý tộc và có ảnh hưởng. Theo nhiều nguồn tài liệu cổ, hầu hết các học giả hiện đại tin rằng ông sinh ra ở Athen hoặc Aegina, nằm trên đảo Saronic, trong vịnh Saronic cách Athens 27 cây số, trong khoảng năm 429 và 423 BC Cha ông là Ariston. 


Theo truyền thống còn tranh cãi, như Diogenes Laertius cho biết, Ariston có gốc gác từ vua Athena, Codrus, và vua của Messenia, Melanthus. Mẹ của Platon là Perictione, gia đình bà ta có quan hệ rộng rãi với những nhà làm luật Athen nổi tiếng và nhà thơ trữ tình Solon. Perictione là chị của Charmides và là cháu gái của Critias, cả hai nhân vật nổi tiếng của ba mươi bạo chúa cùng với sự sụp đổ của Athen vào cuối chiến tranh Peloponnesian (404–403 BC). Ariston và Perictione ngo ài Platon còn có ba người con khác, gồm hai trai là Adeimantus và Glaucon, và một gái Potone, là mẹ của Speusippus, cháu trai và là người kế nhiệm Platon đứng đầu học việc Triết học của ông. Theo sách Cộng hòa của Platon, Adeimantus và Glaucon là 2 anh trai vì họ lớn tuổi hơn Platon.

Triết học Platon

Platon là nhà triết học duy tâm khách quan. Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platon là học thuyết về ý niệm. Trong học thuyết này ông đưa ra hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm. Trong đó thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý niệm là thế giới phi cảm tính phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Nhận thức của con người không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan mà là nhận thức về ý niệm. Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết. 

Từ quan niệm trên Platon đã đưa ra khái niệm "tồn tại" và "không tồn tại". "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất. Còn "không tồn tại" là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất.

Về mặt nhận thức luận Platon cũng mang tính duy tâm. Theo ông tri thức là cái có trước các sự vật chứ không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó. Nhận thức con người không phản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ. 

Theo Platon tri thức được phân làm hai loại: Tri thức hoàn toàn đúng đắn và tri thức mờ nhạt. Loại thứ nhất là tri thức ý niệm có được nhờ hồi tưởng. Loại thứ hai là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, lẫn lộn đúng sai không có chân lý.

Về xã hội, Platon đưa ra quan niệm về nhà nước lý tưởng trong đó sự tồn tại và phát triển của nhà nước lý tưởng dựa trên sự phát triển của sản xuất vật chất, sự phân công hài hoà các ngành nghề và giải quyết các mâu thuẫn xã hội.

Câu nói nổi tiếng của Platon là: “Tự chinh phục mình là chiến công vĩ đại nhất.”

Những môn đệ của Platon

Trong số những người môn đệ của ông, người nổi tiếng nhất là Aristoteles. Ngoài ra, sau này có Plotinus, một triết học gia người Ai Cập, mang tên La Mã, có thể được coi là một triết gia Hy Lạp vĩ đại cuối cùng, cũng là một người chịu ảnh hưởng của Platon. Tư tưởng của Plotinus phát triển khuynh hướng thần bí của Platon, và sau đó được biết tới như học thuyết Tân Platon. 


8664120219